DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 15

Chương 15: Một Học Viên Khác Thường

Vài ngày sau Tết Dương Lịch, tôi đáp xe buýt đi đại lộ Phú châu nơi có nhiều hiệu sách lớn. Trước tiên, tôi ghé quầy sách ngoại văn hi vọng tìm được cuốn sách giáo khoa tiếng Anh nào tôi có thể dùng dạy cho khóa học tiếng Anh mà tôi sẽ mở vài ngày nữa. Hiệu sách rộng mênh mông nhưng vắng tanh vì ngoài cô bán hàng và tôi, không có một ai khác. Trên các quầy sách "ngoại văn" bày trên tủ chỉ thuần là sách do Mao Trạch Đông viết và được dịch ra ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga và các bộ Mác - Ăng ghen toàn tập, bộ Lênnin toàn tập, Stalin toàn tập và sách của Angve Hốt gia (chủ tịch Albani). Ngoài ra, không có sách gì khác. Ở gần cửa ra vào có ít báo ngoại văn của các Đảng Cộng sản các nước bạn để đóng bụi trên quầy. Tôi nhìn qua tờ nhật báo Công nhân (Daily Worker) của Đảng Cộng sản Anh thấy tờ báo ấy đã ra cách đó gần hai tháng.
Tôi đi về phía người thư ký và hỏi: "Có loại sách giáo khoa dạy tiếng Anh không, cô?"
Cô ta lẳng lặng lắc đầu. Tôi đi tới hiệu sách chính của thành phố - hiệu Tân Hoa - nơi đại lý bán và phát hành các ấn phẩm, hi vọng mua được cuốn "Ba trăm bài thơ Đường". Hiệu sách Tân Hoa tương đối hoạt động hơn. Một đám đông nho nhỏ xúm xít trước quầy sách kỹ thuật và cô bán hàng có vẻ bận rộn một chút. Cũng có một số khách hàng mua truyện tranh thiếu nhi kể lại sự tích các anh hùng quân đội cách mạng, cuộc triệt hạ bọn địa chủ và lột mặt nạ các người được gọi là Quốc Dân Đảng phản cách mạng… Cả khoảng giữa rộng mênh mông của hiệu sách chỉ trưng bày thuần có một thứ sách của Mao Trạch Đông, từ các bộ toàn tập cho đến các cuốn "Mao tuyển" và các tập thơ của Mao, đủ kiểu từ bọc bìa da chữ mạ vàng cho đến bọc bìa vải in trên giấy quí… cho đến bìa giấy, bày kín trên các kệ. Lúc ở trong tù, tôi được biết qua báo chí là có tới 150 triệu bản Mao Trạch Đông toàn tập để "mỗi gia đình có một bộ" và bảy trăm năm chục triệu bản "Mao tuyển" để "mỗi người Trung Hoa có một cuốn". Và trên các kệ cũng có các bản dịch sang tiếng Hoa các tác phẩm của Mác, Ăng ghen, Lênnin, Stalin, Kim Nhật Thành, Ăngve Hốtgia. Cô bán hàng ngồi "ngáp gió" trước các kệ đầy ắp sách. Nhưng chẳng có một khách hàng nào.
Ở một góc hiệu sách, dưới cái nhãn "sách văn học" cũng có ít sách bày trên kệ. Sách bày xa và cao quá nên tôi không nhìn thấy tên sách. Tôi lại chỗ cô bán hàng và hỏi: "Có cuốn ba trăm bài thơ Đường không, cô?” Cô bán hàng lắc đầu và nói: "Không! Tất nhiên là không". Qua giọng nói của cô, tôi hiểu là mấy ông cách mạng cấp tiến đã dẹp bỏ "Ba trăm bài thơ Đường" rồi. Có lẽ cô bán hàng cho tôi là ngớ ngẩn hay sao mà đi hỏi lại sách đó.
Đưa tay chỉ vào mấy cuốn sách đằng sau lưng cô, tôi hỏi "Mấy cuốn sách kia là sách gì vậy, cô?”
Chẳng nói chẳng rằng, cô cầm lấy một cuốn đưa cho tôi coi tên sách. Đó là cuốn "Bài ca Âu Dương Hải" kể chuyện một anh bộ đội bị xe lửa cán chết khi anh ta cố để cứu một con lừa. Lòng can đảm và tinh thần hi sinh của anh ta được cho là anh đã chuyên chú nghiên cứu học tập và áp dụng lời dạy của Mao chủ tịch vào đời sống và vào công tác nên anh ta đã có tinh thần vô úy, nghĩa là chẳng biết sợ hãi là gì. Truyện này đã được "lũ người theo Mao" - đặc biệt là Giang Thanh - tán thưởng và in ra mấy chục ngàn bản. Tác giả của nó đã được đưa vào làm ủy viên Trung ương Đảng trong đại hội Đảng lần thứ 9.
"Tôi đã đọc cuốn sách này rồi, cảm ơn cô - tôi trao trả cô cuốn sách, tay chỉ vào cuốn khác - thế còn cuốn kia là cuốn gì?"
Cô cũng nhẫn nại lẳng lặng cầm lấy một cuốn đưa cho tôi. Cũng vẫn là cuốn "Bài ca Âu Dương Hải".
- Cô có tên sách khác không?
- Có cuốn "Nhật ký của Lôi Phong", cô đáp.
Lôi Phong là tên của anh bộ đội Trung Hoa khác đã chết và được "lũ người theo Mao" phong "anh hùng" và được đưa lên làm gương mẫu điển hình. Anh ta được tán tụng từ trước cuộc Cách mạng Văn hóa trong một chiến dịch "cả nước học tập Lôi Phong" khi phong trào giáo dục chính trị cho toàn thể nhân dân Trung Hoa thấm nhuần tư tưởng Mao Trạch Đông đang được đẩy lên cao độ. Những đoạn trích trong nhật ký của Lôi Phong, chẳng hạn "Đọc sách của Mao chủ tịch, chấp hành mệnh lệnh của Mao chủ tịch và trở thành chiến sĩ tốt của Mao chủ tịch", đã được trích dẫn rất rộng rãi trong các bài báo và bài nói của các lãnh tụ, kể cả Lâm Bưu. Trường hợp Lôi Phong đã được "lũ người theo Mao" trong quân đội dùng để minh họa điều khẳng định là "học tập chính trị quan trọng hơn võ khí hiện đại và sự tác chiến tinh nhuệ chứ không phải như các lãnh tụ quân sự bị thanh trừng trong cuộc Cách mạng Văn hóa đã chủ trương".
- Cám ơn cô - tôi trao lại cuốn sách trả cô - cuốn này tôi cũng đọc rồi. Cô còn cuốn nào khác không?
Cô bán hàng lắc đầu.
Tôi ra khỏi hiệu sách, lên xe buýt, về nhà. Tôi nghĩ rằng cuộc Cách mạng Văn hóa đúng ra phải được gọi là cuộc triệt hạ văn hóa.
Vì không kiếm được sách giáo khoa tiếng Anh nên tôi không nhận dạy tiếng Anh "vỡ lòng" cho những người mới bắt đầu mà chỉ nhận dạy những người đã biết qua loa và phải tự kiếm sách lấy. Tôi có sáu học viên, người thì học sáng người thì học chiều, kéo dài suốt từ thứ hai đến thứ bảy. Sau buổi học chúng tôi thường ngồi nói chuyện với nhau quanh tách trà. Các học viên của tôi thường kể cho tôi nghe những tin tức và những câu chuyện đồn đại không có trên báo chí. Qua câu chuyện với các học viên tôi mường tượng ra được tình hình chính trị rất bấp bênh và biến động của Trung Hoa vào thời điểm đó.
Một học viên làm cho tôi quan tâm và thích thú nhất, đã theo học tôi lâu nhất là một thanh niên đã là một "tay tổ" của Vệ binh đỏ thời Cách mạng Văn hóa. Đại Đức - tên của thanh niên ấy - hoàn cảnh cá nhân và gia đình thật bất hạnh. Cha của anh ta đã bỏ mẹ con anh ta khi anh ta mới được vài tháng. Ông ta bỏ trốn qua Hồng Kông đến nay vẫn chẳng có tin tức gì. Tiền nong không có, mẹ con anh - hai chị gái và anh ta - sống hết sức cơ cực trong nhiều năm, mãi cho đến khi bà mẹ kiếm được một chân dạy tiếng Anh ở Viện Ngoại ngữ. Lương bổng còm cõi. Mặc dù không còn phải quơ quào đồ đạc đem bán để ăn, nhưng cũng vẫn rất nghèo khổ. Người dì út của anh ta kết hôn với một ông tướng cộng sản từ những năm đầu của thập niên năm mươi. Nhưng - cũng như nhiều ông lãnh tụ khác trong Đảng đã biểu hiện niềm vui chiến thắng của mình bằng cách bỏ béng những bà vợ "nhà quê", đã chia sẻ với họ những ngày nằm gai nếm mật để kết hôn với các cô gái thành thị hấp dẫn hơn, dì của anh ta cũng bị ông tướng kia cho "de". Nhưng đó là chuyện về sau. Lúc đầu, nhờ mối liên hệ gia đình với giới ưu tú trong quân đội và nhờ lòng ghét cay ghét đắng bọn nhà giàu có, sự nghiệp của Đại Đức bốc nhanh như diều gặp gió. Ngay từ những ngày Vệ binh đỏ mới nhen nhúm hình thành, Đại Đức đã là "tay tổ" Vệ binh đỏ trong trường học của anh ta. Về sau cùng với sự phát triển của Vệ binh đỏ, Đại Đức đã leo lên được địa vị "tay tổ" Vệ binh đỏ toàn thành phố Thượng Hải. Anh ta tham gia vào tất cả mọi hoạt động của Vệ binh đỏ: cướp phá nhà cửa, tra tấn "kẻ thù giai cấp" trấn áp các phe phái "Vệ binh đỏ dỏm" và giết chóc người vô tội… Trong lúc tập nói tiếng Anh, tôi đã biểu anh ta kể bằng tiếng Anh cho tôi nghe các câu chuyện về Vệ binh đỏ. Anh ta đã kể cho tôi nghe các "công trình" của anh ta bằng một giọng hết sức thản nhiên cứ như ta nói về thời tiết mưa nắng vậy, chẳng tỏ ra hãnh diện mà cũng chẳng tỏ ra xấu hổ về những gì mình đã làm. Tôi nghĩ, chắc hẳn anh ta phải là người phi đạo đức. Tôi tự hỏi không hiểu sao anh ta lại muốn học tiếng Anh với tôi trong khi chính bà mẹ ruột anh ta lại dạy tiếng Anh. Có lần tôi hỏi thẳng anh ta về vấn đề này, anh ta chỉ nhún vai và trả lời: "Có lẽ bà chẳng nên hỏi thẳng ai một câu hỏi như vậy. Vả lại, dù câu trả lời đó có như thế nào đi nữa, chưa chắc bà đã chịu tin"!
Đại Đức đã nói với tôi là anh ta đã mất địa vị lãnh đạo của Vệ binh đỏ khi dượng của anh ta - nghĩa là họ hàng xa xôi của anh ta - tức là ông tướng (người chồng cũ đã bỏ người dì út của anh ta để lấy vợ khác rồi) đã bị chôn sống theo lệnh của Lâm Bưu. Việc này xảy ra sau đại hội Đảng lần thứ 9, khi Lâm Bưu đã được nâng lên địa vị "người nối ngôi chính thức" của Mao. Dượng của anh ta, một đảng viên lão thành, dày công hãn mã, anh hùng thời chiến với rất nhiều huân, huy chương bị hại như vậy chỉ vì ông ta dám công khai tỏ ý nghi ngờ Lâm Bưu đã nghiện hêrôin (á phiện trắng) cho nên không biết chỉ định Lâm Bưu vào địa vị ấy có là thích đáng chăng.
Nghe anh ta thổ lộ như vậy, tôi đã cười cười hỏi anh ta:
- Này, liệu tôi có thể tin được điều mà anh vừa nói không đấy?
- Được chứ, rất được nữa là khác. Bà tin điều đó chẳng có hại gì cho bà. Tuy nhiên, bà đừng có dại dột mà tin tôi nhiều hơn nữa bởi vì tôi không còn lãnh tụ của Vệ binh đỏ nữa và dượng tôi đã chết rồi. Nhưng tôi chắc bà hiểu rằng hoàn toàn tin vào một người nào thì có nghĩa là cả tin, là khờ khạo. Anh ta nói làm ra cái giọng khôn ngoan như một người đã nhiều tuổi, già dặn kinh nghiệm đời.
Tên anh ta là Đức, mà lại là Đức lớn nữa. Thế nhưng tôi chưa từng biết một người nào lại dửng dưng, thậm chí cho đến chỗ bất chấp - với cả cái tốt lẫn cái xấu - như anh ta. Thông minh, tự học, nhưng đồng thời anh ta cũng là người vị kỷ, tự cao tự đại không ai bằng. Có lẽ chính vì cái "ta" phát triển quá mức của anh ta, cái thói tự coi mình là quan trọng là biết nhiều và biết cả những chuyện "thâm cung bí sử" mà anh ta thỉnh thoảng lại kể cho tôi nghe những gì anh ta biết về cuộc tranh giành quyền lực giữa các vị lãnh tụ chóp bu của Đảng. Anh ta rất thích các cuộc xung đột, bất cứ loại xung đột nào. Khi nói về các âm mưu chính trị của các lãnh tụ chóp bu trong Đảng, mắt anh ta sáng lên, phấn khích. Dường như anh ta lấy làm thích thú với nỗi bất hạnh của người khác và khinh miệt nạn nhân chỉ vì họ không chiến thắng. Đối với anh ta, mọi thành công đều đẹp lấp lánh bất kể thành công ấy đã đạt được bằng cách nào. Cũng khó mà biết được anh ta trung thành với ai, trung thành với cái gì. Có lần tôi hỏi anh ta "Anh đứng về phía nào?"
Lấy tay chỉ vào ngực mình, anh ta đáp: "Dĩ nhiên, đây (ngực anh ta) là phía của tôi". Có lần thấy mấy ấn phẩm cũ của Vệ binh đỏ trên bàn giấy của tôi, anh ta nói:
- Bà đọc làm chi mấy cái đồ con nít ấy cho nó mất công ra. Anh ta nói chữ "con nít" ấy với cái vẻ hết sức coi rẻ.
- Tôi muốn biết những gì đã xảy ra trong thời Cách mạng Văn hóa, vì lúc ấy tôi đang bị tù!
- Tôi có thể kể cho bà hết tất cả mọi sự - anh ta kiêu hãnh nói - từ đầu đến cuối và còn hơn thế nữa kìa!
- Anh không sợ bị rắc rối vì nói ra những chuyện đó sao?
- Có sao, nếu bà đừng nói lại cho người khác. Mà nói thật, nếu bà có nói lại cho ai khác thì người bị gặp rắc rối chính là bà trước đã chứ không phải tôi.
- Nếu bằng cách nào đó, chính quyền biết được thì sao?
- Làm sao người ta có thể biết nếu cả tôi và bà đều không tiết lộ ra? Nhà bà đâu có gắn máy ghi âm!
- Có chắc thế không?
- Dĩ nhiên, chắc chắn là thế. Bà đâu đã quan trọng đến mức "được" gắn máy nghe trộm. Máy đó mắc và hiếm lắm - anh ta nói và cười rộ lên - nếu có máy nghe thì chỉ là "máy người" thôi!
Việc Đại Đức đến học tiếng Anh với tôi - sau này tôi ngẫm nghĩ mới nhận ra - là do một sự sắp đặt rất khéo, kín và bất ngờ. Khi tôi vừa nhận dạy tiếng Anh thì một trong số những bạn của Mai Bình, một tay chơi vĩ cầm trong ban nhạc Thành phố Thượng Hải (đã bị giải tán) đã đến xin học. Chị ấy nhờ tôi dạy cậu ta vì cậu ta có hi vọng được di cư sang Hoa Kỳ, tại đó có một người cậu làm giáo sư. Tôi cứ nghĩ là nếu vậy thì cậu ta sẽ rất chăm chỉ học tiếng Anh mới phải. Nhưng thật đáng ngạc nhiên là cậu ta ít chăm chú đến việc học, cho làm bài tập ở nhà cũng không làm nữa. Và nhiều lần đến học không đúng giờ. Một hôm, tôi đang đợi cậu ta và cảm thấy bực bội vì cậu ta thì anh chàng Đại Đức này tới. Anh ta tự giới thiệu xong, anh ta nói: "Tôi đến xin lỗi giùm Trương. Nó vừa được gọi đến công an để nhận giấy xuất cảnh nên hôm nay không đến học được!"
Anh ta tự ý ngồi xuống ghế đối diện với tôi và mở ngay cuốn sách anh ta mang theo và nói:
- Tôi xin lỗi làm phiền bà. Tôi đang cố gắng để tự học tiếng Anh. Bà làm ơn giảng dùm đoạn sách này, được không ạ?
Tôi nhìn qua cuốn sách, đó là cuốn "Gặt bão" (The gathering Storm) do ngài thủ tướng nước Anh Winston Churchill viết. Tôi hỏi anh ta:
- Anh kiếm đâu ra cuốn này vậy?
- Tôi mượn - anh ta nhấn mạnh vào tiếng "mượn". Một bộ những mấy cuốn, nhưng tôi chỉ mượn được chỉ có cuốn này thôi.
- Chắc trước anh là Vệ binh đỏ hẳn? …
- À, phải - anh ta cười và nói - bà đoán rất giỏi, đúng như tôi nghe nói về bà. Người ta cũng nói với tôi là cả thành phố Thượng Hải này, chỉ có bà là nói tiếng Anh giỏi nhất.
Chắc anh ta đã "thuổng" được cuốn sách này tại một nhà nào đó mà anh ta đã dẫn Vệ binh đỏ đến để "tiến hành các hành động cách mạng". Những cuốn kia chắc bị đốt mất rồi.
Vài ngày sau, cậu nhạc sĩ vĩ cầm đến cùng với Đại Đức để chào giã từ tôi và xin tôi cho Đại Đức được thế chỗ anh ta.
Mỗi khi đem trà ra mời Đại Đức, u già tỏ ra rất cung kính khép nép, trong khi đó, với những học viên khác thì u tỏ ra bình thường nếu không nói là lạnh nhạt. Thái độ của u già và cái "mánh khóe" để xin học của anh chàng Đại Đức này khiến cho tôi phải chú ý đến anh chàng cao lêu đêu như "sếu vườn" này. Anh ta cũng có vẻ rất muốn làm thân với tôi. Anh ta vẫn thường tìm cớ này cớ kia để đến nhà tôi ngoài những buổi học của anh ta. Anh ta nói với tôi là anh ta rất rảnh rang vì đang "chờ được phân công". Đó là một kiểu nói thay cho từ "thất nghiệp" một hiện tượng xã hội được coi là không thể có trong một nước Xã hội chủ nghĩa. Anh ta cũng có ý sẵn sàng giúp tôi việc gì đó để thay cho học phí. Anh ta thường theo tôi đi mua sắm. Anh ta thường xếp hàng cùng với tôi, và nếu xảy ra sự chen lấn thì anh ta chen lấn. Nhờ người cao, mắt tinh, anh ta có thể nhìn qua đầu người khác để giựt lấy từ tay người bán hàng trước khi khách hàng kịp cầm lấy. Nếu sau khi đi mấy tiệm mà không mua được những món tôi cần, anh ta đề nghị mua dùm tôi qua "cổng hậu". Trên xe buýt, anh ta đứng làm cái mộc để che cho tôi khỏi bị thiên hạ lấn, bằng cách khuỳnh hai cùi chỏ của mình ra và đẩy tới, đẩy lui. Sau ngày mệt nhọc như vậy, tôi ngỏ ý cám ơn thì anh ta chỉ cười đáp: "Tôi thích được đi mua sắm với bà lắm. Bà mua hàng toàn thứ tốt không à".
Chẳng bao lâu tôi nhận thấy anh ta là một tay ưa ăn ngon nhưng không có đủ tiền để đi ăn ở những nhà hàng sang. Bởi vậy mỗi lần cho anh ta đi theo mua sắm, tôi đều đãi anh ta một bữa ở nhà hàng do anh ta chọn. Lần đầu tiên được tôi mời như vậy, anh ta hỏi tôi:
- Bà muốn đi ăn trong những nhà hàng sang nhất chứ?
- Bất cứ nhà hàng nào do anh chọn lựa.
- Bất kể giá cả?
- Bất kể! Tôi cười đáp.
Vào nhà hàng, anh ta gọi món ăn và món nào cũng với số lượng cho bốn người ăn. Và món nào anh ta cũng ăn nhanh, gọn, sạch cả. Qua đó tôi hiểu anh ta "mảnh khảnh" như vậy chẳng phải là do thể tạng mà là do thiếu ăn mà ra. Tôi thấy tội nghiệp cho anh ta mặc dù tôi biết thừa đi anh là người được những kẻ muốn hại tôi sắp đặt để dò xét tôi.
Tôi sẽ là kẻ nói dối nếu tôi không thừa nhận là muốn lợi dụng anh ta. Nếu đúng là ai đó muốn "cài" anh ta vào vai trò đó để có thể "chộp" những lời nói "hớ" hoặc những hành động vô tình nào đó của tôi để lấy cớ hại tôi thì hẳn nhiên anh ta đã biết ít nhiều sự thật về cái chết của con tôi, như vậy trong một lúc thuận tiện nào đó, tôi có thể hỏi anh ta về điều ấy. Đó, tôi tính lợi dụng anh ta là lợi dụng chỗ đó.
Cơ hội thuận tiện ấy là lúc mà những tiết lộ như vậy không phương hại đến lợi ích riêng của chính anh ta. Trong lúc chờ đợi - theo ý tôi - tôi có thể dùng anh để truyền đạt một hình ảnh của chính tôi, do chính tôi muốn cho những kẻ muốn hại tôi.
Rất lâu trước cái ngày mà tôi có hi vọng rời khỏi Trung Hoa, tôi cố ý tạo cho họ cái cảm tưởng là tôi không thể sống được nếu tôi không có kẻ hầu người hạ. Có lần - tôi nghe nói - anh ta đã nói với Khổng: "Bà ấy ghét làm công việc nội trợ lắm, bất cứ là việc gì, bà nấu nồi cơm cũng không nổi nữa". Tôi chắc anh ta khinh miệt tôi, coi như là thứ "ký sinh trùng" ăn bám. Và có lẽ anh ta cũng đi nói với mọi người như vậy. Thật ra, tôi cố ý tạo ra cho mọi người có cái cảm tưởng như vậy với hi vọng tôi muốn ở lại đất Trung Hoa vì tôi muốn có kẻ hầu người hạ. Cảm tưởng ấy sẽ góp phần vào mục đích của tôi là để tôi được cấp giấy thông hành và người cấp giấy thông hành cho tôi sẽ nghĩ là tôi chỉ có thể sống ở nước ngoài vài tháng là lại quay về vì tôi "sống sao nổi nếu không có kẻ hầu người hạ?"
Đầu năm 1974, sức khỏe được phục hồi sau khi giải phẫu, nhà cửa sửa chữa tạm ổn, tôi thấy trong người thư thái, sảng khoái. Việc dạy học cũng làm cho tôi bớt ủ ê, phiền muộn vì cứ bị ám ảnh về cái chết của con gái tôi. Tôi cảm thấy tâm hồn bình thản, thoải mái hơn trong một thời gian dài.
Sắp đến tết Nguyên Đán, u già nói với tôi là chế độ lương thực đặc biệt cho mấy ngày tết trước còn bị giảm, sau đó, thời Cách mạng Văn hóa bị bãi bỏ nhưng đến nay thì lại được tái lập. Theo tôi thì dường như những nỗ lực của Đặng Tiểu Bình và các trợ thủ của ông trong việc phục hồi nền kinh tế của Trung Hoa đã mang lại những kết quả khả quan mặc dầu sức chống phá của nhóm cực đoan. Luồng gió chính trị của Trung Hoa đã đổi chiều sang phía hữu kể từ sau đại hội Đảng lần thứ 10, cũng như càng lúc càng có thêm nhiều những lãnh tụ cao cấp của Đảng bị tố cáo là "chó săn cò mồi" nay đã được phục hồi.
Các học viên của tôi đã cho tôi biết những biện pháp mạnh, kể cả việc bắt giam, đã được áp dụng đối với những "ông bà" cách mạng nào "cứng cổ" bất khoan nhượng. Một trong số học viên đã nói với tôi rằng vị Bộ Trưởng bộ đường sắt nối liền Quảng Châu - Thượng Hải - Bắc Kinh để tái lập hoạt động giao điểm này. Nhóm "ông bà" cách mạng chiếm giao điểm làm tê liệt hoạt động và không chịu tuân lệnh, ông Bộ trưởng Vạn Lý đã kêu gọi tổ chức một cuộc biểu tình quần chúng. Trong buổi mít tinh đó, ông ta đã công khai kết án nhóm lãnh tụ các "ông bà" Cách mạng thẳng vào mặt những tay em của các lãnh tụ này, và "hốt" nhóm lãnh tụ ấy đem bắn bỏ. Một quyết định cứng rắn như vậy của một Đảng viên lão thành đã làm hởi lòng hởi dạ người dân bị đau khổ quá lâu dưới sự áp chế của các "ông bà" cách mạng. Họ phấn khởi, cảm mến ông Vạn Lý và rất tán thưởng hành động của ông ta. Bất hạnh thay phát súng bắn gục mấy lãnh tụ cắc ké ở Tô Châu cũng là phát súng lệnh đẩy mạnh và đẩy nhanh vòng đấu thứ hai của phe cực đoan trong Đảng vì phe này thấy cái địa vị của họ đang bị lung lay, đất dưới chân họ đang bị xói mòn không biết sự sụp đổ lúc nào. Tuy nhiên, các lãnh tụ lão thành cũng như các đảng viên kỳ cựu không đi với phe cực đoan nhưng cũng cẩn thận không ra mặt công khai bác bỏ cuộc Cách mạng Văn hóa. Họ đã chọn trong những bài luận thuyết - nhất là những bài viết từ thời trước - để trích dẫn những câu nào có thể bảo vệ cho những nỗ lực tái lập trật tự và ngăn ngừa trước sự kiện có thể bị tố cáo là chống lại chính sách của Mao.
Những tục lệ trong ngày Tết cổ truyền gắn liền với việc thờ cúng ông bà. Những ngày tôi còn nhỏ, tục lệ "ăn Tết" kéo dài suốt một tháng nghĩa là từ rằm tháng chạp cho đến hết rằm tháng giêng tức là ngày Hoa Đăng. Cuộc sống đã giản đơn hơn cho việc cúng lễ tổ tiên, tuy nhiên người dân Trung Hoa dù nghèo khổ cũng vẫn theo nếp cũ nên cũng vẫn chuẩn bị cho ngày Tết Nguyên Đán một cách rất nghiêm cẩn. Trong những ngày tết, mọi thứ đồ đạc trong nhà phải được lau chùi quét tước sạch sẽ. Tôi và u già cũng đã để ra nhiều ngày để lau chùi đồ đạc quét dọn, lau cửa… Đó cũng là thời gian người Trung Hoa mặc quần áo mới. Không phải tất cả mọi người Trung Hoa lúc đó đều mặc quần áo mới, không những chỉ vì vải vóc đắt và còn vì vải vóc cũng được phân phối theo khẩu phần hạn chế. Xoay sở ghê lắm tôi cũng có thể kiếm cho u già một cái áo khoác bằng bông, nhưng được may kiểu cách kỹ lưỡng chớ không phải thứ "hàng chợ". Cả tôi và u đều phải gia công sắp hàng để có thể mua được kha khá lương thực đặng đãi khách đến chơi mấy ngày tết. Tôi mong tất cả các học viên của tôi đều đến thăm tôi theo như tục lệ của người Trung Hoa, môn sinh phải đến chúc tết ông thầy vào ngày đầu năm. Với những học viên nào có con, tôi đã chuẩn bị phong bao "lì xì", u già hơi lo sợ vì sợ Ủy ban khu phố thấy sẽ nói là tôi cố làm sống lại những cổ lệ cổ tục. Tôi nói với u là tôi chỉ lì xì cho những ai mà tôi đoán chừng là sẽ không đi tố cáo.
Nhờ giải tỏa được số tiền ngoại hối, rõ ràng là tôi sung túc hơn mọi người xung quanh, vì thế tôi cũng muốn rộng rãi với những người xung quanh. Tôi mua cả một cái bánh kem lớn và có đem một ký sô cô la để làm quà cho gia đình mụ Chu. Trong thâm tâm tôi dù sao tôi cũng rất buồn. Bởi vì xung quanh tôi, các gia đình dù có nghèo thật nhưng gia đình cũng xum họp đông đủ, chỉ có tôi là cô độc, ký ức về những ngày Tết đã qua tôi được sống với ông nhà tôi, với con gái tôi vẫn còn rõ nét. Nhưng tôi quyết không để lộ cho bất cứ ai biết tôi cảm thấy ra sao trong những ngày Tết. Tôi muốn cho các "ông bà" Cách mạng tưởng rằng tôi đã có một thái độ chấp nhận số mệnh đối với cái chết của con tôi.
Hai ngày trước Tết Nguyên Đán, Hà An cùng với chồng và hai đứa con về nhà ăn Tết. Tôi rất sung sướng được gặp chồng của Hà An, một thanh niên thông minh và nghe nói về những cuộc đấu tranh giành quyền lực của các ông to đầu ở Bắc Kinh. Hai đứa con của Hà An thật dễ thương. Chúng còn nhỏ quá nên chẳng biết thế nào là đám mây đen chính trị đang lẩn quẩn trên đầu cha mẹ chúng cũng là trên đầu chúng. Chúng hoàn toàn vô tư và sung sướng.
Hà An thật có phước vì có chồng, có con, gia đình đầm ấm. Rất nhiều thanh niên ở các thành thị bị đẩy đi xa khỏi gia đình để đến tận những nơi xa xôi heo hút trên khắp nước Trung Hoa, cách xa nhà cả mấy ngàn cây số và một năm chỉ được vài ngày phép về thăm vợ của mình. Có những đứa trẻ lớn lên hầu như không biết mặt ba nó. Trong khi đó người phụ nữ phải cáng đáng đủ thứ như vừa phải chăm sóc dạy dỗ con vừa phải đi làm việc để nuôi thân và nuôi con. Mao Trạch Đông đã nhân danh cái gọi là "yêu cầu của Xã hội chủ nghĩa" và cái gọi là "yêu cầu phục vụ nhân dân" để bắt thanh niên nam nữ Trung Hoa phải chịu cái cảnh sinh ly tàn bạo và ngu xuẩn ấy. Sự đểu cáng và giả nhân giả nghĩa ấy càng tăng lên khi bản thân các ông lớn trong Đảng và con cái họ chẳng bao giờ hay là rất ít khi phải đáp ứng "yêu cầu" xây dựng Xã hội chủ nghĩa, yêu cầu phục vụ nhân dân theo cái kiểu chia lìa tàn bạo ấy. Ngược lại, họ được đặc biệt "chiếu cố" và được phân công tác ngay tại thành phố của vị hôn phối họ.
Tin tôi được thả đã lan rộng trong số bạn bè của Mai Bình. Trong thời gian Tết, nhiều người trong số ấy đã đến thăm tôi, kể cả những người chỉ được vài ngày phép ngắn về thăm "vị hôn phối". Phần lớn câu chuyện của họ là nói về việc phân công tác, chuyển công tác. Phần lớn đều tìm cách lo lót, chạy chọt để được công tác nơi vị hôn phối có điều kiện "tốt" hơn. Chẳng hạn, vợ đang ở thành phố lớn, chồng ở nơi xa, thì lo lót để chồng được theo vợ. Những người đã khởi phát tiến trình lo lót chạy chọt thì trao đổi tin tức và kinh nghiệm với nhau khi họ gặp nhau ở nhà tôi. Qua câu chuyện của họ, tôi được biết cái tệ trạng tham ô, hối lộ lan tràn khắp Trung Hoa từ cấp dưới đến cấp trên trong hàng ngũ Đảng.
- "Cháu giải thích như thế nào về tình hình lý tưởng bị sa sút trong hàng ngũ đảng viên nếu mục tiêu được tuyên bố của cuộc Cách mạng Văn hóa là làm trong sạch xã hội Trung Hoa và xây dựng xã hội chủ nghĩa?", tôi đã hỏi một cô bạn của Mai Bình như vậy. Cô này công tác ở Vũ Hán được về phép thăm chồng đang công tác ở Thượng Hải và cô ta cũng đang vận động để được chuyển công tác từ Vũ Hán về theo chồng ở Thượng Hải. Cô ta trả lời:
- Trước hết, những đảng viên được kết nạp trong thời có cuộc Cách mạng Văn hóa hầu hết đều chẳng có lý tưởng gì ráo. Họ chỉ nhìn Cách mạng Văn hóa như một cơ hội cho sự thăng tiến cá nhân họ và gia nhập hàng ngũ các "ông bà" Cách mạng là để thực hiện tham vọng của họ. Các đảng viên kỳ cựu vừa được phục hồi thì có thể trước kia họ là người có lý tưởng, nhưng đó là thời xa xưa, nay thì họ đã tỉnh ngộ hoặc đã vỡ mộng vì những kinh nghiệm ê chề nhục nhã mà họ phải chịu trong cuộc Cách mạng Văn hóa. Họ cảm thấy họ bị Đảng đối xử tàn tệ, bội bạc và những hy sinh của họ trong thời kỳ chiến tranh đã thành "nước lã ra sông" cả, thoắt chốc - trong cuộc Cách mạng Văn hóa - trở thành "tay trắng" không những vì cơ nghiệp của cải bị phá phách tịch biên đã đành mà ngay cả cái công lao hãn mã của họ cũng bị xóa sạch. Tất cả những gì mà các ông được phục hồi nay quan tâm hơn hết, đó là, làm thế nào để "tai qua nạn khỏi" trong những đợt đấu tranh sắp tới và có một đời sống thoải mái sung sướng cho bản thân, cho vợ, con họ. Thế thôi!
- Khi cháu biếu xén các "quan" ấy những món quà đắt giá hoặc những khoản tiền để có thể chuyển công tác, cháu có sợ gặp rắc rối không? Tôi hỏi.
- Dĩ nhiên là sợ. Vì đó là một sự liều lĩnh và là một "canh bạc" mà. Có thể "tiền mất tật mang" nghĩa là mất tiền mất của mà cũng không được việc mà vẫn không dám đi thưa, đi kiện. Bởi vì, có đi thưa kiện chưa chắc gì cái kẻ kia đã "bị" - vì phủ bênh huyện mà - và lúc mình không đi được, cái kẻ bị mình thưa sẽ "đì" mình, trù ém, dìm tới đất đen. Mà kẻ kia dù "bị" thì mình cũng bị theo, vì cái tội hối lộ, với lập luận "không có kẻ hối lộ thì làm sao có kẻ ăn hối lộ". Cho nên kẻ "đút" và kẻ "ăn của đút" đều bị trừng trị hết. Cũng may những trường hợp như vậy là hạn hữu. Vả lại con cũng đành phải liều mạng. Theo con nghĩ, những trường hợp như vậy nhiều lắm, điều tra không xuể. Có thể, một ngày nào đó Đảng nổi hứng mà xiết chặt, tăng cường kiểm tra. Nhưng, lúc này mấy "bố" còn lo dấu hoặc "giữ miếng" với nhau, lo "kìm" nhau, nên chưa có thì giờ và sức lực để "nổi hứng". Bởi vậy, mình phải lợi dụng cơ hội này!
Cuộc trò chuyện của chúng tôi bị ngắt ngang vì Đại Đức đến. Anh ta tình nguyện nhận công việc mua dùm tôi bánh mì nóng mỗi bữa. Dĩ nhiên, tôi biết đó là cách để anh ta có cớ đến kiểm tra xem có những ai đến thăm tôi trong những ngày này. Khi anh ta đem bánh vào bếp thì tôi tiễn cô bạn của Mai Bình xuống cầu thang. Cô ta ẵm đứa con đang ngủ, tay vẫn còn cầm đồ chơi. Khi ra đến cổng, nhìn trước nhìn sau không có ai, cô ta mới dám nói nhỏ với tôi:
- Dì phải rất cẩn thận đối với "ông" học sinh đó của dì. Con thấy hình như nó là công an "chìm" đó à, dì!
- Nó là anh chàng thất nghiệp mà! Tôi nói.
- Dì đừng có tin. Nói năng với nó, dì phải hết sức cẩn thận. Cô ta nói những lời ấy thay cho lời từ biệt.
Tôn Khải, anh chàng thanh niên suýt nữa thì thành hôn với con gái tôi, đã tìm ra địa chỉ của tôi và đến thăm tôi vào ngày cuối cùng của mấy ngày Tết. Anh ta nói với tôi anh ta không còn làm giáo viên dạy toán nữa vì nhà trường đã bị đóng cửa. Thay vào đó, anh ta đi làm cho viện nghiên cứu của những công cụ chính xác.
- Năm 1966 - Tôn Khải nói - khi Mai Bình nói với con là dì đã bị bắt giam, cả ba má con đều nghĩ là chúng con nên làm đám cưới ngay, để cô ấy có thể dọn về chỗ con ở và không phải sống một mình. Nhưng Mai bình không chịu, cứ nhất định đợi cho đến khi nào dì được thả ra và nói là Mai Bình không thể nào đi lấy chồng mà không có sự hiện diện của má. Dĩ nhiên, lúc đó, tất cả chúng con cũng đều tưởng là cuộc Cách mạng Văn hóa sẽ không kéo dài quá một năm!
- Thế anh có gặp em nó trước khi chết không? Tôi hỏi. Tôi buồn kinh khủng khi nhìn thấy anh chàng thanh niên tuấn tú lẽ ra sẽ là con rể tôi nếu con gái tôi đừng bị giết một cách oan ức, tức tưởi và tàn nhẫn như vậy.
- Lúc đó, cứ một tuần, chúng con gặp nhau hai, ba lần - Tôn Khải đáp - chúng con cố gắng để gần gũi nhau bằng nào hay bằng đó. Dì đã biết, ba con bị tố là "phe hữu" vào năm 1957, con cũng bị liệt vào thành phần "gia đình kẻ thù giai cấp" và bản thân con là giáo viên thì cũng là "rác rến hạng chín". Mai Bình đã tham gia các hoạt động của cuộc Cách mạng Văn hóa trong xưởng phim. Dường như cô ấy không gặp rắc rối gì ở đó. Thế mà bất thình lình cô ấy bị bọn người nào đó đến bắt đem đi.
- Anh nói rõ cho dì nghe đầu đuôi vụ đó!
- Mai Bình hẹn ăn cơm tại nhà con vào ngày 16 tháng 6. Buổi chiều, con đến nhà đón Mai Bình về ăn cơm thì bà Trần, bà giáo sư Trần, nơi mà lúc đó Mai Bình đang ở, cho con biết là ngay sáng hôm đó, em đã tự tử chết. Lập tức, con đến xưởng phim. Dường như không có ai ở đó biết sự việc đó. Rồi con đến ngay chỗ lò thiêu xác, nhưng con không được phép nhìn thi hài vì con không phải thân nhân trong gia đình. Nhưng khi nhìn thấy con thiểu não quá thì ở đó có người cho con biết xác cô diễn viên trẻ của xưởng phim Thượng Hải được đưa đến lò thiêu từ lúc sáng. Tôn Khải nói đến đó thì bật khóc nức nở.
- Anh có tin em nó tự tử không?
- Không! Dĩ nhiên là không! Con đi đến chỗ mà người ta nói là Mai Bình đã tự tử, con thấy là không thể tự tử được!
- Anh sẽ nói là lúc đó đang có giàn giáo của thợ nề chứ gì?
Tôn Khải nhìn tôi, dáng điệu vừa ngạc nhiên vừa lo ngại và nói:
- Sao dì biết? Ai nói với dì vậy? Dì chớ để lộ cho ai biết là dì đã biết nhé! - rồi anh ta nói thêm "nếu những kẻ có trách nhiệm về cái chết của Mai Bình mà biết là dì không tin là Mai Bình tự tử thì chúng nó có thể gây nguy hiểm cho sinh mạng của dì đó. Dì phải hết sức cẩn thận. Chúng nó hết sức độc ác và tàn nhẫn!"
- Dì hiểu! Dì sẽ không hé môi cho ai biết điều đó - tôi nói để trấn an anh ta - con có biết ai có trách nhiệm về việc bắt Mai Bình không?
- Con không biết chắc. Nhưng con nghĩ rằng có sự liên hệ với những người đã tiến hành điều tra, thẩm vấn dì. Nhưng chúng là ai đi nữa thì cũng là chúng hành động theo lệnh của vài tên thủ lãnh ở Thượng Hải.
- Làm sao con khám phá được những điều đó?
- Như dì biết. Hội quán thể dục bị đóng cửa ngay từ lúc khởi đầu cuộc Cách mạng Văn hóa, và chính bọn hồng vệ binh đã chiếm tòa nhà đó. Nhưng Hội điền kinh thì vẫn giữ được một tầng lầu để tàng trữ dụng cụ và các tài liệu của Hội. Chính là do một người trong bọn chúng mà con biết là việc bắt Mai Bình là do lệnh từ cấp trên của bọn đó.
- Liệu con có thể thu xếp cho dì gặp được người đó không?
- Nguy hiểm cho dì lắm!
- Dì dám chấp nhận mọi sự nguy hiểm để tìm ra sự thật đó!
- Đã qua mấy năm rồi, con không hiểu hắn còn ở đó nữa không. Sao dì không đợi cho đến lúc tình hình chính trị sáng sủa hơn?
Tôn Khải có vẻ ngần ngại trước yêu cầu của tôi.
Đúng là nhiều năm đã qua kể từ ngày Mai Bình chết. Và người ta cũng không thể buồn mãi mãi được. Từ lần gặp đó, Tôn Khải không trở lại thăm tôi lần nào nữa. Một năm sau lần gặp ấy, tôi nghe tin anh ta cưới con gái của một đảng viên cao cấp. Cha cô này cũng muốn cho con gái mình lấy con của một người bị tố là phe hữu gấp, bởi vì - ông này góa vợ - ông ta cũng muốn tục huyền với một cô gái trẻ. Ông ta nghĩ cô con gái chưa chồng và cô vợ trẻ của ông ta cùng một tuổi với nhau mà ở chung một nhà thì cũng hơi khó coi. Tôi cũng không hiểu tại sao Tôn Khải lại muốn cưới một cô gái con một đảng viên "gộc". Sau bấy nhiêu sự việc xảy ra - cho cả bản thân lẫn gia đình - dĩ nhiên là anh ta muốn cưới một người đàn bà ít có khả năng trở thành nạn nhân của một bạo hành chính trị. Ngoài ra, cưới con gái một đảng viên "gộc" anh có thể không còn bị đau đớn vì cái vết thẹo "con trai thằng hữu phái", một gánh nặng mà anh ta phải mang ngay từ lúc còn nhỏ.
Cuộc viếng thăm của Tôn Khải đã làm cho tôi buồn quá đến nỗi tôi phải nói với u già là tôi muốn nằm yên để nghỉ trong phòng. U già đi lau chùi quét dọn bếp. Thình lình, tôi nghe tiếng gõ cổng. Cả gia đình nhà Chu đổ xô ra xem là ai. Tôi gọi u già, và u ra ban công ngó xem có phải là khách đến thăm tôi chăng. U ra ban công và nói:
- Đó là một người đã lớn tuổi. Ông ta hỏi tôi là có phải bà đang ở đây không? Vậy tôi xuống…?
- Ừ, u đi xuống đi, tôi nói với u già và trong lòng tự hỏi không hiểu ông khách này là ai. Tôi vội vã trải lại giường cho phẳng phiu và thu dọn đồ đạc cho gọn ghẽ. Rồi đi ra chỗ đầu cầu thang xem khách là ai.
- A, bà Trịnh! Bà có nhận ra tôi không? Tôi thật sung sướng không biết đâu mà kể khi được gặp lại bà. Ông già đó vừa nói vừa bước lên cầu thang.
Tôi nhận ra giọng nói và cáo dáng dấp đó là ông Hồ, ông bạn già của ông nhà tôi lúc sinh thời, một người mà tôi không được gặp kể từ sau cuộc gặp gỡ bất ngờ ông ta đến thăm tôi khi cuộc Cách mạng Văn hóa vừa bắt đầu vào mùa hè năm 1966.
Tôi mời ông vào trong nhà và mời ông ta ngồi.
- Tôi thật sung sướng được gặp lại bà - ông Hồ nói - Nom bà vẫn còn khá khỏe, có lẽ là còn khỏe hơn người ta tưởng đối với một người đã phải trải qua những hoàn cảnh của bà kia đấy. Phải, tôi dám nói như vậy đấy!
- Thế còn ông và quí quyến lúc này ra sao? Ông bà vẫn ở chỗ cũ chớ? Tôi nhã nhặn hỏi lại.
- Ồ, không, cũng như tất cả mọi người chúng ta, tôi cũng bị mấy ông Vệ binh đỏ đuổi ra khỏi nhà - ông Hồ nói - và tôi cũng đã "được" chia sẻ nỗi bất hạnh. Nhưng chúng ta không nên sống trong dĩ vãng. Chúng ta phải nhìn về tương lai. Chúng ta phải cám ơn Trời Phật đã cho chúng ta còn sống. Nhiều người thân của chúng ta không được may như vậy. Dĩ nhiên, tôi biết chuyện cô Mai Bình nhà ta. Và tôi cũng phải đau khổ vì thân mẫu và bà nhà tôi cũng đã mất. Cả hai đều chết vì đau tim trong cái thời khủng khiếp nhất của cuộc Cách mạng Văn hóa. Nhà thương không chịu chữa cho họ vì họ là thành phần của một gia đình tư sản. Còn tôi thì lúc đó bị điều tra, thẩm vấn, điều tra, thẩm vấn liên hồi trận.
Ông Hồ thở dài và dường như rơm rớm nước mắt. Nhưng ông ta đã nén ngay được cơn cảm xúc. Ông lấy khăn tay ra và hỉ mũi.
- Làm sao ông tìm được địa chỉ của tôi vậy?
- Cũng là gặp may thôi. Sáng nay đi đường lớ ngớ sao mà tôi lại gặp lão bộc của bà ngày trước và vui quá khi nghe tin bà đã được thả. Thế rồi suốt ngày khách khứa, ấy nhưng khi người khách cuối cùng ra khỏi cửa nhà tôi thì tôi cũng nhảy lên xe đạp, đạp đến đây.
- Ông còn đi làm không?
- Dạ, còn! Lẽ ra tôi có thể nghỉ hưu được rồi, nhưng ngồi không ở nhà cũng chẳng làm lợi gì. Làm việc tay chân vậy chứ mà khỏe. Làm ban ngày mệt nhoài nhưng mà nhờ vậy đến đêm về nằm là ngủ ngay. Bây giờ tôi ở nhà bà nhạc tôi. Mấy ông Vệ binh đỏ để lại cho cụ được một phòng. Năm nay cụ tôi đã ngoài tám chục rồi. Tôi rất sung sướng còn được chăm sóc cho cụ.
- Thế còn mấy cháu?
- Có ông bố bị kết là tư sản thì đương nhiên chúng bị đẩy đi làm việc ở những nơi xa xôi nào trên đất nước này chứ. Thằng cháu lớn nhất của tôi cũng đã có vợ và đã được một đứa con gái.
- Hồi hè năm 1966 ông đến thăm tôi, ông đã có lòng tốt cho tôi mấy lời khuyên. Tôi rất biết ơn ông. Lúc ở trong tù, tôi thường suy nghĩ đến những gì ông đã nói. Ông nghĩ sao về tình hình chính trị lúc này?
- Quả là khá hơn, dĩ nhiên, nhưng chẳng ai biết được tình hình này còn kéo dài trong bao lâu.
- Ông có nghĩ là rồi sắp có một keo đấu đá giành quyền lực nữa giữa các ông to đầu không?
Ông ta nhìn ra cánh cửa hé mở và gật đầu. Sau đó ông hỏi tôi:
- Ngày mai, nếu bà vui lòng cho tôi được cái hân hạnh mời bà đi dạo ở Nam Đào. Tôi nghe mấy tiệm ngày trước bán hoa nay đã mở cửa lại và có bán hoa thủy tiên nữa.
- Ngày mai thì tôi đi không được. Buổi sáng thì phải dạy học. Buổi chiều thì phải giặt quần áo. Tôi cho u già về nhà nghỉ ít ngày. Mấy hôm rồi u làm vất vả quá!
- Vậy thì để chiều mai tôi đến giặt quần áo dùm bà. Ngày mai tôi còn nghỉ vì tôi tình nguyện làm việc chiều hôm ba mươi nên hôm nay được nghỉ bù.
Tôi không muốn ông đến giặt quần áo dùm tôi. Nhưng tôi hiểu là ông có điều gì đó muốn nói với tôi. Tôi muốn nghe ông ta nói gì. Bởi vậy tôi quyết định đi chơi với ông ta.
- Thôi, quần áo để lại sau giặt cũng được. Ta cứ đi đến chợ hàng hoa đã. Chắc là bông thủy tiên đẹp lắm! Tôi nói.
Được tôi nhận lời mời, mặt mày ông Hồ sáng rỡ, tôi đã quên cái điều là đàn ông Trung Hoa rất khoái được người đàn bà tuân theo ý mình. Dường như sự kiện tôi nhận lời mời cùng ông Hồ đi chợ hoa một cách chân thành đã làm cho mối quan hệ của chúng tôi tiến thêm bước nữa đến chỗ thân tình hơn là lúc đầu khi ông ta bước chân qua ngưỡng cửa nhà tôi. Bởi vậy lúc ra về, chẳng những ông ta đã bắt tay tôi và giữ lấy
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện