DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
 
Chương 18 END

Chương 18: Vĩnh Biệt Thượng Hải

Sau khi nộp đơn xin cấp giấy thông hành xuất ngoại được vài ngày, tôi nhận được một thư mời của "Phòng trả lại những đồ đạc bị tước đoạt". Tôi nghĩ đây chắc hẳn là một cơ quan của chính quyền. Vợ chồng mụ Chu cũng nhận được một thư mời tương tự. Mụ được trả lại một ít đồ nữ trang, còn ông chồng thì được bảo đến một cái nhà kho và tìm trong cái đống đồ bụi bặm tìm lại những cuốn sách của ông ta. Bị vứt lung tung trong một cái phòng ẩm thấp thiếu không khí gần chục năm trời, sách vở bị mốc, bị mục mất cả. Cầm lên cuốn nào, cuốn nấy rời rã, tơi tả và bốc mùi hôi hám. Ông ta tay không trở lại văn phòng và đồng ý ký vào biên bản thôi không đòi lại tài sản bị tước đoạt. Mụ Chu cũng ký vào tờ biên lai đã nhận lại các nữ trang. Biên lai ấy ghi: "Ba cái nhẫn, một cái trâm…" mà không nêu chi tiết từng món. Mụ hỏi người phụ trách về những hạt ngọc và kim cương đính trên những món ấy đâu thì ông ta yêu cầu mụ xuất trình bằng chứng là có những cái đó trên những món đồ ấy khi Vệ binh đỏ cướp phá nhà mụ. Thế là…hòa!
Có thể là khi những món ấy bị tước đoạt từ những khổ chủ và đem về đây đã không được lưu trữ đúng cách. Trong suốt quá trình mười năm trời, nhiều bàn tay nham nhúa đã "sờ mó" vào. Bây giờ nhà nước ra sắc lệnh trao hoàn các món đồ ấy cho các chủ sở hữu thì chính quyền cũng phải có một màn trình diễn trao hoàn này nọ. Bởi vậy, văn phòng này được lập ra và chúng tôi được mời tới. Khi đã có đủ số biên nhận những món đồ vô giá trị này và những tờ cam kết thôi không đòi lại tài sản bị tước đoạt cho các chủ sở hữu hợp pháp được coi như đã "hoàn thành thắng lợi".
Tôi chẳng hi vọng lấy lại được món gì có giá trị nên cũng chẳng mấy quan tâm đến giấy mời của văn phòng này. Tuy nhiên, vào đúng ngày giờ hẹn trong thư, tôi cũng đến. Tôi được một nữ viên chức hỏi tôi có muốn đến kho chứa để xem sách vở và những thứ khác không, tôi đáp:
- Tôi chắc là sách vở của tôi bị đốt hết rồi còn đâu. Còn những thứ khác nếu có còn thì cũng chẳng đáng bao nhiêu, và tôi cũng chẳng muốn lấy lại. Tôi sẵn lòng ký biên bản đã nhận lại đủ.
- Ấy, tôi có tin mừng cho bà, người nữ viên chức ấy nhấn mạnh vào chữ "tin mừng" và chữ "bà".
Sau khi lục lọi trong các kệ, cô ta lôi ra một tờ giấy và nói với tôi:
- Có vài món đồ sứ của bà được để ở đây vì những món ấy được để trong hộp có viết tên của bà. Những món này trước cũng vứt ở trong kho kia kìa, tuy nhiên, Viện Bảo Tàng Thượng Hải có ý định thương lượng với bà về vài món. Những món ấy thì hiện đang đưọc lưu trữ ở Viện. Khoảng chừng 15 món. Còn những món khác thì bà cầm tờ giấy này xuống kho đưa cho người coi kho, họ sẽ lấy đưa cho bà.
Cô ta đưa cho tôi một tài liệu ghi rõ tôi là chủ sở hữu những món đồ sứ đựng trong hộp mang tên tôi. Tôi hỏi cô ta:
- Thế còn những món tôi trưng bày trong nhà lúc Vệ binh đỏ đến cướp phá chứ không để trong hộp thì sao hả cô?
- Nếu nó không có những chi tiết cụ thể thì thật là khó mà tìm lắm, thưa bà!
- Thế còn bộ sưu tập các món bạch ngọc thì sao hả cô?
- Những món thuộc về đá quí hay cái gì tương tự thì để ở chỗ các đồ trang sức chúng tôi cũng đang cố gắng xem chúng được ném vào đâu!
Cô ta nói, xem chừng hơi bực. Tôi nghĩ có lẽ cô ta bực vì tôi đã nhắc đến những cái đó. Chắc cô ta nghĩ rằng tôi lấy lại được bấy nhiêu đó đã là quá ư may mắn rồi, vậy mà còn chưa thỏa mãn. Tôi giải thích:
- Sở dĩ tôi nhắc đến mấy cái đó vì những đồ đó cũng được để trong hộp và có ghi tên như mấy món đồ sứ vậy, cô ạ!
- Thì bây giờ bà hãy cứ biết là đã tìm lại được mấy món đồ sứ đi đã.
- Cám ơn cô rất nhiều vì đã cất dùm mấy món đồ sứ. Giữ được, cất được mấy món đó cũng đã may lắm rồi! Tôi nói vuốt ve cô như vậy.
- Thưa bà, ấy cũng là nhờ có sự giúp đỡ của Viện Bảo tàng Thượng Hải. Họ muốn được tiếp xúc với bà về khoảng 15 món. Chỉ bấy nhiêu còn cứu được của tôi cũng đã làm cho tôi tràn ngập vui mừng. Tôi nhắn Phùng để nhờ anh ta đem về giùm. Cuộc đấu tranh của tôi với bọn Vệ binh đỏ khi chúng đến cướp phá nhà tôi để bảo vệ những món đồ sứ quí báu xem chừng không đến nỗi vô ích.
Vài ngày sau, Phùng lại chở tôi trên cái xe chở công nhân của công ty điện lực để tới một cái hầm nhà kho nằm ở phía cuối thành phố. Sau khi trình giấy tờ cho bảo vệ và người thủ kho, chúng tôi được phép đi vào trong hầm nhà kho tối mò. Người thủ kho bảo chúng tôi đứng đợi bên cạnh chiếc bàn phủ đầy bụi, dưới một ngọn đèn vàng vọt yếu ớt. Ở đó cũng đã có nhiều người khác đang đứng đợi. Chúng tôi nôn nao chờ đợi và cứ nhúc nhích hoài không yên được vì chỗ đó ngạt thở quá.
Khi những món đồ được đem ra và đặt lên bàn, chúng tôi được yêu cầu nói những chi tiết về những món đồ của mình. Lỉnh kỉnh đủ thứ: nào cuộn tranh, nào quạt, nào hộp đủ cỡ và những món bên trong được cột lại bằng dây. Món nào cũng bị phủ một lớp bụi dày đặc biệt. Đó là lớp bụi than, "phó sản công nghiệp" của thành phố Thượng Hải. Một người đàn ông thở dài một cái và ông ta thốt lên một tiếng than ngẹn ngào. Khi ông ta cầm cây quạt giấy lên thì thấy giấy trên cái quạt ấy - Vốn là một bức họa của một đại danh hoạ triều Minh - đã bị rã nát vì ẩm mốc. Người đàn bà đứng bên cạnh - có lẽ là vợ ông ta nói "vứt quách cái đồ vô giá trị ấy đi!" nhưng ông ta vẫn rút khăn tay ra cẩn thận và âu yếm bọc lấy cái quạt ấy đem về nhà.
Trở về, Phùng đã khuân mấy cái thùng, cái hộp ấy lên lầu và đưa vào phòng tôi rồi mới ra về. Mùi hôi của những cái thùng cái hộp ấy tỏa ra sặc sụa. Tôi mở từng hộp, từng thùng và lấy ra từng món rồi liệng thùng và hộp ấy ra ngoài hành lang. Tôi thấy có mấy cái bình, tô, lọ, đĩa đã bị sứt mẻ, bị rạn vỡ. Có vài cái bị bể và đã được dán lại. Tất cả đều được đánh số hoặc làm dấu trên nước men sáng loáng. Trên cái đĩa lớn màu ngọc bích đời Minh, một tay nào đó bày tỏ nỗi căm hận của mình đối với bọn nhà giàu bằng cách viết lên đó những chữ đại ý là chủ nhân bộ sưu tập này là "đĩa hút máu". Tôi tiếc đứt ruột khi thấy những món đồ sứ đẹp đẽ quí báu đó bị mờ xấu đi vì bị viết, vẽ lên một cách bậy bạ như vậy. Nhưng tôi cũng biết rằng những món ấy có lẽ đã bị Vệ binh đỏ đập nát ra nếu đã không có người nào đó nói để chúng đưa vào cất trong kho.
Tôi đổ đầy một thau nước ấm, pha vào đó một chút xà bông bột, lót khăn dưới đáy chậu rồi thả từng món đồ vào ngâm trong đó. Trong nước ấm những vết cáu bẩn, vết phẩm... bị tróc ra, sau đó tôi lau rửa nhẹ nhàng từng món. Sau khi lau rửa xong, tôi bày tất cả trên tấm giấy trải trên sàn nhà. Làm xong bấy nhiêu việc thế mà cũng đến nửa đêm. Tôi nhận thấy là có đến gần một nửa số sưu tập của tôi vẫn còn nguyên vẹn kể cả bức tượng Đức Phật Quan Âm tuy có dính vết mực đen nhưng hãy còn lành không bị rạn nứt. Được rửa ráy sạch sẽ, những món đồ sứ ấy cũng bóng ngời và đẹp như bao giờ. Tôi đặt lên bàn giấy và ngồi im lặng ngắm nhìn từng món. Cứ như thể được gặp lại người bạn già lâu ngày xa cách.
Tôi dò lại danh sách những món mà Viện Bảo tàng muốn thương lượng và thấy danh sách ấy gồm những gì còn lại của bộ Tuyên Đức màu xanh trứng sáo cũng như cái bình Vĩnh Khánh màu xanh trái táo là cái mà tôi đặc biệt thích. Cái bình ấy có con thằn lằn đắp nổi khéo đến nỗi nom linh động như thể con thằn lằn sắp sửa trườn ra khỏi cái bình để chạy đi mất.
Tôi nên nhượng lại tất cả 15 món cho Viện bảo tàng hay nên từ chối? Trước khi xảy ra cuộc Cách mạng Văn hóa, khi viết chúc ngôn, tôi đã bàn với con gái tôi về các bộ sưu tập này. Con gái tôi gợi ý là nên tặng bộ sưu tập của tôi cho Viện Bảo tàng Thượng Hải. Cái chết của nó và sự coi rẻ các di sản văn hóa được biểu lộ trong cuộc Cách mạng Văn hóa đã khiến cho tôi hết muốn tặng bộ sưu tập cho Viện Bảo tàng mà tôi cho cũng chỉ là một thứ cơ quan bị lệ thuộc một cách quá đáng và không cần thiết vào các áp lực chính trị hơn là một cơ quan lấy sự bảo tồn văn hóa làm mục đích tối thượng. Tuy nhiên, tôi quyết định rời khỏi Trung Hoa. Và không một bộ sưu tập nào của tôi có thể được phép xuất ngoại theo tôi. Số phận của những bộ sưu tập này sẽ ra sao nếu một khi tôi rời khỏi nước nhà mà chúng không được đưa vào Viện Bảo tàng. Bởi vậy tôi quyết định chẳng thà tặng nó cho viện còn hơn là chấp nhận một cái giá do những quan chức chẳng biết quái gì về giá trị thực sự của những món ấy định đặt một cách độc đoán. Tuy nhiên, theo ý tôi, làm như vậy tôi vẫn được một cái gì đó mà khỏi cần thương lượng. Tất cả những cái giá đựng những món này đều đã mất cả. Nếu tôi muốn ngắm nghía thưởng thức những món này từ nay cho đến ngày rời khỏi Thượng Hải, tôi phải bày chúng trên giá thì nhìn ngắm mới khoái. Thế thì tôi sẽ yêu cầu Viện Bảo tàng làm cho tôi những cái giá đó để đổi lại những món mà tôi đã tặng. Tất nhiên, sự trao đổi như thế là không cân bằng rồi. Nhưng, tôi cần những cái không tài nào kiếm đâu ra được.
Viện Bảo tàng gửi giấy mời tôi đến để trao đổi ý kiến. Và tôi đã đến. Những nhân viên Viện Bảo tàng đã tiếp đón tôi một cách rất lịch sự. Họ đem ra cho tôi coi mười lăm món mà họ muốn thương lượng (họ đã giữ trước ở đó). Tất cả đều được lau chùi sạch sẽ, bóng loáng và được đặt trong những cái hộp lót sa tanh bóng ngời và để cho tôi xem lại từng món. Sau đó, họ nói chuyện với tôi về những món đó và họ tỏ ra là những tay rất sành sỏi về đồ cổ. Họ nêu từng chi tiết nhỏ về đặc điểm, màu sắc, dấu hiệu, niên đại, lò chế tạo… Và nói đến đâu, lật chỉ cho tôi coi đến đó, khi họ cho rằng những kiểu cách lịch sự cũng như sự hiểu biết thấu đáo của họ đủ để chứng tỏ cho tôi thấy họ cũng là những con người có văn hóa, nói năng cũng như xử sự "coi được", lúc đó họ mới bắt tay vào việc thương lượng. Một người - dường như là "xếp" của mấy người kia - nói với tôi:
- Viện phải làm việc trong điều kiện ngân sách cực kỳ co hẹp. Chúng tôi phải rất cân nhắc trong khi quyết định những món mà chúng tôi muốn thương lượng. Bà có nhiều bộ sưu tập cực kỳ quí giá và đẹp nhưng trong tình hình hiện nay, chúng tôi chỉ dám xin bà nhượng lại cho Viện chúng tôi mười lăm món này thôi.
- Dạ, vâng, dĩ nhiên! Chắc chắn là được thôi. Các vị có thể nhận được đủ 15 món quà mà các vị đã lựa. Để cho các khách đến viếng Viện cũng được thưởng thức những món đó thì hơn là để trên giá trên kệ trong nhà tôi, cho một mình tôi, hay cùng lắm là vài thân hữu của tôi thưởng thức.
Tất cả mấy người đó mặt mày sáng rỡ và ông "xếp" gật gật đầu tỏ dấu đồng ý. Tôi nói thêm:
- Tôi biếu không tất cả 15 món đó cho Viện nếu các vị chấp thuận những điều kiện của tôi.
- Xin bà cho biết chúng tôi phải làm gì?, ông "xếp" hỏi.
- Không có gì khó khăn cho Viện đâu - tôi vội trấn an họ - ở nhà tôi cũng còn một ít đồ cổ tôi mới nhận về. Tôi muốn được ngắm nghía thưởng thức nhưng tiếc là không có giá, có kệ để trưng. Phiền các ông cho thợ mộc của viện đến đóng dùm tôi mấy cái giá kệ đó. Tất nhiên, tôi xin trả tiền công thợ và tiền gỗ.
Họ nhìn nhau, ngạc nhiên về các điều kiện của tôi và rồi cùng nhau cười lên vui vẻ. Ông "xếp" nói:
- Tưởng gì, thế mà bà làm chúng tôi hết hồn. Dễ thôi. Chúng tôi sẽ cho thợ mộc đến nhà bà để đo kích thước các thứ bà muốn. Bà cần bao nhiêu cái giá như vậy? Bà cần mỗi món một cái giá chứ?
- Không, dĩ nhiên là tôi chẳng dám đòi các ông làm nhiều giá đến như vậy đâu. Tôi cho là chỉ chừng mười đến mười hai cái là đủ.
- Vâng thế thì được thôi! Ông ta hể hả hứa.
- Còn về cái việc bà tặng không cho Viện 15 món kia - một ông khác trong đám nói - xin bà vui lòng cho chúng tôi một chứng thư xác nhận, được không ạ?
- Vâng cái đó có gì khó đâu, chắc chắn là được. Khi nào ông thợ mộc tới thì tôi sẽ trao cho ông ta cầm về cho các ông. Ngày mai ông ta tới được không ạ?
- Tôi sẽ đi gọi thợ mộc ngay bây giờ và bà có thể bàn với ông ta về các vật liệu, ông ta nói như vậy và rời khỏi phòng.
Lát sau ông ta trở lại, có thợ mộc đi theo. Ông già thợ mộc có vẻ không khoái gì lắm khi phải làm một công việc "ngoại lệ" như vậy. Ông ta lầm bầm:
- Tôi còn biết bao nhiêu là việc phải làm đây này!
- Có lẽ là chẳng nên bắt ông già này phải làm công việc "ngoại lệ" như vậy cho tôi trong giờ làm việc như thế này. Làm vậy thì trở ngại những công việc của ông ta tại Viện. Sao không để cho ông làm cho tôi vào lúc ngoài giờ đó. Tiền nong công sá tôi sẽ tính toán với ông ta? Tôi nói với ông "xếp" như vậy.
- Bà đừng làm vậy! ông "xếp" nói có vẻ hơi gay gắt. Có lẽ ông ta bực mình với ông lão thợ mộc. Nhưng rõ ràng là ông yêu cầu ông thợ mộc như vậy là không đúng. Nhưng, quyết định để tôi có những cái giá đựng đồ cổ nên ông ta đã bảo ông thợ mộc tạm dẹp các ông việc đang làm ở Viện Bảo tàng. Chúng tôi thu xếp để ông thợ mộc có thể đến nhà tôi vào ngày hôm sau để đo kích thước các món đồ cổ để làm giá.
- Tuần sau chúng tôi tổ chức một cuộc triển lãm những món đồ cổ mà chúng tôi nhận được hoặc có. Những thân hữu của Viện có đồ được trưng bày trong cuộc triển lãm này được mời để quan sát trước và sau đó là có tiệc khoản đãi. Chúng tôi rất hân hạnh được đón tiếp bà, ông "xếp" vừa trao cho tôi tấm thiệp mời in chữ kim nhũ, tên của tôi đã được viết sẵn trên thiệp đó. Vậy thì trước đó, rõ ràng là họ đã chắc chắn là họ sẽ có được những món quà mà Viện đề nghị. Dĩ nhiên, là một cơ quan nhà nước nên đề nghị thương lượng thật ra chỉ là một cách khéo léo lịch thiệp ra lệnh phải bán. Tuy nhiên, như lời một viên chức của Viện đã nói với tôi với một vẻ vừa có vẻ lấy làm tiếc vừa có vẻ bực bội là cũng có một vị bác sĩ không chịu nhượng lại cho Viện những món đồ cổ của ông ta theo sự đề nghị của Viện.
Cuộc triển lãm đặc biệt được tổ chức tại đại sảnh đường của Viện bảo tàng Thượng Hải. Luẩn quẩn loanh quanh trong các giá, kệ trưng bày các món đồ cổ do các tư nhân tặng, có các quan chức cao cấp của thành phố cùng với các bà vợ của họ. Họ đều được các nhân viên thành thạo của Viện đi theo để giải thích, mỗi món đều có tấm biển mô tả, giải thích và tên của người tặng. Trong số mười lăm món đồ cổ tôi tặng cho Viện thì chỉ có bốn món được đem trưng bày. Nhân viên ban tổ chức cho tôi biết là vì thiếu chỗ nên chỉ trưng bày những món tiêu biểu của mỗi nhà sưu tập mà thôi.
Quan chức cao cấp nhất có mặt trong cuộc triển lãm ấy là ông phó chủ tịch Ủy ban cách mạng thành phố Trương Khánh Tôn kiêm giám đốc Ban quản lý và Kiểm tra Di sản văn hóa của thành phố. Bao quanh ông ta là một đám đông các quan chức, chuyên viên của Viện bảo tàng để sẵn sàng trả lời những câu hỏi của ông ta. Sau khi đã xem triển lãm xong, chúng tôi được mời vào trong một đại sảnh khác đã kê ghế sẵn. Phó chủ tịch Trương ngỏ lời ca ngợi lòng ái quốc của những người sưu tập đã góp phần vào việc sưu tập của Viện bảo tàng. Đặc biệt, ông ta ca ngợi một cặp vợ chồng trẻ đã từ bên Hoa Kỳ về và đại diện cho ông nội của họ đã "bỏ mình" trong cuộc Cách mạng Văn hóa để dự cuộc triển lãm này và bản thân họ không ngờ là bộ sưu tập riêng của họ cũng được góp mặt trong cuộc triển lãm này. Sau lời phát biểu của ông phó chủ tịch, một nhân viên Viện bảo tàng đã mời các nhà sưu tập từ từ tiến lên chỗ ông phó chủ tịch. Khi mỗi người tiến đến trước mặt ông, họ nhận được từ tay ông ta một "Bằng khen" lồng trong khung thếp vàng và một bao thơ màu đỏ đựng tiền mà họ thuận bán món đồ của họ cho Viện. Trong khi ông phó chủ tịch trao tặng như vậy thì có một viên chức của Viện nhẹ nhàng tiến lại chỗ tôi ngồi và nói nhỏ với tôi là sẽ có một buổi lễ riêng đặc biệt tổ chức cho một mình tôi, bởi vì tôi đã tặng không cho Viện chứ không "bán" như mấy vị kia. Sau buổi lễ, mọi người được mời lên xe đặc biệt và được chở tới một khách sạn du lịch mới mở ở đường Hoa Sơn để dự tiệc.
Cặp vợ chồng trẻ từ bên Mỹ về và các nhà sưu tập có liên hệ với các nhà doanh nghiệp ở Hồng Kông được mời ngồi vào chỗ danh dự gần bên ông phó chủ tịch. Cũng vì chính sách mới nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài nên trước mắt nhà cầm quyền, những người đó trở nên quan trọng gấp cả ngàn lần. Cho đến khi nào chính quyền thiết lập được những liên hệ làm ăn chắc chắn với ngoại quốc thì những người này rất hữu ích cho việc thắt chặt mối liên hệ với những Hoa kiều ở Hồng Kông và ở Hải ngoại. Còn những người khác như tôi thì tiện đâu ngồi đó. Ở mỗi bàn đều có các viên chức của Viện Bảo tàng đóng vai gia chủ. Tôi không quen biết một người nào ngồi cùng bàn với tôi. Chúng tôi cũng chẳng được ai giới thiệu với nhau để mà nói chuyện. Và cũng chẳng mấy ai thích những món ăn cao cấp bày ê hề trước mặt chúng tôi. Chúng tôi ngồi đó, cứng ngắc, ngượng nghịu, rất "nghi thức" và trong lòng thì nôn nóng mong cho bữa tiệc xong đi cho rồi. Tuy nhiên, các viên chức của Viện Bảo tàng lại tỏ ra rất lịch sự. Tay cầm ly rượu họ đi từng bàn để chúc rượu từng vị khách.
Thật ra, các vị khách cũng chẳng thực tâm muốn bán những món sưu tập mà họ rất quí. Trong bữa tiệc, tôi nghĩ tới từng món đồ cổ mà tôi đã trao tặng cho Viện. Mặc dù tôi chẳng thấy tiếc khi trao tặng, nhưng tôi vẫn cảm thấy buồn. Tôi chắc các vị khác - dù là "bán lại" - cũng có tâm trạng như tôi. Rõ ràng là họ được trả tiền đầy đủ theo giá "thương lượng" ấy so với cái giá trị thực tại thị trường thì chỉ là giá tượng trưng mà thôi.
Khi Trương Khánh Tôn sửa soạn ra về, chúng tôi cũng lặng lẽ buông đũa xuống. Khi ông ta ra khuất ngoài cửa cùng với đám tùy tùng thì trong này chúng tôi cũng đứng dậy, lễ phép cám ơn bắt tay viên chức của Viện đóng vai gia chủ tại bàn chúng tôi để ra về. Các bàn khác cũng vậy. Chúng tôi chuồn nhanh vào thang máy. Chỉ mãi đến khi ra tới ngoài đường rồi và lẫn lộn trong đám đông ngoài phố, xa khỏi cái "hào quang" của giới "quan chức", chúng tôi mới mỉm cười và khẽ ghé tai nhau mà chào giã từ.
Một tuần lễ sau, hai viên chức của Viện Bảo tàng mời tôi lên xe và đưa tới tòa "Lâu đài" Thượng Hải, tức là khách sạn dành riêng cho khách ngoại quốc. Buổi lễ trao tặng "Bằng khen" cho tôi được tổ chức tại phòng khánh tiết được dành riêng cho những công vụ có tính nghi lễ chính thức. Trong một hành lang rộng mông mênh, một viên chức đã dẫn tôi đến một cái bàn trên đó có khay bút mực. Khi tôi ký tên vào sổ lưu phương danh của khách quý - một cuốn sổ bìa bọc kim tuyến rất quan trọng - thì máy ảnh chụp lia lịa. Những viên chức khác cũng ký "phó thự" bên cạnh chữ ký của tôi. Sau đó, một viên chức mở cánh cửa bọc da dẫn tôi vào phòng tiếp tân. Tất cả các viên chức của Viện bảo tàng - kể cả ông giám đốc - được giới thiệu với tôi. Tôi cũng thấy những người lối xóm của tôi trước kia - ông bà bác sĩ Cổ - cũng được mời dự. Bác sĩ Cổ là một nhà giải phẫu rất danh tiếng và phu nhân cũng là bác sĩ sản khoa tại bệnh viện số 6. Ông đã tặng cho Viện bảo tàng bộ sưu tập đồ đồng của ông.
Lát sau, Phó chủ tịch Trương Khánh Tôn cũng tới. Ông ta ngồi vào một cái tràng kỷ dành sẵn cho ông ta. Các viên chức dọn nước trà cho ông ta khi ông nói chuyện với chúng tôi về thời tiết và lịch sự hỏi thăm chúng tôi về tình hình sức khỏe. Khi những câu chuyện trao đổi xã giao đã xong, một viên chức trung cấp của Viện bảo tàng đã mang tới cái "Bằng khen" lồng trong khung và đặt trên bàn nhỏ bên cạnh ông Phó chủ tịch. Ông Trương đã nói vài lời ca ngợi lòng ái quốc của tôi vì tôi đã tặng cho Viện bảo tàng những sưu tập đồ sứ quí báu. Rồi ông đứng dậy, đưa "Bằng khen" cho tôi, bắt tay tôi bằng cả hai tay của ông. Tôi cũng đứng lên nhận và cúi đầu chào cám ơn. Ông cũng trao cho tôi một cuộn giấy và nói rằng đó là tặng phẩm của Viện Bảo tàng để thể hiện sự đánh giá cao những tặng vật mà tôi đã tặng cho Viện. Tôi nhận và lại cúi đầu cám ơn lần nữa.
Cuộn giấy được mở ra. Đó là một tiêu bản rất khéo léo của bức họa "Một Lệnh Bà với con công" do một đại danh họa đời Minh là Đặng Dương vẽ. Bản chính của bức họa này là niềm vinh dự của Viện Bảo tàng Thượng Hải. Tiêu bản khéo léo đến nỗi không thua gì chính bản. Ngay bây giờ tiêu bản này được treo tại nhà của tôi ở bên Mỹ và được nhiều bạn bè rất sành sỏi và có thẩm quyền về tranh cổ tấm tắc khen.
"Lễ nghi" xong, ông Trương Khánh Tôn ngồi xuống. Tôi phát biểu vài lời đại ý là lấy làm sung sướng được góp phần nhỏ bé của mình vào các bộ sưu tập của Viện. Trong lúc "lễ nghi" máy ảnh cũng chụp lia lịa. Những bức ảnh này và cuốn sổ lưu phương danh các vị khách hôm đó đã được đưa lại cho tôi để giữ làm kỷ niệm.
Một viên chức loan báo bữa tiệc đã chuẩn bị xong. Được ông Phó chủ tịch dẫn đi, chúng tôi tới một phòng ăn bên cạnh và ngồi quanh một chiếc bàn tròn. Bữa tiệc thật sang trọng với những món ăn tôi chưa từng thấy ở nước Trung Hoa lục địa với ba thứ rượu nho cùng với nhiều thứ trái cây tráng miệng. Ông Phó chủ tịch và mọi người đều tỏ ra cực kỳ lịch thiệp và niềm nở. Trong bữa tiệc, ông Phó chủ tịch nói rằng bản thân ông ta, trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, cũng được hân hạnh nếm cơm tù của "bè lũ bốn tên". Thấy tôi tỏ ra ngạc nhiên và bất bình, ông nói:
- Bà lấy làm ngạc nhiên vì một người Cách mạng kỳ cựu như tôi mà cũng bị những người tự nhận là "Cách mạng" bỏ tù ư? Thưa bà, chính trị là một cái gì phức tạp vô cùng!
Như được câu chuyện của ông Phó chủ tịch khuyến khích, những người khác cũng kể cho tôi nghe những ngày tù tội của họ dưới thời Cách mạng Văn hóa. Trong số mười vị ngồi quanh bàn tiệc hôm đó, chỉ có ba người là thoát khỏi cảnh tù tội. Một trong số các quan chức nói:
- Tuy nhiên, giờ đây chúng tôi đã được phục hồi.
Dưới sự hướng dẫn của ông Phó chủ tịch, chúng tôi nâng ly chúc mừng Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phục hồi cho chúng tôi.
Dường như chính quyền nhân dân Thượng Hải muốn tôi có một tâm trạng và một cảm tưởng tốt về họ. Ngay lúc phát "Bằng khen" lần trước cho những người khác, họ cũng có thể phát cho tôi được chứ đâu cần phải tổ chức một nghi lễ riêng biệt, một bữa tiệc xa hoa như thế này. Tôi nghĩ họ đang dành cho tôi một sự chiêu đãi thường chỉ dành cho các vị khách cao cấp ngoại quốc chỉ vì tôi đã nộp đơn xin giấy thông hành xuất ngoại. Họ muốn tôi rời khỏi Thượng Hải với một cảm tưởng tốt về chính quyền của thời kỳ hậu Mao Trạch Đông. Ngay cả ông Phó chủ tịch cũng làm ra vẻ vô tình nhắc tới những ngày đau khổ tù tội của chính ông ta thực ra cũng là cố ý muốn làm cho tôi nhìn những kinh nghiệm ê chề của tôi trong cái bối cảnh chung đó. Ông cố ý làm cho tôi cảm thấy mình, một cách nào đó, cũng đã "được" gia nhập vào hàng ngũ những người cách mạng kỳ cựu và các viên chức cao cấp trong chính quyền.
Sáng hôm sau, ở góc trang bốn của tờ nhật báo Thượng Hải giải phóng có bài tường thuật kèm theo ảnh chụp về việc tôi đã tặng cho viện bảo tàng những sưu tập đồ cổ rất quí giá. Bài báo cho đó là một hành vi yêu nước và nhấn mạnh là tôi tặng không, không đòi hỏi tiền bạc gì cả. Nhật báo Thượng Hải giải phóng là cơ quan ngôn luận của Thành ủy và của chính quyền Thượng Hải, bất cứ tin tức gì xuất hiện trên báo đó đều có những toan tính kỹ lưỡng, do đó tôi cảm thấy các quan chức của thành phố Thượng Hải - bằng nhiều hành động và thủ thuật - tiếp tục nỗ lực gây cho tôi một tâm trạng một cảm tưởng họ mong muốn.
Qua bài tường thuật và hình ảnh trên báo, tôi lập tức trở nên nổi tiếng. Các thân hữu hàng xóm - kể cả cán bộ trong khu phố của tôi - đổ xô tới để chúc tụng và xem "Bằng khen" của tôi. Họ đề nghị tôi treo lên chỗ danh dự nhất trong nhà. Những người trước kia gặp tôi ngoài đường thì vẫn tránh xa, nay đi qua mặt tôi thì chào hỏi đon đả. Bà Lục Anh, người mấy năm trước chỉ trích tôi về cách ăn mặc nay lại khen tôi ăn mặc lịch sự sang trọng và còn hỏi tôi mua những vải đó ở đâu. So với những ngày tôi còn là "phi nhân cách", chịu đủ thứ phỉ báng và đày đọa với ngày hôm nay, tôi thấy mình đã tiến một quãng đường khá xa. Nhưng cái bản chất con người thật của tôi vẫn chẳng mảy may thay đổi. Cái thay đổi chỉ đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Trung Hoa.
Khi cơn cuồng nhiệt của những lời ngợi khen chúc tụng đã dịu đi rồi, đồng chí Hồ đại diện của Liên hiệp phụ nữ thành phố Thượng Hải đến thăm tôi và mời tôi gia nhập nhóm nghiên cứu, học tập dành riêng cho các phụ nữ trí thức. Tôi sẵn lòng chấp nhận ngay lời mời của bà ta. Vì từ chối cũng không được kia mà. Vả lại, như vậy có nghĩa là tôi khỏi phải chen chúc đi họp hành, học tập tại Ủy ban khu phố. Tôi hi vọng các bà ở trong hội Liên hiệp phụ nữ cấp thành phố thì có cái gì đó hấp dẫn hơn và dễ thông cảm hơn.
Theo Hiến Pháp của Trung Hoa thì nam nữ bình quyền và bình đẳng. Nhưng thực tế, có một sự kỳ thị rõ ràng đối với phụ nữ Trung Hoa. Mặc dù, tại các thành phố không có sự sai biệt về lương bổng hay lợi tức giữa nam và nữ cùng làm một công việc, cùng một chức vụ, nhưng đại đa số phụ nữ Trung Hoa chỉ được giao cho những công việc mà xưa nay theo truyền thống vẫn chỉ dành cho phụ nữ, chẳng hạn như thợ dệt, bán hàng, hộ lý trong các bệnh viện… Thái độ truyền thống đối với địa vị của người phụ nữ vẫn còn bị qui định bởi cái địa vị xã hội của chồng bà ta.
Phu nhân của nguyên soái Chu Đức là Chủ tịch Liên hiệp phụ nữ toàn quốc. Các phó chủ tịch hoặc các chủ tịch địa phương của hội thì cũng là các quả phụ hoặc các phu nhân của các đảng viên kỳ cựu hoặc các viên chức cao cấp ở địa phương. Tuy nhiên, người điều hành các công việc hàng ngày của Hội - ở Trung ương cũng như ở địa phương - lại là một đảng viên chuyên trách, như đồng chí Hồ chẳng hạn. Cũng như tất cả mọi cơ quan, mọi tổ chức khác ở Trung Hoa, Hội Liên hiệp phụ nữ cũng là một cơ quan một tổ chức đứng ra để điều hợp hoạt động của các hội viên của mình cho ăn khớp với yêu cầu của Đảng và của chính quyền.
- Chúng tôi đang tổ chức hai nhóm học tập - đồng chí Hồ nói - một nhóm dành cho các bà chủ xí nghiệp cũ từ trước thời giải phóng hoặc các bà hiện nay vẫn còn đang làm việc trong các xí nghiệp xưa kia vốn là của các ông chồng của họ. Nhóm thứ hai gồm các bà thuộc thành phần. Nhóm này cũng gồm phu nhân của các nhà khoa học nổi tiếng đã có những đóng góp đặc biệt cho chủ nghĩa xã hội. Sau khi xem xét cẩn thận, chúng tôi quyết định mời bà vào nhóm thứ hai, vì chúng tôi nghĩ là trong nhóm này, bà sẽ gặp được người đồng thanh đồng khí. Người trí thức với nhau thì dù sao nói chuyện với nhau cũng dễ hơn.
- Tôi nhờ bà chuyển đệ lên các vị lãnh đạo cao cấp trong hội lòng kính trọng và biết ơn của tôi - tôi lễ phép đáp lại - Tôi coi đây là một vinh dự và sẽ đến tham gia học tập để tiến bộ.
- Thứ sáu tuần sau, lúc hai giờ trưa, sẽ có cuộc họp mặt cả hai nhóm, cuộc họp sẽ được tổ chức tại trụ sở của Hội đồng hiệp thương Chính trị thành phố Thượng Hải. Và Hội chúng ta cũng sẽ dùng nơi này để tiến hành các buổi học tập hàng tuần. Toàn thể hội viên sẽ được mời để dự các dịp lễ đặc biệt. Tại đây cũng có quầy hàng và nhà hàng ăn dành riêng cho các hội viên mà thôi.
- Vâng, thứ sáu tuần sau, vào lúc hai giờ, tôi xin đến dự. Đồng chí Hồ cáo từ ra về. Tôi tiễn bà ta ra cổng. Đóng cổng lại và quay vào, tôi thấy mụ Chu từ trong phòng mụ đi ra vườn gặp tôi. Mụ hỏi:
- Phải đồng chí Hồ ở Hội Liên hiệp phụ nữ đó không chị?
- Phải!
- Tôi cũng được mời, nhưng chỉ được ở cấp quận thôi. Chị được mời ở cấp thành phố, tôi chắc vậy?
- Tôi cũng chưa có một ý tưởng gì về cái nơi tôi sắp tới!
- Nếu chị được mời họp ở trụ sở của Hội đồng hiệp thương chính trị ở đường Tây lộ Bắc Kinh thì tức là chị được tham gia cấp thành phố đấy!
- Ờ, mà ở đó cũng còn một nhóm khác nữa. Mà làm chi cấp này cấp nọ cho nó rắc rối ra vậy kìa?
- Ấy chết, khác nhau lắm lắm chứ. Ở cấp thành phố, chị được tham gia vào những nơi, những chỗ, những cuộc hội nghị mà tụi này ở cấp quận đừng hòng lai vãng tới. Hơn thế nữa, chị được mua hàng ở quầy hàng "phục vụ nội bộ" và được ăn ở nhà hàng cũng chỉ "phục vụ nội bộ". Chị được mua nhiều hàng rất quí mà quần chúng không thể nào có được mà lại bán theo giá "phân phối nội bộ" nữa, chẳng hạn thuốc lá "thơm, ngoại".
Tôi đã bước vào đến trong nhà rồi mụ còn nói với theo "lý do chị được mời tham gia cấp thành phố ấy là chị đã ủng hộ một món tiền, món tiền lớn vào hàng thứ nhì của thành phố cho nhà trẻ và mẫu giáo".
- Xem ra bà "thông thạo tin tức" quá nhỉ?
- Chị được mọi người bàn tán nhiều lắm. Người ta nói là chị có cử chỉ "ngoạn mục" như vậy là để mua lấy cái giấy thông hành xuất ngoại, mụ nói và nhìn đăm đăm vào tôi để dò phản ứng.
- Chị nói vậy chẳng hóa ra chính quyền nhân dân là đại lý bán giấy thông hành sao? Tôi hỏi mụ và làm ra cái vẻ không tin. Vả lại, điều mụ vừa nói ra đó, tôi lại thấy hay hay. Nhân dân Trung Hoa rất sâu sắc và dí dỏm, mỉa mai nhẹ nhàng nhưng cực độc. Họ cho là mọi hành vi tế nhị, mọi cử chỉ cao quí thì cũng chỉ do một động lực duy nhất là lòng vị kỷ.
Nghe tôi hỏi như vậy, mụ Chu nghĩ khác. Và mụ nghĩ là nếu tôi báo cáo với chính quyền câu nói của mụ "chính quyền bán giấy thông hành" thì thật chí nguy cho mụ. Bởi vậy mụ vội vã thanh minh ngay:
- Nào có ai nói là chính quyền nhân dân bán giấy thông hành bao giờ đâu!
- Tốt, vậy trong trường hợp đó thì tôi đâu cần phải mua, phải vậy không?
Tôi nói rồi bỏ đi vào trong nhà không đợi mụ trả lời. Tôi cho là mụ ghen tị với tôi vì theo ý mụ, tôi đã "trèo" qua đầu mụ.
Hội đồng hiệp thương chính trị là một tổ chức vệ tinh của một tổ chức lớn hơn tức là Mặt trận thống nhất, một món đồ trang trí của chính quyền. Tiếng là hiệp thương chính trị, nhưng tiếng nói của hội đồng chẳng ăn thua gì trong các chính sách, đường lối của Đảng. Trên lý thuyết, họ ngồi đó để "cố vấn" kia đấy. Nhưng trên thực tế, họ ngồi đó để gật đầu và vỗ tay hoan hô mọi quyết định của Đảng. Cơ quan này đặt tại một trong những toà nhà nằm trong khu lâu đài của gia đình họ Trương. Những tòa lâu đài khác trong thành phố đều là những "tàn dư" của cái thời Trung Hoa bị lệ thuộc. Tuy nhiên tòa lâu đài trụ sở của Hội hiệp thương lại được hưởng cái hào quang huyền bí của cách mạng vì nó đã được dùng làm nơi hội họp bí mật của những người ủng hộ Tôn Dật Tiên và cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911), cuộc cách mạng đã thiết lập nên nền Cộng hòa Trung Hoa. Trang viên cùng với nhiều cái hồ của khu lâu đài, kể cả nhiều tòa nhà trong lâu đài đã biến mất từ lâu. Những tòa nhà cao tầng khác đã được xây lên thế vào đó. Chỉ còn tòa lâu đài chính thì nay biến thành trụ sở của Hội đồng hiệp thương chính trị của thành phố. Nhưng nội thất của tòa lâu đài được sửa chữa lại tầng trệt biến thành phòng họp lớn và tầng trên biến thành các văn phòng và các phòng hội thảo. Ngay lối vào văn phòng dùng làm "quầy hàng nội bộ" và ở góc vườn là nhà hàng ăn "nội bộ". Cả hai bộ phận này đều là bộ phận không sinh lời nhưng được lập ra để "phục vụ" riêng các đại biểu mà thôi.
Khi tôi rời khỏi Thượng Hải, tôi gặp nhiều người Âu, Mỹ cứ ngỡ rằng Trung Hoa dưới chế độ của Mao là một xã hội bình đẳng. Rõ ràng là không đúng. Chính quyền cộng sản kiểm soát tất cả mọi sự, ở tất cả mọi "khâu", mọi cấp bậc, từ sản xuất cho đến phân phối hàng hóa sản phẩm, cho đến dịch vụ. Bằng cách đó, họ đã "thi ân bố đức" cho mọi người một cách rất bất bình đẳng. Thuật ngữ "nội bộ" có nghĩa là những hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó chỉ được phân phối cho cấp cán bộ nào đó hoặc những "thường dân" nào đó mà vì lý do nào đó được họ cho hưởng "ké" cái "ơn mưa móc". Tôi từng nghe thuật ngữ "nội bộ, nội bộ" đầy sức mê hoặc, cám dỗ, thèm khát hoặc hãnh diện thốt ra từ miệng một số người để chỉ những hàng hóa sản phẩm, dịch vụ dành riêng cho một số rất ít các quan chức cao cấp. Cũng phải thôi, "phần ăn của con sư tử" mà! Trên danh nghĩa, lương tháng của một ủy viên Bộ chính trị chỉ gấp từ tám đến mười lần lương của một công nhân viên hạng bét. Nhưng trên thực tế, những đặc quyền đặc lợi mà họ được hưởng "miễn phí", nếu không hơn thì cũng ngang với vị Tổng thống hoặc Thủ tướng của các nước khác, chứ không kém. Và, các đặc quyền đặc lợi, đặc ân này được mở rộng cho đến cả gia đình của họ đến hàng con, hàng cháu của họ và thậm chí ngay cả sau khi họ đã chết rồi.
Thật ra, dưới mắt của chính quyền, thành viên nhóm "học tập" của hội Liên hiệp phụ nữ - dù rằng đã được tuyển chọn một cách gắt gao - cũng chẳng có gì gọi là quan trọng. Chúng tôi được chính quyền vuốt ve vì đó là đường lối chính sách mới của Đảng: mối đoàn kết quốc gia nay bao hàm cả giai cấp tư sản nữa. Và đó cũng là đường lối "mở cửa" của "bốn hiện đại hóa". Hầu hết mọi người trong nhóm học tập này đều có liên hệ với nước ngoài. Chính quyền lúc này "tử tế" với chúng tôi hậu đãi nữa là khác, chỉ là để tranh thủ sự ủng hộ của thân nhân chúng tôi, đồng thời để tạo ra cái hình ảnh khoan hồng đối với nền dân chủ kiểu phương Tây. Những kẻ được "ăn ké" đặc quyền, đặc lợi, đặc ân thì rất, rất ít. Do đó, tôi thường được cái hân hạnh "ăn ké" - mà cũng chỉ là "ăn ké" có mức độ - thì đương nhiên tôi trở thành đối tượng cho sự ganh tị của bạn bè, thân thuộc của tôi. Và họ chẳng ngần ngại gì mà không nhờ tôi mua dùm hàng này, hóa nọ tại quầy hàng "nội bộ", thậm chí còn nhờ mua cả thức ăn ở nhà hàng ăn "nội bộ" để đem về nhà cho họ. Và tôi cũng sớm nhận ra rằng nhiều thành viên khác cũng gặp phải những vấn đề tương tự như tôi. Một trong những lý do làm cho tôi sung sướng khi rời khỏi Thượng Hải là thoát được những phiền hà gây nên nhưng lại không thể từ chối mà không gây ra những oán trách nào đó.
U già thì lại rất hãnh diện khi tôi được mời tham gia nhóm học tập của hội Liên hiệp phụ nữ. U nghĩ rằng thế là sau cùng, tôi đã lấy lại được trọn vẹn sự kính nể: chẳng những tôi được trở về hàng ngũ nhân dân mà tôi còn được gia nhập hàng ngũ "dân tuyển". Hôm tôi đi dự cuộc họp khai mạc, u già đã dọn cơm trưa sớm hơn thường lệ và cứ luẩn quẩn quanh tôi để nhắc nhở nài nỉ tôi mặc những bộ quần áo mà u cho là sang nhất:
- Tôi cho là bà nên mặc bộ màu xanh lạt. Mặc bộ đó, nom bà xinh lắm!
Tôi lấy cái quần xanh nước biển ra để "chọc" u.
- Thế sao không mặc cái quần xanh này?
- Ấy, đừng, màu xanh xám nhạt hay hơn. Bà mặc bộ đó nom trẻ hơn. Giá bà nhuộm tóc đi nữa thì …nom còn trẻ hơn nhiều.
Tôi cất cái quần màu xanh nước biển và lấy ra bộ đồ màu xám nhạt. U cười mãn nguyện và khi quay vào bếp còn nói với lại: "Ngày mai bà kể lại cho tôi nghe tất cả những gì bà thấy hôm nay nhé."
Có vào khoảng bảy chục bà - tất cả đều ở cái tuổi trung niên hoặc đã già - có mặt tại buổi lễ khai mạc của hai nhóm học tập. Chúng tôi được mời vào ngồi trong một phòng rộng rãi và rất sạch sẽ, có cửa sổ lớn mở rộng cho ánh sáng và không khí tràn vào. Chúng tôi được mời uống trà thứ thượng hảo hạng rót trong những cái tách kiểu. Một trong các vị phó chủ tịch đến chào mừng chúng tôi và báo cáo cho chúng tôi nghe về chương trình "bốn hiện đại hóa" mà theo lời bà ta, đã do chính cố Thủ tướng Chu Ân Lai đề ra, đã được đại hội Đảng lần thứ 10 nhất trí thông qua và cũng được cả cố chủ tịch Mao Trạch Đông chấp thuận nữa. Kế đó, bà ta quay ra ca ngợi Hoa Chủ Tịch, lãnh tụ anh minh đã đập tan âm mưu của "bè lũ bốn tên" và mở đường cho việc thực hiện chương trình "Bốn hiện đại hóa". Cũng giống như mọi "báo cáo viên" khác, bà ta lặp lại nguyên những ý tưởng, nếu không muốn nó là y nguyên từng chữ, nội dung nghị quyết của Đảng và các bài phát biểu của các lãnh tụ chóp bu ở Bắc Kinh.
Sau khi ba phó chủ tịch nói xong, chúng tôi cũng vỗ tay "đúng mức" và người ta giới thiệu với chúng tôi một bà trạc ngũ tuần mặc bộ com lê đen may cắt rất khéo. Bà ta lên trình bày chúng tôi nghe về chuyến đi của bà - cùng với ông chồng là một cựu tư sản cỡ lớn - sang Hoa Kỳ. Bà ta xin lỗi vì tiếng bị khản. Lý do vì từ khi du Mỹ trở về, bà ta đi báo cáo về chuyến đi của bà ở rất nhiều nơi. Bà ta trở nên một báo cáo viên nổi tiếng nhờ nội dung bài báo cáo của bà: không những bà mô tả đời sống bên Hoa Kỳ thật chẳng có gì đáng mơ ước, vì nạn xì ke ma túy, say rượu, y tế phí rất cao…và bà cũng hãnh diện khoe rằng, mặc dù được đề nghị một việc làm có lợi tức rất cao, ông chồng bà ta cũng cứ nhất định trở về Trung Hoa để làm kỹ sư trưởng trong xí nghiệp của chính ông ta, nhưng đã "hiến" cho nhà nước. Tham vọng lớn nhất của chồng bà ta hiện nay là phục vụ cho chương trình "Bốn hiện đại hóa" và góp phần của mình vào nỗ lực làm cho nước Trung Hoa được cường thịnh. Bà ta dứt lời và được chúng tôi hoan hô nhiệt liệt.
Không nên tìm hiểu xem có bao nhiêu phần trăm sự thật trong bài phát biểu của bà ta,
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện