DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 16

Chương 16: Cái Chết của Mao

Lưu Anh không phải là người độc nhất đến thăm tôi theo kiểu đó. Sau cuộc viếng thăm của anh ta, có cả một chuỗi người nữa cũng tự nhận là bạn của Mai Bình. Trong số đó rất ít người tôi biết tên. Nhưng tất cả tôi đều chưa từng gặp vào thời gian trước khi có cuộc Cách mạng văn hóa. Họ không cùng đến một lần mà cứ lần lượt từng người đến một. Và thường, họ đến vào buổi chiều tối. Sau mỗi lần nói về Mai Bình là đêm đó tôi lại mất ngủ.
- U già, u nhớ là đừng mở cửa cho những người khách tự nhận là người bạn của Mai Bình nữa nhé. Tất cả những gì họ muốn nói chỉ là Mai Bình đã rơi vào tay tên sát nhân và tôi phải báo thù cho nó. Tôi quá mệt vì ngày này qua ngày khác cứ phải nghe mãi một cái chuyện đó.
- Bao lâu tôi còn ở đây thì tôi phải mở cửa cho họ. Tôi cũng biết là bà bị mấy người khách đó quấy rầy. Sau khi nói chuyện với họ, nom bà buồn bã và ốm hẳn đi. Nhưng tôi biết làm sao khác được? Tốt hơn là bà cứ cho tôi nghỉ việc. Bà cũng tự lo liệu lấy được mà! U già nói, nom buồn ra mặt.
- U có thể kiếm được việc làm khác không? Tôi hỏi.
- Thành thật mà nói, tôi muốn ở với bà. Dù có kiếm được một công việc khác mà điều kiện làm việc và lương bổng cũng như thế này thì tôi cũng vẫn muốn làm việc cho bà hơn.
Tôi đâu có muốn cho u nghỉ việc. Nhưng rõ ràng u đã được bảo cho biết là phải mở cửa cho những người gọi là đến thăm tôi. Bao lâu u còn ở đó, u không thể từ chối mở cửa. Tôi phải nghĩ giải quyết khác.
- Nếu tôi chịu trả tiền thuê nhà cho u, u có thể kiếm ra chỗ mướn không?
Tôi hỏi u như vậy mặc dù tôi biết rằng nhà cửa khan hiếm là vấn đề nghiêm trọng đặc biệt ở Thượng Hải.
- Tôi có người bà con mới đây bị góa chồng. Chắc chị ấy bằng lòng cho tôi về ở chung, bà có muốn tôi ngủ ở nhà rồi ban ngày đến đây làm không?
- Tốt! Ta thu xếp theo cách đó vậy. U về ở với người bà con và chỉ đến đây làm việc buổi sáng thôi. Tôi vẫn trả lương cho u y nguyên, thêm luôn tiền mướn nhà. U thấy sao?
- Thu xếp vậy là hay. Bà sẽ có cả buổi chiều và buổi tối yên tĩnh. Nếu bà chẳng mở cửa thì cũng chẳng ai trách cứ tôi về chuyện ấy được. U già hoan hỉ nói.
Cuối tuần đó, u già đã thu xếp được với người bà con và dọn về đó ở.
Tôi lấy một tấm bìa cứng, dán lên đó một tấm giấy đỏ. Sau đó dán ở giữa một tờ giấy trắng. Thế là tờ giấy trắng nổi bật trên một khuôn đỏ. Trên tờ giấy trắng đó, tôi viết những dòng chữ như sau:
“Vì đã có tuổi và sức khỏe kém, tôi cần nghỉ ngơi. Xin miễn tiếp quí khách nào không có hẹn trước. Sẵn lòng tiếp đón nhân viên chánh quyền đến vì lý do công tác bất cứ giờ nào”. Tôi ký tên và treo tấm bìa đó phía ngoài cửa cầu thang rồi khóa cửa lại.
Sáng hôm sau tôi mở cửa đi xuống vườn, tôi thấy tấm bìa tôi đã làm và treo cẩn thận bấy giờ bị xé và quăng dưới đất. Mụ Chu cũng đứng gần đó. Tôi nhặt mảnh bìa đó lên và chìa cho mụ coi, và hỏi mụ:
-Trong nhà bà có ai xé cái này của tôi không?
- Ô! Không! Dĩ nhiên là không. Già đình tôi không có ai đi lại chỗ cửa này. Chị biết đó, mỗi lần lên phòng chị là tôi lên bằng cửa phía sau cầu thang.
Thằng con trai thất nghiệp của mụ đi ra để bênh mẹ và nói:
- Chắc đêm rồi có ai trèo tường vào nhà mình, gia đình cháu bị mất hai cái áo treo ở dây phơi dưới nhà.
- Chị cũng biết là quanh đây cũng đã có mấy vụ trộm cắp rồi. Chị không nhớ là trong kỳ họp vừa rồi bà bí thư đã cảnh cáo bà con mình phải hết sức cẩn thận sao? Mụ Chu nói thêm.
Tôi thì không tin kẻ trộm đã trèo tường vào. Nhưng tôi vẫn cứ hỏi:
- Thế cháu đã đi trình vụ mất trộm đó với công an chưa?
- Chưa! – thằng con mụ Chu liếc mắt nhìn mẹ nó thật nhanh và vội nói: “Nhưng cháu sẽ tới đó!”
- Tôi sẽ tới công an báo cáo vụ này! Tôi nói và nhìn vào đồng hồ đeo tay thấy mới hơn tám giờ.
- Thôi bà đừng phiền. Để đấy cháu đi cho! Thằng con mụ Chu nói.
-Để tôi đi ngay bây giờ.
Tay cầm tấm bìa bị xé đó, tôi đi đến đồn công an ở cuối phố. Tôi nghĩ nếu phát hiện ra chuyện công an đứng đằng sau những vụ làm phiền tôi thì đó cũng là điều hay. Và nếu như vậy thì Lý – anh công an khu vực của tôi – hẳn phải biết việc này, chỉ cần quan sát phản ứng của anh ta trong lúc nói chuyện là biết được điều này.
Đồn công an của khu phố chúng tôi đặt tại ngôi nhà riêng của một thương gia giàu có ở Thượng Hải đã bỏ đi Hồng Kông ngay trước ngày quân giải phóng tiếp quản Thượng Hải. Đó là một ngôi nhà lớn nhất trong khu vực này. Nhà có vườn rất đẹp. Tôi bước lên bậc thềm đi vào. Căn phòng khách rộng rãi được ngăn ra. Phía trước có một người đàn ông và một người đàn bà ngồi ở sau bàn giấy. Trong phòng đây đó cũng có vài cái bàn và vài ghế dài. Một người đàn ông đã đứng tuổi, tay cầm tờ khai hộ khẩu đến để xin nhập hộ cho anh con trai mới ở tỉnh khác chuyển về. Tôi đứng bên bàn chờ đến khi cô công an quay ra hỏi tôi.
- Bà có việc gì thế?
- Tôi thường trú tại số nhà 1, đường Thái Nguyên. Tôi đến gặp đồng chí Lý, công an khu vực phụ trách khu phố tôi ở.
- Ảnh có hẹn trước với bà không?
- Không! Nhưng đêm rồi, chỗ nhà tôi có việc xảy ra. Tôi đến báo cáo với ổng.
- Sáng nay tất cả mọi nhân viên trong đồn phải họp học tập. Bà về đi, và trở lại sau.
- Tôi đợi anh ấy cũng được!
- Có thể lâu lắm đấy. Có khi cuộc họp kéo dài hết cả buổi sáng lận!
Quyết không để cho bị bỏ qua, tôi nói:
- Nếu như vậy tôi đợi cũng được, không sao!
Cô ta không nói gì. Tôi ngồi xuống ghế. Đợi. Nhiều người tới khai sanh khai tử, xin tạm trú, tạm vắng… Tôi cứ ngồi đó quan sát những công việc thường nhật của một đồn công an, thỉnh thoảng lại nhìn trên cái đồng hồ treo trên tường. Thời gian dường như trôi đi rất chậm. Nhưng tôi cứ nhất định ngồi chờ anh Lý. Quá mười một giờ, cánh cửa dẫn vào phía trong mở ra. Có một người mặc đồng phục đi ra, cô công an nói với người ấy:
- Anh vào nói với đồng chí Lý là có người ở đường Thái Nguyên chờ gặp đây này!
Anh ta đi vào. Lát sau Lý ra. Anh ta người cao lớn vạm vỡ nhưng điệu bộ xuề xòa. Khác với những ông công an khác mặt mày lúc nào cũng cau có, nhăn nhó, cử chỉ và thái độ của Lý không làm cho người ta có cảm tưởng anh là con người khó thương. Tôi mến và có phần kính trọng anh ta như một người có đầu óc thực tế chứ không có giáo điều hoặc mặt mày lúc nào cũng khó đăm đăm. Và lần gặp anh ta tại nhà tôi, anh ta tỏ ra lịch thiệp. Nhưng cũng ngay khi vừa đặt chân vào nhà của tôi thì con mắt anh ta đã đảo ngay khắp phòng để kịp “nắm bắt tình hình”. Tất nhiên là anh ta khác, rất khác với cậu công an đã nhổ toẹt lên tấm thảm trải nhà của tôi hồi mới bắt đầu giải phóng.
Tôi tự giới thiệu:
- Tôi thường trú ở nhà số 1, đường Thái Nguyên.
- Tôi biết bà mà! Lý nói như có vẻ nôn nóng, mắt liếc nhìn lên đồng hồ treo tường – “bà đến tìm tôi có việc gì vậy?”
- Tôi báo cáo việc kẻ trộm đã trèo tường vào nhà tôi tối hôm qua.
- Có mất gì không?
- Gia đình nhà Chu ở dưới nhà nói là họ mất hai cái áo phơi ở dây phơi. Tôi chỉ có cái này bị xé. Tôi đặt mấy miếng bìa bị xé lên bàn. Anh ta chắp lại và đọc. Anh ta nhíu mày lại.
-Thế này là nghĩa gì? Tại sao bà lại viết cái này?
Anh ta nom bối rối thực sự, bởi vậy, tôi biết là anh ta không biết gì về chuyện số và loại khách khứa kéo đến nhà tôi. Như vậy là công an khu vực và đồn công an này cũng không dính dáng gì đến chuyện quấy rầy tôi. Nhưng tôi không loại bỏ khả năng một vài quan chức – hầu như chắc chắn thuộc “lũ người theo Mao” đã ngoi lên được những địa vị quyền thế trong thời kỳ Cách mạng văn hóa – đã đứng đằng sau vụ này. Suốt trong những năm thập niên 70, “lũ cách mạng theo Mao” và các cựu quan chức Đảng bị truất phế trong Cách mạng văn hóa nhưng đã được phục hồi – hai thế lực này – vẫn “chung sống hòa bình với nhau” trong nhiều cơ quan chánh quyền ở Trung Hoa. Trong bầu không khí thù nghịch và bất hợp tác thì hầu như không làm được gì, do đó đám quan chức hành chánh thư lại hầu là “ngồi chơi xơi nước”. Những kế hoạch do các nhóm Cách mạng đưa ra thì đám “cán-bộ-cũ-bị-truất-phế-nay-được-phục-hồi” gần như không được biết tới. Hơn thế nữa các “ông bà” cách mạng còn cẩn thận làm thế nào để chắc chắn các cán-bộ-được-phục-hồi không nắm lại được những quyền lực mà họ đã bị mất khi bị hất khỏi vị trí công tác trong thời Cách mạng văn hóa. Trong hầu hết mọi trường hợp, các cán-bộ-được-phục-hồi không phải là không nhận ra tình hình là tuy họ trên danh nghĩa đã được trả lại các chức vụ cũ, nhưng đó chỉ là hư danh không có thực quyền, được trả lương đầy đủ để “ngồi chơi xơi nước”. Các “ông bà” cách mạng vẫn nắm hết mọi việc và coi cán-bộ-phục-hồi như không có.
- Nhiều người tự nhận là bạn của con gái tôi đến thăm tôi bất kể giờ giấc nào để nói cho tôi nghe về cái chết của con gái tôi – tôi nói với anh Lý – “tôi quá mệt vì cứ phải tiếp và nghe những câu chuyện đau lòng về con gái tôi. Tôi già rồi, lại vừa bị một ca giải phẫu lớn nữa, tôi cần phải được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng”.
Lý gật gật đầu nom có vẻ suy nghĩ đăm chiêu. Anh ta chỉ tay vào tấm bìa bị xé và hỏi:
- Tại sao kẻ trộm lại muốn xé cái này? Dường như chẳng có lý do gì để kẻ trộm làm như vậy!
- Gia đình nhà Chu nói với tôi là kẻ trộm xé!
- Thôi được, để chiều nay tôi sẽ đến nói chuyện với gia đình bà Chu này.
Tôi cám ơn anh ta và trở về nhà. Dường như Lý không hề biết gì về đầu dây mối nhợ cái số “khách khứa” đến nhà tôi. Trong khi tôi chưa biết rõ cái kẻ đứng ở đằng sau giật dây số “khách khứa” đến quấy rầy tôi là ai, nhưng sự kiện Lý không bảo tôi đừng treo lại tấm bảng ấy đã giúp tôi thêm can đảm để quyết định lại làm một tấm bảng khác như vậy và treo lên nữa.
Về đến nhà, tôi đã thấy u già có mặt ở đó. Tôi nói với u tôi đi đâu và đưa cho u tấm bìa bị xé. U thì thào nói:
- Đám nhà mụ Chu nó xé chứ ai. Không lẽ trộm lại cất công lặn lội đến đây, trèo tường vào chỉ để xé tấm bìa này. Thật đúng là một lũ nói láo!
- Tại sao nhà mụ Chu lại muốn xé cái đó?
U già lại thì thầm như thể sợ hãi gì đó mặc dù lúc đó không có ai nghe lỏm chúng tôi:
- Thì phải có người nào đó biểu họ làm như thế.
- Ai có thể biểu họ?
- Nào ai biết?
U nói vậy chớ tôi biết là u biết. Tôi có một buổi chiều yên tĩnh. Tấm bìa thứ hai của tôi treo lên không bị phá phách gì và cũng chẳng ai lại gần cửa khóa cả. Ngày hôm sau, khi u già về rồi, cái ý định của tôi lại bị đem ra thử thách lần nữa. Mẹ của Hà An tới. Tôi nghĩ là bà ta sẽ đi khi đọc tấm bảng miễn tiếp khách của tôi. Nhưng chẳng những bà ta không đi mà còn gõ cửa và lên tiếng gọi. Thiệt khó mà làm lơ không tiếp bà bạn tôi. Nhưng tôi vẫn phải làm như vậy. Bà ấy gọi chán, bỏ đi.
Ngày hôm sau, đứa cháu tôi ẵm con của nó tới. Nó là con gái của người chị tôi lúc đó đã chết rồi. Khi cuộc Cách mạng văn hóa mới khởi phát thì nó mới chỉ mười mấy tuổi. Do cái lý lịch gia đình, nó đã bị ngược đãi dữ lắm. Kết quả là nó sợ sệt, nhút nhát, chỉ sợ mất lòng mấy “ông bà” Cách mạng. Vì tôi bị ở tù nên nó ngần ngại không dám tới thăm tôi. Tôi phải cho u già đến nhắc nó đến thăm tôi vào ngày Tết. Bởi vậy, tôi mới ngạc nhiên khi thấy tự nhiên hôm đó nó lại đến thăm tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ làm lơ không tiếp. Nó đứng ngơ ngác đó một lúc rồi bỏ về. Tôi ngờ rằng bà mẹ Hà An cũng như đứa cháu của tôi đều bị sai khiến tới để thử thách ý định của tôi. Nhưng tôi vẫn không lấy làm chắc lắm, cho nên tôi quyết định đến thăm bà bạn của tôi. Khi tôi giải thích cho bà má của Hà An lý do tại sao hôm bà đến, tôi không mở cửa cho bà, tôi hỏi:
- Chị có đọc tờ giấy “lưu ý” đó chớ?
- Có, tôi có đọc. Nhưng… Bà ta tần ngần nhìn tôi chòng chọc và không nói hết câu. Có lẽ bà ta đã bị sai tới. Mà không nói có thể là vì bà ta mắc cỡ, cũng có thể là vì bà ta sợ không dám tiết lộ bí mật. Bà ta cúi đầu và dường như rất bối rối. Lát sau bà ta mới nói được.
- Bộ chị tưởng làm như vậy thì hơn là kiên nhẫn chịu đựng mấy người khách tới thăm à? Chị có thể dùng thuốc ngủ. Sao chị lại đi dùng cách đối đầu? Chị không sợ họ sao?
- Chị nói lạ! Không, tôi không sợ. Tôi phải cự lại. Nếu không thì tôi cũng chết vì bực tức và thất vọng.
Ngay lúc nói như vậy, tôi cũng thấy nỗi tức giận trào lên, chẹn lấy ngực tôi. Bởi cái chết của con gái tôi, tôi càng ghét "lũ người theo Mao" hơn gấp chục lần lúc tôi còn đang ở trong tù. Tôi phải đi cự họ lại ít nhất cũng để an ủi tôi. Bà má Hà An nói với tôi:
- Chỗ tôi với chị là bạn bè lâu năm nên chị biết lòng tôi quý mến chị như thế nào. Tôi hy vọng chị hiểu những điều mà bình thường tôi không nói, không làm. Sống trong hoàn cảnh hiện nay ta không thể luôn luôn thành thật được.
- Ồ, phải, chị đừng lo, tôi hiểu rất rõ nữa là khác. Tôi nói với bà ta như vậy rồi ra về. Bà ta tiễn tôi ra tận ngoài đường và nói:
- Chị có đồng ý để tôi nói với mọi người là tôi bệnh quá không đi thăm chị được không? Tôi có lý do bởi vì tim của tôi quả thật là có bị rối loạn như chị đã biết!
- Dĩ nhiên được chứ. Cái thiệt thòi là chị em mình không được gặp nhau trò chuyện nhưng chẳng thà như thế lại hơn. Tôi không muốn nói chị bị đặt vào một tình huống khó xử.
- Tôi rất sung sướng đã được chị hiểu cho như vậy. Tôi hy vọng tình trạng này sẽ không kéo dài. Chị gắng gìn giữ sức khỏe.
Tôi cứ tiếp tục cứng rắn và vào buổi chiều không mở cửa tiếp bất cứ ai nếu không có hẹn trước. Đại Đức cũng không đả động gì đến tấm bìa "miễn tiếp khách kia". Nhưng anh ta cũng cẩn thận hẹn trước nếu anh ta định gặp tôi vào buổi chiều. Trong khoảng hai tuần lễ như vậy thì không còn ai đến nữa nhưng cái ý đồ quấy rầy tôi chưa phải là đã dứt. Nó chỉ thay đổi cách thức mà thôi. Một hôm trên đường tôi đi dạo về, thình lình có một đám học sinh nhỏ chạy theo tôi và la lên:
- Gián điệp! Đồ làm gián điệp cho đế quốc! Quân chó săn cho đế quốc!
Tôi tiếp tục đi, làm lơ như không biết. Nhưng có hai đứa trong số đó chặn tôi lại và tiếp tục la lối lên như vậy. Tôi không thể đẩy hai "ông con" này đi mà không gây chuyện. Bởi vậy, tôi dừng lại và nói chuyện với chúng:
- Đi với bác, ta nói chuyện một chút nhé!
Và, thế là chúng bỏ đi. Tôi tới trụ sở Ủy ban khu phố để phàn nàn về hành động của lũ trẻ. Nhưng họ nói họ không làm gì được trừ khi tôi cho họ biết tên lũ trẻ đó.
Hành động đó diễn ra ngày này sang ngày khác. Dường như lũ trẻ ngồi chực sẵn đâu đấy hễ thấy tôi ló mặt ra đường là xúm lại nhục mạ. Tôi thay đổi giờ đi dạo. Cũng không có gì thay đổi. Và ở phía xa xa luôn luôn có một người cưỡi xe đạp. Khi lũ trẻ bắt đầu lên tiếng nhục mạ là hắn nhảy lên xe và đạp đi. Mặc dù lũ trẻ chẳng làm hại gì tôi và có vài người đi đường thấy vậy cũng đứng lại nhìn. Nhưng tôi vẫn không bỏ các cuộc đi dạo. Tôi cứ làm bộ như không biết đến chúng và cứ tiếp tục đi, làm như trong không thấy, không nghe thấy chúng.
Khoảng hai tuần sau, u già phát hiện ra có kẻ nào đó đã lấy phấn viết lên cổng nhà tôi "Một tên gián điệp xấc láo đang sống tại ngôi nhà này!” U già tức giận và tính lấy giẻ ướt lau đi. Nhưng tôi nói với u:
- Kệ, cứ làm như là không biết!
- Nhưng, nó lăng nhục mình - u nói - những người đi qua, người ta thấy, người ta sẽ nghĩ sao?
- Cứ để kệ, họ muốn nghĩ sao thì nghĩ. Dù sao thì họ cũng đã quá quen thuộc với những thứ thông điệp kiểu đó. Trong những năm có cuộc Cách mạng Văn hóa, có thiếu gì những thứ thông điệp như vậy được viết ở cổng nhà người ta?
Buổi chiều, cứ vào đúng giờ thường lệ, tôi đi dạo và lần nào tôi cũng thấy con người đó đạp xe đi ngang. Hắn đi khá sát gần tôi đến nỗi tôi có thể nom rõ mặt hắn cùng với cả mái tóc đen rối bù của hắn. Hắn vào khoảng ngoài ba mươi tuổi. Tôi còn nhận thấy rõ cái bao yên xe đạp của hắn màu vàng sáng. Ngay khi hắn thấy tôi ra khỏi cửa là hắn leo lên xe đạp đạp đi. Tôi khép cánh cổng không nhìn vào "thông điệp" viết bằng phấn ở đó và tiếp tục đi. Vài ngày sau một trận mưa lớn đã làm trôi bức "thông điệp" viết bằng phấn kia. Không lâu sau đó lũ trẻ dường như cũng thấy mệt và thấy chán cái trò chơi vớ vẩn của chúng. Điều đáng để ý là đâu phải Đại Đức không thấy cái "thông điệp" viết bằng phấn trên cánh cổng nhà tôi mỗi khi anh đến học Anh văn, nhưng anh ta không hề đả động gì tới. Tôi được vài ngày yên ổn. Ngày 27 tháng 3 năm 1975 là ngày kỷ niệm năm thứ hai ngày tôi được thả ra khỏi nhà tù số 1. Sáng hôm đó, tôi ngồi ngoài ban công dưới ánh nắng mặt trời mùa xuân lợt lạt, lặng lẽ đọc thơ Đường và đan áo len. Đến chiều, tôi ngồi tưởng nhớ tới những năm tôi ở trong xà lim, nhớ lại những mụ cai ngục, những câu hỏi - đáp trong các cuộc thẩm vấn và cơn đói, lạnh, những hành hạ, đau đớn, khổ cực mà tôi phải chịu. Nhìn vào hai cổ tay, hai vết sẹo vẫn còn đó, cho đến lúc tôi chết. Mặc dù tôi không còn bị giam giữ trong xà lim nhưng dường như cuộc đấu tranh của tôi chống lại sự ngược đãi chưa phải là đã chấm dứt. Kẻ thù của tôi vẫn lởn vởn vây quanh cuộc sống của tôi. Tôi vẫn tiếp tục cảnh giác.
Tôi chán quá chẳng muốn đi ra ngoài. Và như vậy tôi mất một buổi đi dạo. Hai ngày sau, trời mưa phùn dày đặc. Mặt trời không xuyên thủng những tầng mây dày đặc và xám xịt.
- Bữa nay bà tính không đi dạo sao? Trời hôm nay đẹp mà! U già nói vậy khi u sửa soạn ra về.
- Ồ, có chứ, hôm nay tôi sẽ đi!
- Có lẽ, bà tiện thể đem cây cán chổi lau nhà ra hợp tác xã để đổi lấy một cây mới.
- Tôi có phải đem cây cán chổi đi không?
- Dạ phải. Ở đó, họ chỉ có những cây cán ngắn. Họ sẽ không cho bà cây chổi lau nhà mới nếu bà không mang cây cán chổi cũ tới.
Giờ thường lệ là khoảng ba giờ, tôi đi ra đường, tay cầm cây cán chổi lau nhà cũ để đi đến cửa tiệm hợp tác xã. Tại đó mấy bà nội trợ quanh quanh đó đến làm những việc lặt vặt để tăng thêm thu nhập. Tôi bị theo dõi mà không biết. Khi tôi từ vỉa hè bước xuống mặt đường dành cho người đi bộ để qua bên kia đường thì thình lình có một cái gì đó đụng mạnh vào sau lưng tôi. Tôi bị hất té ngửa ra đường ngay chỗ lối xe buýt chạy. Chiếc xe buýt từ từ chạy qua cán cây chổi lau nhà. Tài xế thò đầu qua cửa sổ xe la lên: "Đi mà mắt ngó đâu đâu vậy? Muốn tự tử sao?” Chiếc xe buýt tăng tốc độ và vọt đi.
Mọi sự xảy ra quá nhanh và bất ngờ khiến tôi choáng người. Tim đập loạn. Hai đầu gối muốn sụm. Người đã nhanh tay kéo giật tôi lại và do đó cứu tôi thoát khỏi bị xe cán đã nói với tôi:
- Bà bị một thằng cha đi xe đạp đụng phải rồi bỏ chạy luôn!
- Cảm ơn ông đã cứu mạng tôi! Giọng nói của tôi run run mà chính tôi nghe cứ tưởng như ai nói.
- Không! Không! Cũng may là chiếc xe buýt kịp dừng lại. Bà nên đi nhà thương xem xương có bị dập, gãy gì không? Ông bạn nhân từ cứu tôi nói như vậy.
- Tôi nghĩ chắc không sao, chỉ bị trầy da. Xin ông vui lòng đi theo tôi. Tôi muốn cám ơn ông một cách cụ thể bằng một món quà. Ông có thể cùng tôi đến đồn công an báo cáo vụ này được không?
- Bà không bắt được thằng cha đi xe đạp thì công an cũng chẳng làm gì được đâu. Vả lại tôi có cuộc họp đang chờ!
- Ông có trông rõ người đi xe đạp đụng tôi không?
- Không rõ lắm. Nhưng tôi để ý thấy cái yên xe của hắn có cái gì đó sáng sáng lấp lánh.
- Có phải cái bao yên của hắn lắp lánh ánh kim vàng không?
- Hắn ngồi che kín cái yên đó. Nhưng ở cái yên đó có cái gì đó đập vào mắt tôi.
- Có phải mái tóc của hắn bù xù và cứng như rễ tre phải không?
- Phải, bà có trông thấy hắn hả? Hắn là kẻ thù của bà hả?
- Không, tôi không biết hắn. Nhưng trước đó, tôi có nhìn thấy hắn!
- Thôi, bây giờ tôi phải đi họp. Bà nên cẩn thận thì hơn. Hắn cố ý đụng bà. Đường lúc đó vắng chứ đâu phải là đông mà… Đụng rồi hắn chạy liền.
Tôi cảm ơn ông ta một lần nữa. Và ông ta đi lẫn vào trong đám đông.
Tôi quay về nhà, uống hai viên Aspirine và lên giường nằm. Mới chỉ hơn bốn giờ. Tôi ngủ thiếp đi chừng hơn một tiếng đồng hồ. Khi tỉnh dậy, tôi thấy thân thể mình cứng như tấm ván và đau đến nỗi tôi gần như không nhúc nhích gì được. Khó khăn lắm tôi mới ra khỏi giường và lần đi tới nhà tắm. Tôi nghĩ là tắm nước nóng sẽ làm cho tôi dễ chịu hơn. Nhưng không có u già thi làm sao mà có nước nóng. Tôi thấy đêm hôm đó dài tưởng như bất tận và tôi cảm thấy hết sức khó chịu. Sau cùng thì u già cũng đến và dọn ăn sáng cho tôi ngay ở trên giường. U rất buồn khi nghe biết tai nạn của tôi. Có lẽ u cũng đoán là tôi bị người ta cố đụng phải và cảm thấy có một phần trách nhiệm vì chính u đã báo cáo tôi sắp đi đâu. Cả buổi sáng hôm đó, lúc nào u cũng rơm rớm nước mắt.
Tôi nằm trên giường đọc thơ Đường trong khi u đun nước tắm cho tôi. Bỗng tôi chợt nhớ là ông Hồ hẹn sẽ đến thăm tôi ngay chiều hôm đó. Mặc dù muốn nằm lại trên giường, nhưng tôi vẫn trở dậy và sắp xếp phòng cho gọn gàng. Tôi không có cách nào để nhắn cho ông Hồ đừng tới. Sau Cách mạng Văn hóa không có một tư nhân nào có điện thoại riêng tại nhà nữa. Để gọi, người ta phải đến một phòng điện thoại công cộng. Người ta sẽ ghi số điện thoại mà ta muốn gọi và nghe luôn cả cuộc điện đàm. Và thường thì cô điện thoại viên hay "đi vắng" nên phòng điện thoại cứ khóa.
Ông Hồ tới vào lúc bốn giờ. Tôi mời ông uống trà và dùng bánh bích quy mà u già đã dọn sẵn trong bếp. Và tôi kể lại cho ông tôi bị một người đi xe đạp đụng phải và suýt nữa thì bị xe buýt cán chết. Tôi tưởng ông sẽ tỏ vẻ ái ngại, lo lắng và có lẽ sẽ nói là ông rất lấy làm buồn. Nhưng ông ta nhìn tôi chòng chọc với một vẻ rất trang nghiêm và nói với tôi:
- Bà hãy để cho tôi được chăm lo, săn sóc cho bà! Tôi sẽ vô cùng sung sướng nếu bà cho phép tôi được chăm sóc cho bà!
Dường như ông ta quá xúc động, đến nỗi giọng ông lạc hẳn đi. Phải chăng đó là một lời cầu hôn? Tôi không lấy gì làm chắc lắm. Và bởi vì tôi không quan tâm đến những gì xảy ra xung quanh tôi nên bất ngờ ông ta nắm lấy tay tôi. Dường như ông ta hết sức bối rối, lúng túng vì sự im lặng của tôi. Ông ta vội nói thêm:
- Bà nghĩ rằng việc hôn nhân là dành cho những người trẻ trung thôi sao? Có lẽ tôi đã quá xúc phạm đến bà bằng lời đề nghị ngu đần của tôi chăng?
- Ồ không, không phải vậy. Tôi nghĩ là những người già cũng được quyền nghĩ đến hôn nhân chứ. Và tôi chắc có nhiều bà chắc lấy làm hãnh diện và sung sướng nếu được kết hôn với ông. Phần tôi, tôi rất cám ơn ông và lấy làm hãnh diện về lời đề nghị của ông. Tuy nhiên tôi đã nguyện với ông nhà tôi là tôi sẽ trọn đời là bà Trịnh!
Nét mặt căng thẳng của ông Hồ đã dãn ra và ông ta mỉm cười có vẻ ngượng nghịu. Ông ta nắm lấy bàn tay tôi và nói có vẻ ngập ngừng:
- Tôi không biết bất cứ người đàn bà nào khác. Tôi đã chờ đợi… Nhưng bà đừng bận tâm! Tôi phải kính trọng quyết định của bà là thủ tiết với ông nhà ta. Tôi đã và vẫn còn hết lòng trọng nể và quý mến ông nhà. Ông là một con người thật cao quý!
Sau khi xiết tay tôi một cái, ông đã buông bàn tay tôi ra.
Giây phút khó xử ấy đã qua rồi. Tôi đã không từ chối thẳng thừng làm cho ông ta mất mặt. Người Trung Hoa không có cái lối từ chối như vậy. Tuy lời đề nghị của ông ta không đi đến kết quả mong muốn, ông Hồ thỉnh thoảng vẫn cứ đến thăm tôi. Vẫn luôn vui vẻ và đứng đắn. Nhưng những lần thăm viếng cứ lơ dần cho đến cuối cùng ông trở lại cái lệ cũ là chỉ đến thăm tôi vào dịp tết Nguyên Đán. Năm 1978, đặc biệt, ông đến cho tôi hay là ông đã hoàn toàn được phục hồi và đã phục chức cũ là trợ lý giám đốc và kỹ sư trưởng trong xí nghiệp của ông. Ông bận bịu đương đầu với những vấn đề "hậu Cách mạng Văn hóa" và cố gắng để trở lại mức sản xuất như trước kia.
- Tôi làm việc mười sáu tiếng một ngày - ông nói "Tôi ao ước mình trẻ lại để làm nhiều hơn. Có nhiều điều phải làm cũng như có nhiều điều phải học thêm. Tôi đã hoá ra rỉ sét rồi!", ông nói. Nom ông có vẻ sung sướng và như có vẻ trẻ lại đến cả chục tuổi. Năm 1980, khi tôi được cấp giấy thông hành xuất ngoại, tôi có viết thư chào giã từ ông.
Ông ta đến thăm tôi lập tức và nói với tôi là ông cũng đã đoán là tôi muốn rời khỏi nước. Nhưng tôi không nghĩ rằng ông đã có lúc nào hiểu được cái lý do khiến cho tôi ở vào cái tuổi này mà vẫn đành phải chọn cuộc sống bấp bênh nơi đất khách quê người hơn là sống một cuộc đời bình lặng trong một gia đình có nề nếp tại quê hương xứ sở của tôi.
Thật ra ở vào cái tuổi lục tuần mà vẫn được một người đàn ông đàng hoàng xin cưới hỏi thì phải là một điều thú vị nếu không muốn nói là vạn hạnh. Tôi cũng đang trong tâm trạng khoan khoái đó mặc dù thân thể vẫn còn đau như dần. Đúng lúc đó thì Đại Đức đã tới.
Tôi chưa mở cửa trước và vừa mới ăn sáng xong thì nghe thấy anh ta đi lên cầu thang để đến học. Nhìn đồng hồ, tôi thấy Đại Đức đến sớm hơn hai mươi phút.
- Bữa nay anh đến sớm, tôi nói khi anh ta xuất hiện ở cửa.
- Tôi có điều hay lắm muốn nói với bà - anh ta nói - nụ cười nở rộng trên môi - trong một tương lai không xa, tôi có thể được đi Bắc Kinh.
- Thật không, chắc anh được bố trí công tác ở đó?
- Chưa! Nhưng cũng có thể tôi sắp có một cơ hội kỳ diệu, anh ta nói và ngồi xuống ghế đối diện với tôi.
- Anh dùng trà và vài miếng bánh mì nhé? Tôi hỏi, vì biết lúc nào Đại Đức cũng đói.
- Vài miếng bánh mì thì tốt quá. Anh vào bếp và quay trở lại với bốn miếng bánh mì mà anh ta ăn trong nháy mắt. Không hiểu anh ta đã ăn sáng chưa nhưng tôi thấy không tiện hỏi.
Lôi từ trong cặp ra một cuốn sách, Đại Đức hỏi tôi:
- Bà có nghĩ là ta nên nghiên cứu cuốn này ngày hôm nay không?
Đó là cuốn "Etiquette" (nghi thức xã giao) của Emily Post.
- Sao anh lại muốn nghiên cứu cuốn đó? - tôi hỏi - nội dung của cuốn đó không dùng được ở Trung Hoa!.
- Ngoại trừ những người Trung Hoa làm công tác ngoại giao ở nước ngoài! Anh ta nói.
- À, tôi hiểu. Đó là tin hấp dẫn của anh đó phải không? Anh sắp đi học Viện ngoại giao để được huấn luyện trở thành một nhà ngoại giao phải không? Nếu đúng như vậy thì xin có lời chia vui!
U già tới, và đi thẳng vào phòng tôi. U già lo lắng hỏi:
- Bữa nay bà đã khá chưa? Bà còn đau nhức nữa không?
- Cám ơn A Di, bữa nay tôi đã khá hơn!
U già dọn bàn và rời khỏi phòng. Đại Đức hỏi tôi: "Bà bị bệnh?"
Tôi đáp:
- Tôi bị một người cố ý đụng xe đạp cho té và suýt bị xe buýt cán chết. Tôi tưởng anh biết điều đó rồi chứ?
- Làm sao tôi biết được? Thế bà nghĩ là tôi đứng đằng sau những cái trò vớ vẩn, làm phiền bà sao chứ?
- Không! Tôi không nghĩ là anh đứng đằng sau những cái trò quấy rầy đó. Nói thế thì oan cho anh quá! - tôi nói với anh ta - nhưng tôi nghĩ rằng anh ta phải biết hay ít nhất cũng được người ta cho biết. Tôi nghĩ rằng ai đó đứng đằng sau những cái trò quấy rầy đó chắc là phải tin cậy anh lắm!
Lần đầu tiên tôi thấy Đại Đức nhăn nhó và nom có vẻ ngượng.
Anh ta nói:
- Bà không hiểu. Bà tưởng là họ được toàn quyền muốn làm gì thì làm sao? Không! Và thế gian này không phải chỉ gồm có hai loại người: Người tốt và người xấu. Dù sao thì người ta vẫn thường bị bắt buộc phải làm những điều xấu và người xấu thì lại làm những điều tốt. Bà sẽ không bao giờ biết được những gì tôi đã làm cho bà. Và cái đó cũng chẳng cần. Tôi chỉ nói thế này là bà hiểu ngay: Tôi đâu phải gỗ, đá. Bà đã đối xử tử tế với tôi mà. Tôi thường nghĩ và có lẽ sau bà mẹ tôi thì chưa có ai đối xử tử tế với tôi bằng bà. Bà nghĩ là tôi lại có thể cho phép một kẻ nào cố ý đụng xe đạp vào bà để cho xe buýt cán chết bà sao? Đại Đức nói những lời lẽ đó bằng giọng như bị xúc phạm.
- Phải! Nhưng anh không được nói cho biết thì nguy rồi đấy. Tôi sợ là người ta hết tin anh rồi đấy! Tôi đáp lại, giọng châm chọc.
- Bà có chắc đó không phải là một tai nạn không đã?
- Lúc bấy giờ đường rất vắng xe. Không có lý do gì - nếu không cố ý - để có thể đụng tôi được hết. Tuy nhiên, nói cho công bằng ra thì chiếc xe buýt đi tới là hoàn toàn ngẫu nhiên!
- Tất cả sự việc đó là hoàn toàn ngẫu nhiên, Đại Đức cố cãi.
- Không! Từ trước, lâu rồi, tôi đã thấy anh chàng cưỡi xe đạp này. Và chính cái người đã đỡ tôi dậy đó và đã nói với tôi anh chàng cưỡi xe đạp có mái tóc cứng, bù xù và có cái yên xe đạp màu sáng mà!
Cứ như cung cách của Đại Đức, tôi hiểu anh ta biết thằng cha cưỡi xe đạp kia là ai. Sau một chút có vẻ ngần ngại anh ta nói:
- Bà sẽ không giận nếu tôi có lời khuyên bà chứ?
- Cứ tự nhiên, tôi đáp, và ngồi tựa lưng vào ghế, sẵn sàng nghe.
- Bà có nhận thấy là có người có thế lực đang ghét bà, vì sự gan góc, bướng bỉnh của bà không? Bà làm cho họ có cảm tưởng là bà khinh bỉ họ, coi thường họ. Họ muốn là họ được trọng nể, được sợ, được tôn kính. Nhưng họ nghĩ là bà đã cười vào mặt họ. Tại sao bà lại không chịu dấu cái kiểu thách thức và nhẹ nhàng hơn một chút? Hay ít ra thì cũng "uyển chuyển" hơn một chút?
- Như thế nào là "nhẹ nhàng", là "uyển chuyển"?
- Đừng phản ứng khi có cái gì đó xảy ra! Đừng nổi giận! Cứ nhìn vào cái "cáo thị" của bà để ngoài cửa đấy - Trung Hoa này không có ai làm như vậy cả. Ở bên nước Anh thì nhà riêng của bà cũng là cái pháo đài của bà. Nhưng ở Trung Hoa thì không như vậy được. Khi bà không để cho người ta đến gặp bà một cách thoải mái và khi bà tìm cách để cho u già nghỉ buổi chiều, thì tất nhiên người ta phải đánh dấu hỏi bà đang toan tính cái gì? Bà không nghĩ là Ban Nhà đất có thể ghép một gia đình nữa vào ngay một trong hai phòng trên lầu này sao? Với cái lý do rất đơn giản vì u già già không nghỉ ở đây nữa?
- Làm gì có nhà tắm. Một gia đình nữa mà ở thì không thể đi qua phòng ngủ của tôi để vào nhà tắm?
- Ôi, bà ơi, bà không có một ý tưởng gì về vấn đề nhà cửa ở Thượng Hải này hết - Đại Đức nói - Trong thành phố này, hiện nay có nhiều gia đình chen chúc nhau trong một cái phòng mà không có lấy một cái phòng tắm nữa kìa. Bà phải coi cái việc Ban Nhà đất không ghép vào đây một gia đình nữa thì đó là một sự biệt đãi lắm đó. Bà nên hiểu như vậy.
- Anh nói sao tôi không hiểu. Tại sao một mặt thì người ta cứ ngược đãi tôi, quấy rầy tôi, một mặt người ta lại biệt đãi tôi là làm sao?
- Tôi không thể nói với bà nhiều hơn cái điều mà tôi khuyên bà chớ có nên nhìn tình hình, sự việc một cách giản đơn như vậy. Trong mỗi bộ phận chính quyền đều có nhiều người với những quyền năng để làm nhiều chuyện. Họ luôn luôn không đồng ý với nhau, nhất là trong lúc này.
- Tình hình cực kỳ phức tạp. Nên nhớ rằng có rất nhiều người ái ngại cho số phận của bà. Họ biết bà chỉ là nạn nhân hay chỉ là bị biến thành nạn nhân. Họ rất hối tiếc về cái chết của con gái bà. Thôi, xin bà tỏ ra "nhũn" đi một chút. Cuộc đấu tranh chính trị đã tới giai đoạn quyết liệt rồi. Tại sao lại cứ muốn chịu nhiều đau khổ hơn những gì mình đã chịu?
- Có lý! Đại Đức vậy mà khôn ngoan! Tôi sẽ cố gắng tỏ ra nhũn và cam chịu chút nữa như anh nói. Nhưng cuộc sống như vậy thì u ám quá!
- Không! Cuộc sống sẽ không u ám đâu. Nhiều cái đang sắp sửa xảy ra đấy!
- Chẳng hạn như Đại Đức sắp tới học viện Ngoại giao để được huấn luyện trở thành một nhân viên ngoại giao?
- Tôi không đến đó để được huấn luyện. Đồng chí Giang Thanh đã nói rằng Bộ Ngoại giao phải được tổ chức lại. Những thanh niên nam nữ trung thành với Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại sẽ được đưa tới đó. Đồng chí nói "phải trộn cát vào đống đất sét cho nó nhão ra". Bộ ngoại giao nằm trong tay Trần Nghị và Chu Ân Lai đã quá lâu đến nỗi nó đã trở thành một vương quốc độc lập và đầy đủ những tư tưởng tư sản. Bây giờ đã đến lúc người vô sản phải tiến vào đó.
- Anh sẽ được đưa đi đến nước ngoài ngay sau khi đến Bắc Kinh chứ? Tôi hỏi Đại Đức. Qua nhận định của Đại Đức, tôi hiểu là Giang Thanh muốn nắm lấy Bộ Ngoại giao.
- Cái đó thì tôi không biết. Đồng chí Giang Thanh muốn là trong mỗi tòa đại sứ phải có vài "cán bộ cách mạng". Sẽ có sự kháng cự. Vì vậy sẽ có sự đấu tranh. Nhưng được hậu thuẫn của Mao Chủ Tịch, thế nào bà ta cũng sẽ thắng. Tên của tôi được ghi trong danh sách tuyển số người ở Thượng Hải. Tôi hi vọng là sẽ được chọn. Tiếng Anh của tôi còn "ngon lành" hơn nhiều tên trong danh sách đó.
- Đại Đức, tôi hi vọng anh sẽ được chọn. Đó là một cơ may cho anh đó. Còn hơn là cứ dính ở đây với mấy "ông" Cách mạng, rồi anh cũng sẽ lẫn lộn vào trong đám ấy thôi. Nói xin lỗi, đối với tôi, cái đám ấy là một lũ côn đồ.
Đại Đức lại đỏ mặt lên lần nữa. Nhưng anh ta không cãi lại để bảo vệ đồng chí của anh ta. Chúng tôi để ra cả một buổi sáng để nghiên cứu những nguyên tắc cơ bản của phép xã giao lịch sự. Khi ra về, anh ta có vẻ sung sướng vì con đường tương lai sắp rạng rỡ. Bây giờ anh ta tin là anh ta được tưởng thưởng cho cái công lao bấy nhiêu năm phục vụ cho bọn côn đồ.
Trong năm 1975, chiến dịch tố cáo trên báo chí cũng như một làn sóng thủy triều dâng lên. Đề tài này vừa cạn một chút thì đề tài khác lại tiếp tục tuôn ra đến điếc cả tai. Khi thấy sự căm phẫn của người dân Trung Hoa đối với Đức Khổng Tử đã xẹp rồi thì một đợt tố cáo nhân vật khác lại được moi ra để kích thích và nuôi dưỡng hứng thú của người dân. Bằng cách ấy "lũ người theo Mao" tạo ra cái gọi là "cách mạng thường trực" và cố giữ làm sao để cho nó luôn luôn được sôi động.
Một hôm tờ nhật báo Thượng Hải giải phóng tung ra một bài báo chiếm trọn trang một tờ báo - tờ này chỉ có bốn trang - để tố cáo một cuốn phim do một nhà làm phim nổi tiếng người Ý thực hiện để mô tả đời sống ở Trung Hoa. Bài báo đó được đọc cho chúng tôi nghe tại một buổi học tập và bản thân nhà làm phim Antonioni bị kết án bằng những lời lẽ hết sức mơ hồ. Trong đám dân chúng tôi, chưa có ai từng được nói về Antonioni và ngay cả việc ông ta đã đến Trung Hoa để làm phim, chúng tôi cũng không biết nữa. Hơn thế nữa, cuốn phim đó chưa hề được chiếu ở bất cứ rạp chiếu bóng nào ở Trung Hoa. Tôi đã đọc một cách rất kỹ lưỡng bài báo đó, cũng như những bài báo khác "phụ họa" theo quan điểm đó. Dần dần tôi nhận ra việc tố cáo, đả kích Antonioni chỉ là một cái cớ xuyên qua đó người ta tố cáo, đả kích người đã cho phép Antonioni vào đất Trung Hoa để làm cuốn phim đó. Cũng chỉ là ngón võ cũ: "Nói đằng đông, động đằng tây!” Bài báo cho rằng, tất cả những cảnh Antonioni đã thu vào ống kính chỉ là để phô bày cái nghèo đói, lạc hậu, buồn thảm ở Trung Hoa dưới chế độ cộng sản. Và đó là phản ánh của tư tưởng lạc hậu của những kẻ đã cho phép ông ta đến Trung Hoa để làm cái điều đó. Còn hơn thế nữa, cuốn phim ấy được nhiều tòa đại sứ Trung Hoa chiếu để chiêu đãi các vị khách ngoại quốc nữa. Trước đó không lâu, tôi được biết mục tiêu đích thực trong chiến dịch đả kích Antonioni là nhắm vào ngài Thủ tướng Chu Ân Lai và đệ nhất phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình. Dường như chính các vị này đã cho phép Antonioni vào làm phim và dĩ nhiên, họ chịu trách nhiệm về các tòa đại sứ của Trung Hoa tại các nước khác.
Có rất nhiều trường hợp khác tương tự như chiến dịch chống Antonioni nhiều đến nỗi không kể xiết. Tất cả những chiến dịch tố cáo, đả kích ấy thật ra chỉ là hỏa mù che đậy những cuộc tấn công thực sự trực tiếp nhắm vào ngài Thủ tướng hoặc vào vị phó thủ tướng, một người đang hết sức phục hồi sản xuất cả trong các xí nghiệp lẫn ở các công xã nông thôn.
Một hôm, tôi được một học viên tiếng Anh của tôi cho biết là Trương Xuân Kiều, nhân vật số một của Thành ủy Thượng Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, một thủ túc thân tín lâu đời của Giang Thanh đã nói như thế này:
"Chẳng thà chúng ta có chủ nghĩa xã hội với sản lượng thấp còn hơn chủ nghĩa tư bản với sản lượng cao". Thế là bọn quá khích cực đoan ở nông thôn liền lặp lại lời vàng ngọc ấy thành "chẳng thà chúng ta có chủ nghĩa xã hội với sản lượng thu hoạch thấp còn hơn là chủ nghĩa tư bản với sản lượng thu hoạch cao". Không chịu thua, mấy tên côn đồ ở cục Đường sắt nhái lại lời vàng ngọc ấy thành ra "chẳng thà chúng ta có chủ nghĩa xã hội với xe lửa chạy không đúng giờ còn hơn chủ nghĩa tư bản với xe lửa chạy đúng giờ!” Và trong bầu không khí "thi đua" rất hào hứng ấy, công nhân đến xí nghiệp ngại làm nhiều, nông dân làm ruộng lề mề, các tài xế xe lửa, xe buýt và thậm chí cả mấy ông đánh xe ngựa thồ cũng đi chầm chậm để có "chủ nghĩa xã hội không đúng giờ”. Nền kinh tế vốn đã bị trì trệ nay được chỉ đạo thêm bằng những lời vàng ngọc đó lại càng trở nên bết bát. Với sự kiểm soát chặt chẽ guồng máy tuyên truyền và các tổ chức chân rết "cực đoan" đư
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện