DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Giả Thuyết Poincare - Cuộc Tìm Kiếm Hình Dạng Vũ Trụ

Tác giả Donal O’Shea
Bộ sách
Thể loại Toán Học
Tình trạng Hoàn Thành
Định dạng eBook mobi pdf epub azw3
Lượt xem 358
Từ khóa eBook mobi pdf epub azw3 full Donal O'Shea Nguyễn Lương Quang Vũ Khuê Tâm Phạm Cao Tùng Toán Học Vũ Trụ Tham Khảo
Nguồn tve-4u.org
tiki-khong-lo-covid

Cuốn sách này chỉ bàn về một bài toán duy nhất. Nó được đưa ra bởi nhà toán học kì tài người Pháp Henri Poincaré hơn một trăm năm trước, và kể từ đó đã cuốn hút cũng như làm phật lòng nhiều nhà toán học. Nó chỉ vừa mới được giải quyết. Đối tượng mà giả thuyết Poincaré hướng đến là trung tâm của tri kiến về chính bản thân chúng ta và về vũ trụ mà chúng ta đang sống.

Tôi viết cuốn sách này cho những ai hiếu kì nhưng chỉ còn nhớ rất ít hình học phổ thông, mặc dù tôi cũng hi vọng những người có nền tảng toán học đáng kể sẽ thích nó. Đối với những ai có nhu cầu tìm hiểu thêm thì đã có các phụ chú cuối sách.

Tới bất kì buổi họp mặt nào, ngồi cạnh bất cứ ai trên máy bay, lắng nghe những gì họ nói về toán học: Một vài người yêu thích. Nhưng phần lớn là không, và họ không dành những lời tốt đẹp cho toán. Một số tin rằng mình sinh ra đã không thể làm chủ toán học. Số khác không thích. Nhiều người ghét cay ghét đắng nó, với tình cảm thường chỉ dành cho một cuộc tình đã tan vỡ.

Làm thế nào mà một chủ đề tràn đầy cái đẹp lại làm dấy lên một loạt các phản ứng tiêu cực đến vậy? Sự chán ghét của một vài người dường như bắt nguồn từ nỗi sợ hãi. Tôi không ảo tưởng rằng một cuốn sách sẽ thay đổi điều này. Nhưng nếu bạn là một người đọc với những cảm xúc chưa rõ ràng về toán học, tôi hi vọng cuốn sách này sẽ truyền cảm hứng để thúc giục bạn đọc thêm những cuốn sách về toán học khác, hoặc, nếu bạn là một sinh viên hay một người đang có ý định học thêm, xem xét việc học thêm một vài ngành toán.

Tôi hi vọng rằng bạn sẽ thích thú khi đọc cuốn sách này cũng như tôi đã thích thú khi viết nó.

***

Donal O’Shea là Trưởng khoa và Hiệu phó học vụ tại trường Mount Holyoke College, đồng thời là giáo sư giảng dạy môn Toán tại đây. Là một nhà hình học đại số, ông đã viết nhiều sách và tài liệu chuyên môn, các bài báo nghiên cứu của ông có mặt ở nhiều tạp chí và kỉ yếu. O’Shea là thành viên của Hội Toán học Mĩ, Liên hiệp hội Toán học Mĩ và các hội Toán học ở Canada, London và Pháp. Ông cũng là thành viên của Ủy ban trao giải thưởng Thiên niên kỉ đầu tiên cho Grigory Perelman về công trình tìm ra đáp án cho phỏng đoán Poincaré.

***

HENRI POINCARÉ

MỘT CUỘC ĐỜI PHỤNG SỰ KHOA HỌC

Năm 1954, cộng đồng khoa học thế giới kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Jules Henri Poincaré. Ở thời điểm đó, tên tuổi của Poincaré chưa thực sự đạt đến đỉnh cao trong giới toán học, và lúc này, tinh thần của Hilbert đang thống trị hầu khắp tâm trí các nhà toán học. Cả trong lĩnh vực vật lí học, tên tuổi của Poincaré vẫn chưa có gì nổi trội.

Năm 2012, chúng ta kỉ niệm 100 năm ngày mất của Poincaré, danh tiếng của ông đã đạt được những đỉnh cao mới trong giới khoa học và trong công chúng. Là một nhà toán học, một nhà vật lí lí thuyết, một triết gia, ông có tầm hiểu biết cũng như tầm ảnh hưởng sâu rộng lên nhiều tính vực khoa học. Trong lời giới thiệu ngắn gọn này, chúng tôi muốn gửi đến quý độc giả chân dung của ông - một con người suốt đời cống hiến cho khoa học.

 

1. Cuộc đời và sự nghiệp

Henri Poincaré sinh ngày 29 tháng 4 năm 1854 tại Nancy trong một gia đình danh tiếng vùng Lorraine. Ông nội Jacques-Nicolas là một dược sĩ; bố Léon, một nhà tâm thần học, là Giáo sư Y khoa, Đại học Nancy; chú Antoni (bố của Raymond Poincaré - Tổng thống Pháp giai đoạn 1913-1930), tốt nghiệp Đại học Bách khoa (École Polytechnique), là Tổng thanh tra cầu đường. Còn cô em gái Aline thì kết hôn với triết gia nổi tiếng Emile Boutroux. Từ nhỏ, Poincaré được các thầy dạy tại nhà. Năm 1862, ông học tại Lycée ở Nancy (bây giờ được đổi tên thành Lycée Henri Poincaré để tưởng niệm ông, thuộc trường Đại học Nancy) và nhanh chóng trở thành học sinh giỏi nhất, một “quái vật toán học”. Sau khi tốt nghiệp tú tài về văn chương và khoa học (1871), ông học thi hai năm và thi đỗ trong kì thi quốc gia vào “Trường Lớn”. Là một trong năm sinh viên đỗ đầu vào cao nhất của École Normale Supérieure, và là thủ khoa của École Polytechnique, ông đã lựa chọn ngôi trường thứ hai. Tại đây, ông học toán dưới sự hướng dẫn của Charles Hermite, tiếp tục phát triển tài năng toán học của mình và viết bài báo đầu tiên (Demonstration nouvelle des propriétés de l’indicatrice d’une surface) vào năm 1874. Sau đó, ông vào Trường Mỏ, nơi đã truyền cảm hứng về tinh thể học và lí thuyết nhóm cho toán học của ông sau nay. Poincaré nhận bằng dip-lôm về toán học tại Khoa Khoa học vào tháng 8 năm 1876. Trong hai năm cuối tại Trường Mỏ, Poincaré đã viết luận án Tiến sĩ về toán học dưới sự hướng dẫn của Charles Hermite. Luận án của ông về lĩnh vực phương trình vi phân, dưới tiêu đề Sur les propriétés des fonctions definies par les equations differences (Về các tính chất của các hàm số xác định bằng phương trình vi phân). Poincaré đã đưa ra một hướng mới trong việc nghiên cứu tính chất của các phương trình này. Ông không chỉ đối mặt với vấn đề xác định tính khả tích của các phương trình vi phân, mà còn là người đầu tiên nghiên cứu các tính chất hình học tổng quát của chúng. Ông nhận ra chúng có thể được sử dụng để mô hình hóa tương tác giữa các vật thể chuyển động trong Hệ Mặt Trời. Luận án đã mở rộng một số kết quả cổ điển của Briot và Bouquet về các phương trình vi phân thường đơn lẻ thành các phương trình vi phân riêng phần. Và ông bảo vệ thành công vào ngày 1 tháng 8 năm 1879, tại Khoa Khoa học trước một hội đồng gồm Bonnet, Bouquet và Darboux.

Sau một thời gian ngắn làm việc trong ngành Mỏ, năm 1979, Poincaré được nhận vào Đại học Caen, Khoa Khoa học với vị trí là trợ giảng toán học, dạy môn giải tích. Nhưng ông cũng không từ bỏ hoàn toàn nghề mỏ. Ông làm kĩ sư tại Bộ Dịch vụ công cộng với nhiệm vụ là phát triển tuyến đường sắt miền Bắc từ năm 1881 đến 1885. Sau đó ông trở thành Kĩ sư trưởng tại Corps de Mines vào năm 1893 và Tổng thanh tra năm 1910. Đầu năm 1881 cho đến cuối sự nghiệp của mình, ông dạy tại Đại học Paris-Sorbonne. Ông liên tiếp được bổ nhiệm làm giảng viên vật lí cơ học và vật lí thực nghiệm vào năm 1885, Giáo sư Toán học vật lí và xác suất vào năm 1886, và Giáo sư Thiên văn học toán học và cơ học thiên thể vào năm 1896. Ông cũng dạy thiên văn học tại Ecole Polytechnique và điện lí thuyết tại Trường Bưu chính. Ông là thành viên Nha Kinh độ (từ năm 1989). Vào năm 1887, ở tuổi 32, Poincaré được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Pháp (Académie des sciences) và trở thành Chủ tịch năm 1906. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp (Académie trancaise) vào năm 1909.

Henri Poincaré là hình ảnh tiêu biểu về sự thành đạt trí tuê và xã hội của thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20. Ông cũng là nhà bác học “xuyên ngành” cuối cùng: như một triết gia về phương pháp luận, ông là tác giả của những công trình kinh điển về nền tảng phương pháp khoa học, về cơ cấu não trạng của quá trình khám phá; ở vai trò nhà vật lí, ngày nay, ông được coi là đồng tác giả của thuyết tương đối hẹp; với tư cách nhà toán học, bên cạnh David Hilbert, ông được coi là nhà toán học vĩ đại nhất, đồng thời là “bậc thầy phổ quát cuối cùng”, bao trùm đại số học lẫn hình học, lí thuyết số và hình học. Chính ông, trong một công trình năm 1895, đã sáng lập ra một ngành mới của hình học mà ông đặt tên là “analysis situs”, ngày nay gọi là topo học. Poincaré có hai nghiên cứu sinh tiêu biểu tại Đại học Paris là Louis Bachelier (1870-1946, lí thuyết ức đoán, đóng góp cho toán tài chính) và Dimitrie Pompeiu (1873-1954, tác giả của bài toán Pompeiu).

Ngày 17 tháng 7 năm 1912, ông mất sau một cuộc phẫu thuật không thành công tại Paris, thọ 58 tuổi. Ông được chôn cất tại hầm mộ của gia đình ở nghĩa trang Montparnasse, Paris. Vào năm 2004, Claude Allègre - cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục Pháp - đã đề nghị Poincaré được chôn cất tại Điện Panthéon ở Paris, nơi an nghỉ của những người có cống hiến lớn cho nước Pháp.

 

2. Giả thuyết Poincaré

Giả thuyết Poincaré là một trong những giả thuyết toán học nổi tiếng và quan trọng bậc nhất, là một trong những thách thức lớn nhất của toán học thế kỉ 20 do Jules Henri Poincaré đưa ra năm 1904. Giả thuyết Poincaré từng làm nhiều bộ óc toán học thế giới của thế kỉ 20 phát sốt và biết bao chứng minh sai (cũng như những “chứng minh” không được chú ý đến) đã từng được đưa ra. Học viện Toán học Clay đã xếp nó vào một trong bảy bài toán khó của thiên niên kỷ chưa giải được để thách đố thế kỉ 21 với giải thưởng lên đến 1 triệu USD. Bài toán này được Grigori Perelman chứng minh vào năm 2002, 2003. Trong 100 năm tồn tại, nó trực tiếp và gián tiếp đem về bốn Huy chương Fields cho Smale (1966), Thurston (1982), Freedman (1986) và Perelman (2006).

Nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày mất của Henri Poincaré, Nhà xuất bản Tri thức trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách Giả thuyết Poincaré - Cuộc tìm kiếm hình dạng vũ trụ, tác giả Donal O’Shea, do Nguyễn Lương Quang, Vũ Khuê Tâm và Phạm Cao Tùng dịch. Cuốn sách được xuất bản với sự hỗ trợ của Viện Poincaré (Pháp). Giả thuyết Poincaré - Cuộc tìm kiếm hình dạng vũ trụ nói về một bài toán duy nhất như đúng tựa đề; cuộc hành trình 100 năm của nó bắt đầu từ năm 2003, khi được Perelman chứng minh rồi trở về với nguồn cội toán học, triết học của nó khi con người bắt đầu tò mò về vũ trụ và từ đó theo thời gian tuyến tính qua những băn khoăn của chính Poincaré đến những bộ óc vĩ đại khác. Là một cuộc dạo chơi qua các trí tuệ lớn và của các trí tuệ lớn, Giả thuyết Poincaré - Cuộc tìm kiếm hình dạng vũ trụ có thể giúp độc giả chuyên ngành toán học hay độc giả phổ thông tìm thấy nhiều điều thú vị.

Xin trân trọng giới thiệu!

Tháng 7/2012

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC


Mời các bạn đón đọc Giả Thuyết Poincare - Cuộc Tìm Kiếm Hình Dạng Vũ Trụ của tác giả Donal O'Shea & Nguyễn Lương Quang & Vũ Khuê Tâm & Phạm Cao Tùng (dịch).
bizbooks

.
Xem nhiều nhất
tiki-top-sach-nen-tang-nhat-dinh-phai-doc
hỗ trợ trực tuyến
Mr. Nam
0966.554.875
dtvebook@gmail.com
dtv-ebook
tiki-10-sach-tu-duy-nen-doc
thi-tran-buon-tenh
Giá bìa 99.000   

Giá bán

69.000 

Giá bìa 99.000   

Giá bán

69.000