DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 17

Chương 17: Phục Hồi

Trong bao nhiêu năm trời, tôi đã trông chờ cái chết của Mao. Lúc còn trong tù, tôi đã đủ liều mạng để cầu cho ông ta chết đi. Nay, ông ta chết rồi, tôi chẳng biết phải làm sao nữa. Hi vọng đưa những tên có trách nhiệm về cái chết của con tôi ra tòa công lý thì nay cũng kể như hão huyền, xa vời rồi.
Trong khi đó, tôi vẫn theo dõi sát tình hình chính trị ở Trung Hoa. Mỗi buổi sáng tôi đã lại đều đặn dạy tiếng Anh cho cô học trò tàn tật của tôi. Bị tàn tật vì chứng bại liệt trẻ em từ lúc còn nhỏ, cô đã không đi học ở một trường học bình thường được. Tuy nhiên, ở nhà, cô vẫn được mẹ dạy đọc và viết. Mẹ cô làm hộ lý trong một nhà thương lớn. Sau mỗi buổi học cô bé lễ phép cám ơn tôi, nhặt cặp nạng lên rồi lập cập xuống thang ra đường, về nhà!
Nhìn cô bé vật lộn với sự tàn tật của mình, tôi không khỏi nghĩ tới cái trò oái oăm, trớ trêu của cuộc đời trên đất nước Trung Hoa này. Nỗi bất hạnh của cô đã tách cô ra khỏi dòng sinh hoạt "bình thường" của Trung Hoa bằng cách tránh cho cô không bị lôi kéo vào những cơn lốc chính trị của Mao Trạch Đông, giả như cô cũng lại lành mạnh, bình thường như bao người khác - trong đó có cả tôi - thì cô tránh sao khỏi bị "Người cầm lái vĩ đại" đẩy đưa, làm cho chóng mày chóng mặt, đảo điên trên con đường ngoằn ngoèo, hết quay về bên trái lại thình lình ngoặt sang bên phải, vùi dập trong nỗi khổ đau, trong tâm trạng vỡ mộng qua các cuộc đấu đá, để trở nên một thành phần của cái xã hội mới của Mao. Một số đông những thanh niên lành mạnh ấy - cũng như con gái tôi - đã chết, trong khi những thanh niên khác - kể cả các cựu Vệ binh đỏ như Đại Đức - lại cũng trở thành nạn nhân. Bị tàn tật cô học trò của tôi không đến trường học bình thường được và "bị" bỏ rơi trên con đường đau khổ của nước Trung Hoa đang trên đường tìm kiếm vận mệnh của mình. Hậu quả là cô được khoan hồng miễn trừ, không phải chia sẻ cái số phận của người lành mạnh bình thường! Vậy thì sự tàn tật của cô nên gọi là rủi hay may?
Cô học trò của tôi học tiếng Anh với hi vọng được làm giáo viên dạy tiếng Anh ở trường trung học - cũng như Đại Đức - dễ kiếm kế sinh nhai.
- Con không thể cứ cả đời sống bám vào má con được. Mai mốt má con nghỉ hưu. Đồng lương giáo viên của con sẽ bù đắp thêm vào với lương hưu của má con.
Cô bé đã nói với tôi như vậy khi nó đến nhờ tôi dạy tiếng Anh để chuẩn bị thi làm giáo viên dạy tiếng Anh.
Dạy cô đã trở thành mối bận tâm chính của tôi. Nhưng cùng lúc ấy tôi cũng chăm chăm chờ cơ hội thuận tiện để gửi đơn khiếu nại với tòa án nhân dân, xin điều tra về cái chết của con gái tôi. Từ lâu, tôi đã thảo đi thảo lại, thay đổi từ này, thêm vào câu kia. Và còn vấn đề này nữa: Khi nào tôi gửi lá đơn này đi và cơ quan nào sẽ nhận đơn của tôi.
Buổi sáng ngày 8 tháng 8, như thường lệ, tôi thức dậy vào lúc 6 giờ sáng. Tôi mở cửa ra đứng ngoài ban công và nhìn buổi sáng mùa thu, có sương mù nhưng mà đẹp. Vài cụm mây trắng lãng đãng trôi trên nền trời xanh. Nhìn xuống, tôi thấy cô học trò tàn tật của tôi đang đứng lấp ló ngoài cổng. Thấy tôi, cô ta ra dấu gọi tôi xuống.
Tôi nhẹ nhàng đi xuống cầu thang, ra cổng và mở cổng ra. Cô học trò đến gặp tôi làm gì vào cái giờ hết sức bất thường này. Tôi nghĩ là chẳng nên làm khuấy động gia đình mụ Chu. Khi tôi bước ra ngoài cánh cổng rồi, cô bé cẩn thận khép cánh cổng lại rồi mới thì thào nói vào tai tôi:
- Con đợi bà đã lâu rồi. Con không muốn nhà Chu biết con ở đây vào giờ này nên con không dám gọi cổng. Anh của con là dân quân. Thình lình đêm hôm qua anh con bị gọi tập hợp khẩn cấp. Sắp có chiến tranh. Con nghĩ là con nên báo cho bà biết để bà ở trong nhà đừng đi ra ngoài.
Tôi nhìn về phía đầu, rồi cuối đường phố, chỉ thấy vắng tanh vắng ngắt. Tôi hỏi cô ta:
- Chiến tranh? Ai với ai?
- Con không biết. Chỉ biết là đêm qua có nhiều người đến nhà gọi anh con và bảo phải đi theo họ ngay. Họ nói với má con là dân quân được đặt trong tình trạng báo động và bảo cấm không được nói với ai chuyện này. Nhưng má con và con nghĩ là con nên báo cho bà biết vì bà chỉ ở nhà có một mình.
Tôi cám ơn cô ta và nhìn cô khó nhọc bước đi rồi mới quay vào nhà. Tin tức mà cô học trò báo cho tôi biết quả thật rất đặc biệt. Tôi không thể tưởng tượng có một nước nào tấn công Trung Hoa vào lúc này và không thể tưởng tượng được là Trung Hoa đang khởi phát một cuộc tranh chấp quân sự để chống lại một nước nào. Vậy mà cô bé lại nói là dân quân bị đặt trong tình trạng báo động.
Tôi có một máy thu thanh chế tạo tại Thượng Hải. Đôi lúc thời tiết tốt, tôi không thể nghe được bản tin tức quốc tế, của đài phát thanh BBC hoặc là VOA nếu tôi ghé sát tai vào máy và chăm chú nghe. Tôi đem máy thu thanh vào nhà tắm và đóng cửa lại, kể cả cửa sổ, vặn nước cho chảy ào ào để át tiếng rọt rẹt của máy thu thanh. Dò bắt mãi mà chẳng nghe được gì. Cho đến lúc có u già tới, tôi hỏi tình hình ngoài chợ, u vẫn chỉ than phiền như thường lệ về tình hình thực phẩm khan hiếm đắt đỏ. Tôi bắt đài phát thanh địa phương hi vọng nếu nó có phát ra các bản tin thì tôi không bị nghe hụt. Tôi quay vào bàn giấy, chép các bài thơ Đường như thường lệ. Và tôi thấy mình đã dứt ra khỏi những vướng bận xung quanh.
Một ngày qua đi không có biến cố gì. Sau khi ăn cơm tối, mụ Chu đứng dưới vườn gọi tôi và cho biết Ủy ban khu phố mời họp khẩn: "Ta phải đi ngay lập tức", mụ nói. Tôi vội vã cầm cái ghế và theo mụ đến phòng họp.
Phòng họp đã đông người. Bầu không khí có vẻ căng thẳng. Ủy ban khu phố mời họp khuya một cách bất thường đến nỗi ai nấy đều phải thấy có một cái gì đó hết sức đặc biệt đã xảy ra. Mọi người ngong ngóng xem nó là cái gì. Không có những tiếng ngáp tiếng xì xào thường lệ. Ngay cả mấy con sâu thuốc cũng ngưng "kéo khói". Sau khi mọi người đã tới, một quan chức Đảng ủy cấp quận, tuổi cỡ trung niên đứng dậy và đọc nghị quyết do Bộ Chính trị vừa ban ra. Nội dung chủ yếu của nghị quyết ấy là ngày 16 tháng 10, biệt đoàn 8341 đồn trú tại Trung Nam Hải (lâu đài mùa đông của các vị hoàng đế Mãn Thanh, nay là tư thất và văn phòng của các Ủy viên Bộ Chính trị) đã tiến hành "hành động Cách mạng" để bắt giữ Giang Thanh và ba đồng bọn của mụ - gọi chung là "lũ bốn tên" (tứ nhân bang). Tài liệu cho biết Nghị quyết tiến hành "hành động cách mạng" này đã được thi hành theo lệnh của chủ tịch đương nhiệm của Ủy ban Trung ương Đảng là Hoa Quốc Phong với sự đồng ý của Bộ trưởng Quốc phòng là Diệp Kiếm Anh. Việc bắt giam này đã diễn ra sau cuộc họp của Bộ Chính trị nhất trí thông qua để giữ gìn sự đoàn kết của Đảng và ngăn chặn âm mưu phá hoại sự nghiệp của Đảng trong quá trình xây dựng Xã hội chủ nghĩa. Bản nghị quyết cho biết, ngay từ lúc còn sinh thời, Mao đã nhận thức được vấn đề do "lũ bốn tên" đặt ra và chỉ thị vấn đề ấy phải được giải quyết. Hành động nhằm chống lại bà vợ của Mao đã được thực hiện chỉ 26 ngày sau khi ông ta nằm xuống vĩnh viễn và lại do chính những người đã từng cộng tác với bà ta trong lúc Mao còn sống. Bản nghị quyết đã chấm dứt gọn ghẽ bằng câu cho biết: Khi bắt giữ bà vợ của Mao, Hoa Quốc Phong đã thi hành lệnh của chính Mao.
Bản nghị quyết này ngắn gọn, không có "vòng vo tam quốc" với những lời lẽ khuôn sáo đã trở thành công thức đọc lên nghe rổn rảng nhưng rỗng tuếch và bí hiểm như những lời thần chú của mấy ông thầy mo, thầy pháp. Và ngay khi vừa đọc bản nghị quyết xong, chúng tôi được cho biết, vì lý do đã quá khuya nên việc học tập thảo luận nghị quyết được dời lại buổi họp sau, chúng tôi ra về. Không có những tiếng reo hò, hoan hô, đả đảo om sòm. Từng nhóm, ra khỏi phòng họp, và cũng như khi tới đây, khuôn mặt nào cũng lạnh lùng vô cảm, đầu hơi cúi xuống để khỏi phải vô tình nói với nhau bằng đôi mắt. Chúng tôi đi chậm rãi để khỏi lộ ra sự phấn khích đang tràn ngập trong lòng mình. Chúng tôi xử sự như thể chúng tôi không cảm thấy gì. Bởi vì chúng tôi sợ. Tin tức mới được nghe quá ư "giật gân" đến nỗi hầu như không thể tin được. Mặc dù chúng tôi cũng đã quá quen với sự kiện Đảng thình lình đảo ngược chính sách, nhưng từ trước tới nay chưa có lần nào như lần này. Để thủ thân, tốt hơn hết là đừng có bất cứ phản ứng nào hết.
Ngoài ra như ta biết Thượng Hải nằm trong tay bọn cực đoan. Hầu hết các quan chức tại địa phương này đều là các tay chân của bọn cực đoan hết. Có thể ngay cả ông bạn Quân ủy đến đọc cho chúng tôi nghe bản nghị quyết này cũng là một đàn em của bọn cực đoan không chừng. Dân thành phố Thượng Hải vốn rất ranh ma láu lỉnh. Họ đâu muốn vui buồn không đúng lúc, đúng chỗ để chuốc họa vào mình.
Mụ Chu và tôi đi bên nhau lặng lẽ, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Mở cổng ra, chúng tôi đã thấy thằng con mụ Chu là dân quân đang đứng trên sân. Mụ Chu hỏi nó:
- Mày đã về rồi kia à?
- Dạ xong rồi, thằng con mụ đáp.
Tôi đi vào nhà và khóa cửa phòng cầu thang lại. Lúc đặt chân lên cầu thang tôi mới dám mỉm cười và khi đặt chân vào phòng của tôi rồi tôi mới dám hết lòng tạ ơn Chúa. Nhưng tôi cũng dè dặt để không quá lạc quan.
Rõ ràng việc bắt giữ "lũ bốn tên" là kết quả của việc đấu đá tranh giành quyền lực trong nội bộ các lãnh tụ chóp bu của Đảng. Chẳng cần phải nói rõ ra cũng chính là Hoa Quốc Phong đang bác bỏ chính sách của Mao. Tôi hết sức nghi ngờ việc ông ta biết cai trị Trung Hoa, một cách khác là những cái cách đã đưa Trung Hoa tới chỗ lụn bại như hiện nay. Tuy nhiên tôi cũng qua một đêm không ngủ để suy nghĩ về tương lai và về nội dung đơn xin khiếu nại được phục hồi và xin điều tra cái chết của con tôi.
Sáng hôm sau, mụ Chu nói với tôi là bà Lục Anh đã gọi.
- Một cuộc mít tinh diễu hành khắp thành phố để ủng hộ cho nghị quyết của Bộ Chính trị về việc bắt giam "lũ bốn tên". Lúc hai giờ trưa nay, mình sẽ tập trung ở trụ sở Ủy ban khu phố để nhận cờ và biểu ngữ. Mụ Chu nói với tôi như vậy.
Từ trước tới giờ tôi chưa hề bao giờ đi diễu hành như vậy. Ngay cái ý tưởng xếp hàng đi từng đoàn, tay cầm cờ, miệng hô khẩu hiệu đã làm cho tôi khó chịu. Tôi cho đó là một sự xâm phạm vào đời sống riêng tư của tôi nếu không muốn nói là xâm phạm chính nhân cách của tôi. Dĩ nhiên từ hồi nào đến giờ, tôi vẫn có thể giữ được cái thế đứng "cao quí" như vậy chỉ vì tôi không yêu cầu, tôi bỗng cảm thấy khó nói ra sự từ chối của mình bằng những lời lẽ như thế nào để họ có thể hiểu được. Mụ Chu đã nôn nóng nói thêm:
- Tất nhiên là chị sẽ đi chớ? Mọi người đều tham dự hết. Đâu có ai muốn bị coi là người hậu thuẫn cho "bè lũ bốn tên".
- Tôi sợ không đi bộ được lâu, tôi ngập ngừng nói vậy.
- Cánh già như mình có phải đi xa đâu mà. Chỉ quanh ở chỗ Ủy ban quận thôi. Chắc sẽ không lâu quá một tiếng đồng hồ đâu, bà Lục Anh nói với tôi như vậy.
Theo lời Đại Đức, bọn cực đoan tay chân của "lũ bốn tên" ở Thượng Hải rất ghét tôi, chỉ vì tôi đã "cứng đầu", không chịu cung khai nhận tội theo ý đồ của chúng, để chúng lấy đó làm bằng cớ chống lại đối thủ của chúng. Nay, bọn này "trở cờ" quay ra chống lại "lũ bốn tên".
Nếu tôi không tham gia biểu tình ủng hộ nghị quyết bắt giam "lũ bốn tên" bọn "trở cờ" dám tố cáo tôi làm hậu thuẫn cho "lũ bốn tên" lắm. Và đó mới là khôi hài trớ trêu. Nhưng, trên thực tế, những Đảng viên "hoạt động tích cực" nhất của Mao thường lại là những tên "trở cờ, đón gió" nhanh nhất. Bởi vì hoạt động tích cực nhất là gì, nếu không phải là kịp thời và bám sát đường lối chính sách. Mà, đường lối, chính sách của Đảng - hỡi ơi! - thoắt bên phải, thoắt bên trái, tốt nay xấu mai, rất đột ngột thì bảo làm sao mà các Đảng viên hoạt động tích cực không trở cờ, đón gió? Nhiều người trong số họ có tài "chớp thời cơ", "nhảy kịp tàu để kịp sang một toa tàu khác" và trở thành những người lèo lái theo đường hướng mới. Tất nhiên, cũng có những va vấp và do đó có những tai biến thì đương nhiên có nạn nhân, không thể tránh được! Dưới chế độ của Mao, lên voi xuống chó, đang "ông" hóa "thằng" là thường.
Trước tình hình đó, tôi không còn một lựa chọn nào khác là phải tham gia biểu tình tuần hành. Tôi hi vọng đây là lần đầu tiên và là lần cuối cùng tôi phải đóng vai "một con cừu". Các bà trong Ủy ban khu phố chúng tôi đã phải vất vả suốt đêm để chuẩn bị cờ, biểu ngữ. Tôi tới trụ sở Ủy ban khu phố lúc khoảng 2 giờ trưa. Cờ và biểu ngữ đã chất đống trên bàn, sẵn sàng cho người đi biểu tình sử dụng. Bà Lục Anh bảo tôi xếp hàng cùng với các bà mà chúng tôi cùng ngồi ở một góc trong các buổi họp. Nhóm này là nhóm ít người nhất và "tẻ nhạt" nhất trong cuộc biểu tình. Hầu hết người trong nhóm này - cùng với cả gia đình họ - đều là nạn nhân của Cách mạng Văn hóa. Lẽ ra, khi "bè lũ bốn tên" bị bắt giam, họ có nhiều lý do để vui mừng hơn là mấy bà công nhân viên chức nghỉ hưu hoặc đám thanh niên "đang chờ phân công" (một kiểu nói thay cho chữ "thất nghiệp"). Ấy thế mà trong nhóm chúng tôi lại chẳng có ai mỉm cười. Chúng tôi đã bị hành hạ tơi bời, đối xử tàn bạo và đày đọa cho đến bầm dập ra. Chúng tôi thường được dạy cho biết với một cái giọng ơn nghĩa là lẽ ra chúng tôi bị đem ra làm mồi "cá sấu" mới đáng, nhưng được khoan hồng cho sống, được nhìn xã hội mới sáng ngời này. Dưới mắt những người "Cộng sản tốt của Mao", chúng tôi chỉ là những "điềm gở", những vi trùng mang mầm bệnh tinh thần, tức là có ý tưởng rất nguy hại. Bởi vậy cứ phải cách ly chúng tôi như cùi hủi, đến nỗi chúng tôi không còn cảm thấy mình là thành phần của "xã hội mới sáng ngời" đang đi quanh chúng tôi nữa.
Cuộc biểu tình tuần hành bắt đầu. Nhóm chúng tôi đi sau chót. Mỗi người nhận được một cái que có dán cờ bằng giấy hoặc tờ giấy có ghi khẩu hiệu. Khẩu hiệu mà tôi nhận được là "đả đảo Giang Thanh". Ra đến đường chúng tôi được một thanh niên dặn dò vài điều. Anh ta nói anh ta sẽ đi sát bên nhóm chúng tôi. Khi anh ta hô khẩu hiệu thì chúng tôi hô theo. Những thanh niên cầm cờ đỏ, khiêng biểu ngữ, trống, phèng la dẫn đầu đoàn biểu tình. Theo hiệu lệnh của một cán bộ trẻ, đoàn biểu tình bắt đầu xuất phát, xếp hàng tư và tiến bước, chốc chốc miệng hô khẩu hiệu, tay phất cờ hoặc biểu ngữ. Đi được một quãng thì đám thanh niên và các bà công nhân viên chức nghỉ hưu tách ra để nhập với các đoàn khác tiến vào trung tâm thành phố, còn bọn "chầu rìa" chúng tôi thì lòng vòng quanh khu chúng tôi. Chúng tôi cũng gặp một đám thuộc loại "chầu rìa" của khu phố cạnh đó. Và chúng tôi lặng lẽ đi qua vài đường phố tồi tàn, chẳng gây một chút náo nhiệt nào, chẳng làm cho ai chú ý. Có lẽ chúng tôi không có ma lực Cách mạng và các cuộc tuần hành của chúng tôi rõ ràng là không có kết quả gì. Đi lòng vòng chừng hơn một tiếng đồng hồ, anh cán bộ trẻ ấy dẫn chúng tôi về trụ sở Ủy ban khu phố. Tại đó, chúng tôi vội vã trả lại cờ, biểu ngữ và ba chân bốn cẳng vọt về nhà, chẳng đợi xem có lệnh gì nữa không. Sau khi về đến nhà, đóng cửa lại rồi và đứng ở góc đường kín đáo, mụ Chu mới hỏi tôi:
- Chị có biết là suýt nữa thì xảy ra nội chiến không?
- Thật vậy sao? - tôi hỏi mụ - hồi nào vậy?
- Dân quân được trưng tập và được phát vũ khí. Họ được dự tính đưa đi Bắc Kinh để giải cứu Giang Thanh và bè lũ. Nhưng tin tức về cuộc nổi dậy bị lộ. Quân đội chính qui bao vây ngay thành phố. Thế là họ phải dẹp bỏ. Thằng nhỏ nhà tôi nói chơi cái trò đó phiêu lưu và nguy hiểm quá.
- Nó không phải đi trận như vậy là may đấy, tôi nói.
- Đúng vậy. Cho đến tận bây giờ, cả nhà tôi còn bị "tả tơi rơi rụng" vì Cách mạng Văn hóa, ấy thế mà con tôi lại phải chết cho mụ Giang Thanh nữa thì mỉa mai cay độc quá.
Ít lâu sau đó, tôi nghe mấy tay lãnh tụ cực đoan ở thành phố này bị "bứng" hết ráo. Người thì nói bọn này bị bắt giam trong lúc điều tra, kẻ thì nói họ chỉ bị giữ ở một nơi đặc biệt để viết bản tự thú để dùng làm tài liệu chống lại "bè lũ bốn tên" trong một phiên xử công khai. Không lâu sau những tin đồn này, các nhà lãnh đạo mới đã chỉ định những người cầm đầu Ủy ban cách mạng và ban Bí thư thành ủy Thượng Hải. Số phận của mấy ông thành ủy viên này cũng giống như số phận của Hoa Quốc Phong, nghĩa là lúc phong trào Vệ binh đỏ mới nổi lên, họ cùng bị bầm dập vì họ bị tố này nọ nhưng đã sớm được phục hồi và đã "đi theo đường lối chính sách đúng đắn của Mao Chủ tịch" có nghĩa là họ đã tự thú và tố cáo Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Sau đó họ cũng đã được trao cho các chức vụ cao cấp và họ cũng đã cộng tác với cánh cực đoan đứng đầu là Giang Thanh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, lúc đó họ cũng chỉ hữu danh vô thực vì quyền hành thực sự nằm trong tay đám cực đoan. Chỉ đến lúc Hoa Quốc Phong lên và đám cực đoan tay chân thân tín của "lũ bốn tên" bị hất cẳng ra, họ mới thực quyền. Và những vụ chỉ định như vậy là đặc điểm của bốn năm cầm quyền của Hoa Quốc Phong. Suốt thời gian đó, chẳng có sự thay đổi thực sự về chính sách, và đám cực đoan ở các đơn vị cơ sở vẫn chưa bị "bứng".
Đại Hội Đảng lần thứ 11 diễn ra vào khoảng tháng 8 năm 1977 trong khi toàn quốc đang bị choán hết thì giờ vào chiến dịch cáo tội "bè lũ bốn tên". Trong đại hội này Hoa Quốc Phong cũng đạt đến tột đỉnh của quyền lực. Không những ông ta được bầu làm Chủ tịch ủy ban Trung ương Đảng mà còn là Chủ tịch Quân ủy tức là chức Tổng tư lệnh quân đội Trung Hoa. Lúc này, chân dung của ông ta đã được treo bên cạnh chân dung của Mao ở những nơi công cộng. Trên báo chí, ông ta được mệnh danh là "Hoa Chủ tịch, lãnh tụ anh minh" để phân biệt với "Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại". Rõ ràng là sự tôn thờ cá nhân đã được lập lại và những tay cực đoan còn được giữ lại cũng đã được cẩn thận cất nhắc vào các địa vị có vai vế trong Đảng và chính quyền. Những tay cực đoan "may mắn" này đã nhìn Hoa Quốc Phong như một cái mộc che cho chúng, nếu không muốn nói Hoa đã là cứu tinh của chúng.
Đại Hội Đảng lần này cũng khẳng định lại là sẽ tiếp tục "giương cao ngọn cờ đỏ tư tưởng Mao Trạch Đông". Và Hoa Quốc Phong cũng cam kết thực hiện "tất cả các chính sách của Mao Chủ tịch" và tuân thủ "mọi chỉ thị của Mao Chủ tịch". Cùng lúc đó cũng đã bầu Uông Đông Hưng, chỉ huy trưởng Biệt đoàn 8341 vào chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng. Chức vụ này là để thưởng cho cái công lao ông ta đã hạ bệ Giang Thanh và bè lũ của bà ta. Người ta nói rằng ba người trong "bè lũ bốn tên" đã được mời họp khẩn tại Bộ Chính trị và khi vừa đến cửa phòng họp thì bị bắt. Còn Giang Thanh không chịu đi họp nên chính Uông Đông Hưng phải đến nhà để bắt và chính tay Hưng đã còng Giang Thanh.
Từ lâu, Uông Đông Hưng vẫn làm cận vệ cho Mao. Ông ta được trao cho chức vụ chỉ huy Biệt đoàn 8341 gồm hàng chục ngàn người để bảo vệ an ninh cho Mao và cho các ủy viên Bộ Chính trị cư ngụ trong khu Trung Nam Hải. Theo lời người ta nói sở dĩ ông ta được trao chức vụ này là do lòng trung thành và tận tụy phục vụ Mao chủ tịch. Một trong những công tác mà Hưng đã phục vụ cho Mao một cách xuất sắc nhất là dắt gái đẹp về cho Mao, trong số đó có Trương Ngọc Phượng là được Mao sủng ái hơn hết và đã trở thành "nàng hầu" của Mao, nhưng dưới danh nghĩa chính thức là "thư ký phụ trách sinh hoạt hàng ngày của Mao chủ tịch".
Trương Ngọc Phượng là người phụ nữ cuối cùng trong số phụ nữ đã chung chăn xẻ gối với Mao. Nhân dân Trung Hoa đều biết nhưng không dám nói ra, rằng "Lãnh tụ vĩ đại" cũng là một tay hiếu sắc. Vào lúc cuộc đời xế bóng, con người tự nhận là biểu tượng của tiến bộ và sáng suốt mà cũng tin như một vài hoàng đế Trung Hoa - rằng phá trinh con gái sẽ làm cho họ… trẻ mãi không già!
Hoa Quốc Phong không phải là một nhà cai trị có bản lãnh. Chỉ mới ít lâu trước khi leo lên đến địa vị tột đỉnh, ông ta còn ở hàng trung cấp trong nấc thang quyền lực, hầu như chẳng được quần chúng rộng rãi biết tiếng. Có thể nói, ông ta chỉ là một "Đảng viên thường", không có "đế" cho vững, nghĩa là không có những tay chân tín cẩn nắm những chức vụ then chốt trong guồng máy Đảng và chính quyền. Vì không có cơ sở quyền lực, nên sự cai trị của Hoa không có hiệu năng.
Trên thực tế, năm 1977, nước Trung Hoa có dạng "sứ quân" nghĩa là, mỗi ông tướng từng vùng tùy tiện diễn giải "tư tưởng Mao Trạch Đông" theo cách riêng của mình và bất chấp các chỉ thị của Bắc Kinh. Cùng lúc đó, đất nước lại bị tê liệt vì kinh tế bị đình đốn. Người dân mất tin tưởng vào Đảng khi, trong suốt mười năm trời, mắt chỉ nhìn thấy mấy "ông lớn" đấu đá nhau, tai chỉ nghe thấy những lời chính thức kết tội hết lãnh tụ này đến lãnh tụ khác, sự thay ngôi, đổi chủ liên tiếp trong các cơ quan Đảng và Nhà nước.
Việc bắt giữ "bè lũ bốn tên" cũng giống như một sự "xả súpáp" (mở nút an toàn của nồi cao áp). Và những oan ức bị dồn nén bấy lâu nay được dịp xì ra, khắp nơi, nhân dân nhao nhao bất bình và đòi sửa sai, khôi phục và đền bù. Những cuộc biểu tình và phản đối do cá nhân và tập thể nổ ra. Những đám đông tụ tập bên ngoài các trụ sở cơ quan chính quyền có chức năng giải quyết các khiếu tố. Đôi khi họ chờ đợi suốt cả đêm để được các viên chức bất đắc dĩ tiếp kiến. Những tòa nhà bị bao vây. Các thanh niên bị lưu đày ra khỏi thành phố - dưới danh nghĩa "học tập kinh nghiệm nhân dân" hoặc "phục vụ yêu cầu xây dựng xã hội chủ nghĩa" - giận dữ đòi được quyền trở lại thành phố. Các bức tường của các công sở đầy các báo tường nêu lên những thảm kịch các cá nhân đã phải chịu và kêu gào công lý. Những bức tường đó đã được người dân say mê theo dõi. Càng về sau, lời lẽ của các tờ báo tường càng cụ thể càng gay gắt hơn.
Trong cuộc họp đầy đủ lần thứ hai của Ủy ban Trung ương Đảng. Hoa Quốc Phong đã phải nhượng bộ hai điều. Một là chấp thuận yêu cầu của Diệp Kiếm Anh và lãnh tụ lão thành đòi phục hồi Đặng Tiểu Bình và chỉ định ông ta làm Phó thủ tướng. Hai là, Đảng và nhà nước sẽ xét lại tất cả các trường hợp nạn nhân của cuộc Cách mạng Văn hóa.
Tôi đã làm rất nhiều đơn khiếu nại và gửi đi các cơ quan như Tòa án nhân dân, Viện kiểm soát và Sở Công an. Tôi đi đi lại lại các cơ quan này rất nhiều lần và kéo dài suốt năm 1977. Mặc dù các viên chức cao cấp được cử ra để tiếp dân lắng nghe một cách kiên nhẫn những lời trần tình ấy. Viết rồi gửi đi, rồi lại viết và gửi đi. Nhưng tòa án lẫn công an chẳng có nơi nào trả lời. Nói tóm lại thì ở nơi này nơi kia tôi cũng được tiếp. Nhưng cũng không có gì hơn là sự kiên nhẫn lắng nghe của các viên chức. Đám đông mà tôi gặp tụ tập chờ đợi ở bên ngoài các công sở cũng chẳng hơn gì tôi.
Khoảng tháng ba năm 1978, một nhân viên Sở Công an cùng với công an khu vực là anh Lý đến nhà gặp tôi. Sau khi mời ngồi, nhân viên Sở Công an kia - tuổi trạc trung tuần, mặc bộ đồ kiểu Mao màu xanh chàm bạc thếch - ngồi tựa vào bàn hơi chồm về phía trước, nhìn tôi một cách nghiêm cẩn, đôi lông mày hơi nhíu lại, và nói:
- Tôi là người của Sở Công an thành phố. Bà đã gửi đơn trần tình và khiếu nại cho Sở Công an và Viện Kiểm sát, phải thế không ạ?
- Dạ thưa phải, tôi đã gửi vài lá đơn như vậy!
- Không phải là vài đâu, thưa bà - ông ta lắc đầu - mà là nhiều quá nhiều nữa là khác. Đôi lông mày của ông ta nhíu lại thêm khi ông ta nói tiếp: "Sao mà nhiều quá vậy, thưa bà? Bà không tin vào chính quyền nhân dân sao? Bà không kiên nhẫn hơn được chút nữa sao?”
Ông ta nói hơi có vẻ bực bội trong khi Lý cứ đăm đăm nhìn… xuống sàn nhà. Cả hai không đụng đến một tách trà mà u già đã mời họ.
- Tôi đã bị bắt giam một cách oan ức mười một năm nay rồi - tôi đáp - và con gái tôi bị chết một cách tức tưởi vì bị sát hại một cách mờ ám mười năm rồi. Tôi tưởng như vậy là tôi đã quá kiên nhẫn rồi chứ. Tôi cũng chẳng ngần ngại gì mà không nói với ông là trong khi tôi tin vào Đảng và chính quyền nhân dân thì thú thật lòng tin của tôi vào một số Đảng viên tự nhận là đại diện cho chính quyền bị lung lay vì những kinh nghiệm tôi đã phải trải qua trong thời Cách mạng Văn hóa.
- Hôm nay tôi đến đây để nói với bà thôi đừng có gửi trần tình khiếu nại thêm nữa. Trường hợp của bà sẽ được xem xét vào lúc thích hợp, vì chính sách của Đảng và chính quyền là xét lại tất cả những trường hợp xảy ra trong thời Cách mạng Văn hóa.
- Chúng tôi phải chờ đợi cho đến bao giờ?
- Bà có biết chúng tôi phải giải quyết bao nhiêu vụ như vậy ở thành phố Thượng Hải này không? Mười ngàn người đã chết một cách không bình thường tại thành phố này. Tất cả những cái chết ấy đều trực tiếp hoặc gián tiếp qui vào "lũ bốn tên" và tay chân của chúng. Gấp mấy lần con số như vậy bị tù đày, trong số đó nhiều người hiện còn đang bị giam cầm. Ưu tiên số một của chúng tôi là xem xét lại ngay những trường hợp này để thả ngay những người vô tội ra. Sau đó, chúng tôi xem xét tới những người bị cầm tù nhưng đã được thả ra và hiện nay còn sống. Sau cùng mới xét đến trường hợp những người đã chết, như con gái bà chẳng hạn. Xin bà kiên nhẫn vui lòng kiên nhẫn chờ. Chúng tôi sẽ xét trường hợp của bà và sau đó đến trường hợp của con gái bà.
Những điều ông ta nói có vẻ hợp lý. Tôi không ngờ là tầm vóc vấn đề lại rộng lớn đến như vậy? Tôi nói:
- Ông thật có lòng tốt, đã bớt chút thời giờ đến thăm tôi hôm nay. Tôi xin cám ơn ông và chính quyền mà ông là người đại diện. Tôi phải nói là cuộc gặp gỡ hôm nay của ông đã dựng lại lòng tin cậy của tôi. Ông thật khác xa với mọi viên chức mà tôi đã tiếp xúc trong suốt hơn mười năm qua.
- Vâng, dĩ nhiên là tôi khác. Chính tôi cũng chỉ được phục hồi mới đây thôi. Ông ta nói mà cái miệng nhăn nhúm như cố gắng lắm mới nặn ra được một nụ cười.
- Nếu chính ông đã phải chịu đựng những sự bạo hành, ngược đãi thì ông hiểu tôi như thế nào!
- Thưa bà, dĩ nhiên là tôi hiểu, không phải chỉ bằng trí óc mà bằng cả kinh nghiệm bản thân của tôi. Nhưng khi bà nghĩ tới những mất mát, những đau khổ của riêng bà thì xin bà cũng đồng thời nghĩ tới những mất mát, đau khổ của những người khác nữa. Bà cũng nên nghĩ đến những lãnh tụ Đảng đã chiến đấu và hi sinh cho Cách mạng suốt cuộc đời mình, như ngài Lưu Thiếu Kỳ, như Bành Đức Hoài, như Hạ Long chẳng hạn… và nhiều người khác nữa đã chết một cách thê thảm nữa kia. Và xin bà cũng nên nghĩ đến những cán bộ - xin lỗi bà, như chính bản thân tôi đây - đã đi theo Đảng từ hồi kháng chiến chống Nhật và đã cật lực làm việc cho Đảng mà không kể đến lợi ích gì cho cá nhân mình, thế mà chỉ vì không chịu làm tôi mọi cho "bè lũ bốn tên", tôi đã bị tố cáo là chống Đảng và bị tù đày. Bà có biết rằng chỉ vừa mới đây thôi, phu nhân của ngài Lưu Thiếu Kỳ mới được thả ra khỏi nhà tù? Chúng tôi phải xem xét lại hết tình hình. Vậy xin bà hãy đặt trường hợp của bà trong bối cảnh chung đó.
Tôi nhìn người đàn ông đang ngồi trước mắt tôi và tự hỏi không hiểu lúc này thực sự ông ta nghĩ về Đảng của ông ta như thế nào. Cổ tay áo của ông ta đã sờn, đôi giày vải đen của ông đã lủng. Mặt mày ông ta xanh xao và trơ xương ra. Ông ta đã có lúc phải sống cực kỳ gian khổ. Cái diện mạo hiện nay của ông ta đã chứng tỏ điều đó. Những Đảng viên cấp thấp nhưng đã có nhiều cống hiến như ông này chính là nền tảng quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Khi niềm tin vào Đảng của những con người này bị lung lay thì Đảng chắc không còn có thể nào cai trị một cách hữu hiệu nữa. Bất kể đường lối chính sách do Bộ Chính trị ở Bắc Kinh đề ra có đúng đắn và kịp thời đến thế nào đi chăng nữa thì sự thành công hay thất bại của đường lối chính sách ấy vẫn tùy thuộc vào những con người như ông Đảng viên đang ngồi trước mặt tôi đây, tức là những người thực hiện, thi hành.
- Tôi hết lòng cám ơn ông đã đến đây. Tôi sẽ không viết thêm trần tình khiếu nại nữa mà sẽ kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi được tiếp xúc với ông lần nữa.
Người đàn ông ấy coi bộ hài lòng vì đã hoàn thành được cái sứ mệnh của mình. Khi hai người ra về, tôi theo tiễn họ ra đến tận ngoài cổng và đứng nhìn người đàn ông của Sở Công an nhảy lên chiếc xe đạp hoen rỉ của ông ta.
Cuộc thăm viếng của ông đảng viên kia đã làm cho tôi an tâm. Như vậy là những trần tình, khiếu nại của tôi đã thấu tới nơi cần thiết. Và vào một lúc nào đó thích hợp, chắc chắn tôi sẽ được phục hồi. Nhưng đồng thời tôi cũng nhận ra rằng sở dĩ tôi được phục hồi là do chính sách của Đảng đã thay đổi chứ không phải vì một ý thức công bằng hay công lý, để xóa bỏ một sự bất công. Thật ra, trên các bài báo, các tài liệu liên quan đến việc xét lại những trường hợp như của tôi, không một lần nào, từ "công bằng, công lý" được nhắc tới. Khi "bè lũ bốn tên" bị tố cáo những tội ác chống lại Đảng, chính quyền và nhân dân thì từ "tội ác" đã không được quy chiếu vào khái niệm công bằng công lý, chẳng hạn như đã vi phạm luật pháp, mà, chỉ có nghĩa là làm sai đường lối chính sách của Đảng vì những tham vọng cá nhân. Vài tháng sau, vào khoảng mùa hè năm 1978 nghĩa là mười một năm sau khi con gái tôi bị sát hại, có ba người của xưởng phim Thượng Hải đến thăm tôi. Một người đàn ông cũng trạc tuổi trung tuần tự giới thiệu mình là Trưởng ban tổ chức của xưởng phim đã nói với tôi:
- Chúng tôi đến đây nhân danh chi bộ của xưởng phim mới được phục hồi trở lại. Chúng tôi đã đến mời bà đến dự lễ do xưởng phim tổ chức để truy điệu con gái của bà và cũng là người diễn viên đồng nghiệp của chúng tôi, tức là cô Trịnh Mai Bình.
Bà diễn viên già đã hồi hưu xưa kia là thầy dạy của Mai Bình ở trường điện ảnh đã cầm lấy hai tay tôi và rơm rớm nước mắt nói với tôi:
- Tất cả chúng tôi đều hết sức buồn. Chúng tôi muốn bày tỏ với bà lòng thương tiếc vô biên của chúng tôi đối với Mai Bình và xin chia sẻ nỗi đau xót của bà.
Bà diễn viên nổi tiếng một thời, nguyên tốt nghiệp Viện nghệ thuật Lỗ Tấn ở Diên An, bà ta nhìn tôi như một máy quay phim chìa vào mặt tôi để thu lấy một hình ảnh đặc biệt. Mặc dầu cho đến lúc đó tôi mới được gặp bà ta lần đầu tiên nhưng trước đó tôi đã biết bà ta là vợ của ông trợ lý giám đốc xưởng phim Thượng Hải. Người thứ ba có mặt tại nhà tôi lúc đó là một thanh niên. Anh ta tự giới thiệu và nói:
- Con và Mai Bình là bạn học cùng lớp ở trường điện ảnh. Con đến đây nhân danh tất cả các bạn cùng lớp để chia buồn với dì.
Tôi mời họ ngồi và u già mang nước trà ra. Ông trưởng ban tổ chức nói với tôi:
- Anh Vương Côn - tay ông ta chỉ vào chàng thanh niên tự nhận là bạn học với con gái tôi - cũng ở trong ủy ban xét lại tất cả các trường hợp của xưởng phim. Chúng tôi có hai mươi chín trường hợp bị chết. Nhiều người khác, bao gồm cả những diễn viên hàng đầu của chúng tôi bị tố cáo là phản cách mạng và bị tù đày. Chúng tôi có rất nhiều việc phải làm khi xét lại tất cả các trường hợp này.
- Con gái tôi bị chết như thế nào? - tôi hỏi - ai chịu trách nhiệm về cái chết này các ông có biết không?
Chàng thanh niên tên Vương Côn đã nói:
- Chúng con hy vọng có được sự hợp tác của bên công an để giải quyết việc này vì nó dính dáng đến nhiều người ở bên xưởng phim.
- Các ông cho rằng cần phải bao lâu mới điều tra xong?
- Chúng con làm việc rất vất vả đấy - Vương Côn nói - chính sách của nhà nước rất rõ ràng. Chúng con sẽ phải làm sáng tỏ mọi trường hợp và có sai lầm ở chỗ nào thì phải sửa sai chỗ đó.
- Hôm nay chúng tôi đến đây mời bà đến dự lễ truy điệu do xưởng phim tổ chức và trình bày với bà tất cả những gì liên quan đến bà - vợ ông trợ lý giám đốc nói - nếu bà gặp khó khăn về tài chính thì bà có thể xin xưởng phim trợ cấp khó khăn.
Tôi cho rằng xưởng phim làm gì chẳng biết là tôi được thả ra từ mấy năm rồi mà nay họ mới đến nói là để trợ cấp khó khăn. Tôi coi đó là một hành vi đạo đức giả, nói đãi bôi. Nhưng tôi cũng biết thừa đi là bà ta đã được bí thư chi bộ chỉ đạo cho bà ta phải nói vậy. Tuy nhiên tôi cũng lễ phép đáp lại:
- Xin cám ơn các vị rất nhiều. Tôi không gặp khó khăn gì về tài chính. Tôi hy vọng sẽ không chờ quá lâu để các ông có thể đưa được kẻ đã sát hại con tôi ra trước công lý.
- Tội phạm thật sự chính là "bè lũ bốn tên" - ông trưởng ban tổ chức xưởng phim nói - ta phải hướng sự căm thù của ta vào đó.
Tôi mềm mỏng đáp lại nhưng trong ý lại không thiếu sự kiên quyết:
- Thưa, thì dĩ nhiên là vậy. Nhưng kẻ sát nhân thì vẫn cứ phải đưa ra trước công lý chứ?
- Theo sự ghi nhận của chúng tôi thì con gái của bà đã tự tử. Cho đến khi nào chúng tôi tìm được bằng cớ hiển nhiên trái ngược lại thì chúng tôi vẫn không thể coi là cô ấy đã chết vì một lý do khác ngoài cái lý do được chính thức thông báo.
Rõ ràng là ông trưởng ban tổ chức không muốn nghe nói con gái tôi đã bị "sát hại". Có lẽ anh Vương Côn thấy rõ sắc mặt giận của tôi nên anh ta vội nói:
- Con sẽ đến và nói chuyện với dì kỹ hơn về vấn đề này. Dì thấy khi nào con đến thì thuận tiện cho dì?
- Anh cứ đến bất cứ buổi chiều nào, tôi đáp.
Họ đứng lên ra về. Bà vợ ông trợ lý giám đốc lại bày tỏ với tôi nỗi buồn của bà về cái chết của con gái tôi. Không biết đó là cảm tình thật sự hay cũng chỉ là "diễn xuất" - bà ta là một diễn viên rất có tài - nhưng bà ta đã làm cho tôi khóc cùng với bà ta.
Sau đó Vương Côn đến thăm tôi mấy lần nữa. Lần đầu tôi hiểu ra rằng anh ta đang cố chuẩn bị để tôi chấp nhận cái tài liệu phục hồi theo hướng mà xưởng phim đã chuẩn bị và soạn thảo. Quan điểm của tôi là tài liệu ấy không làm tôi thỏa mãn vì nó đã không nêu được đích danh kẻ sát hại con tôi. Tuy không còn nhấn mạnh ở chỗ con tôi tự tử nhưng tài liệu ấy cũng chỉ nói "chết do bị ngược đãi". Tôi chắc chắn là có một kẻ nào đó ở một nơi nào đó còn đang bao che cho tên sát nhân. Tôi đã đấu tranh để đòi xưởng phim phải làm rõ ràng trắng đen vụ này nhưng chẳng ăn thua gì. Vương Côn chỉ nói với tôi rằng chính trị là vấn đề quá phức tạp và thời gian chưa đủ chín muồi để có thể làm cho đến cùng kỳ lý.
Trong khi tôi còn đang tranh biện với xưởng phim Thượng Hải vào khoảng tháng 10 năm 1978 thì Sở Công an lại đến gặp tôi. Có ba người trong đó có cả người cùng với Lý đến gặp tôi lần trước, tức là người đàn ông tuổi trung tuần đã yêu cầu thôi đừng viết thêm đơn khiếu nại nữa.
Chỉ tay vào một người đàn ông khác thấp hơn, trạc ngũ tuần và nói: "Đây là giám đốc Hàn" quay sang phía người phụ nữ trẻ, ông ta nói tiếp "Đây là cô Tiêu Lệ". Ông Hàn trang trọng nói:
- Chúng tôi đến đây, nhân danh chính quyền nhân dân, để xin lỗi bà về sự bắt giam sai lầm oan uổng mà bà đã chịu trong thời Cách mạng Văn hóa. Chúng tôi cũng xin được bày tỏ với bà nỗi đau xót về con gái của bà bị ngược đãi đến nỗi phải chết.
Tôi mời họ ngồi. Cô Tiêu Lệ lấy giấy ra ghi chép những gì mà tôi và ông Hàn đối đáp với nhau, vì tất cả các cuộc tiếp xúc vì công vụ đều phải được ghi lại.
- Tôi rất trân trọng việc các ông đến đây hôm nay. Chẳng cần phải xin lỗi. Tôi đâu có gì để oán hận chính quyền nhân dân. Đối với tôi, rõ ràng là "bè lũ bốn tên" và các lâu la của chúng đã chiếm quyền và bắt nhiều người trong đó có tôi giam vào trong nhà tù. Điều mà tôi thực sự quan tâm là tại sao những kẻ có trách nhiệm trực tiếp đến cái chết của con gái tôi lại không bị đưa ra trước công lý.
Người đàn ông đã đến gặp tôi lần trước nói:
- Ta nên tin vào chính quyền nhân dân và công an!
- Hôm nay chúng tôi đến đây có mục đích chính là việc phục hồi cho bà - giám đốc Hàn - chúng tôi đã đọc các bản ghi khẩu cung của bà trong các cuộc thẩm vấn ở nhà tù số 1. Chúng tôi cảm phục lòng can đảm của bà vì trong hoàn cảnh ấy mà vẫn cương quyết bênh vực cho cố chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ. Bà đã dám nói ra những điều mà ngay cả nhiều đảng viên kỳ cựu của Đảng cũng sợ, không dám nói. Tôi chắc chắn bà sẽ rất hài lòng khi được biết Bộ Chính trị sẽ sớm ra nghị quyết để làm sáng tỏ và lập lại thanh danh cho cố chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ.
- Tôi rất sung sướng khi một lần nữa quyền kiểm soát quốc vụ trên đất nước ta hôm nay lại nằm trong tay các lãnh tụ đi đúng đường lối chính sách đúng đắn của tư tưởng Mao Trạch Đông, tôi nói đưa đẩy như vậy.
Người đàn ông đến gặp tôi đã lấy từ trong cặp của ông ta một tờ giấy có viết chữ sẵn, đặt lên bàn nói:
- Đây là dự thảo văn bản phục hồi quyền lợi của bà. Chúng tôi muốn nghe được ý kiến và sự gợi ý gì khác nữa của bà trước khi chính thức ban hành.
Tài liệu có ghi tên, tuổi và các chi tiết lý lịch khác. Sau đó nói tôi bị bắt, giam ngày 27 tháng 9 năm 1966 tại nhà tù số 1 vì…sai lầm! Ủy ban có trách nhiệm điều tra các trường hợp oan ức trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa đã xem xét kỹ trường hợp của tôi và nhận thấy tôi không phạm tội gì cả. Bởi vậy tôi được phục hồi theo chính sách của chính quyền nhân dân. Tôi nói với họ rằng tôi bằng lòng với những lời lẽ trong tài liệu ấy.
- Tài liệu sẽ được chính thức gửi đến Ủy ban khu phố và sẽ được đọc lại tại một phiên họp toàn thể của khu phố, ông Hàn nói.
- Bà cũng sẽ được Ủy ban phụ trách giải tỏa
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện