DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 14

Chương 14: Đi Tìm Sự Thật

Đêm đêm, trong những cơn ác mộng, tôi thường thấy con gái tôi bị đánh đập bị tra tấn tàn bạo và giết chết trong căn phòng máu văng tứ tung. Tôi giật mình tỉnh dậy, mồ hôi vã ra như tắm, hơi thở dồn dập, tim đập thình thịch, loạn xạ. Tôi nằm đó, những hình ảnh do trí tưởng tượng của tôi gợi lên trong bóng tối còn rùng rợn hơn nữa. Tôi quyết định phải làm một chuyến đi đến đại lộ Nam Kinh để nhìn tận mắt tòa nhà Hội quán thể dục. Tôi nghĩ rằng tôi cũng phải đi đoạn đường đau đớn ấy ngay khi tình hình sức khoẻ của tôi cho phép, để tôi có một hình ảnh rõ nét về nơi mà con tôi đã bị chết. Và nếu có thể được thì bí mật dò hỏi. Tôi không hé răng cho A Di biết ý định của tôi vì u già có thể sẽ báo cáo lại cho các bà trong Ủy ban khu phố. Tôi phải thực hành ý định đó vào những giờ tôi đi dạo vào buổi chiều. Nhưng thay vì đi dạo thì tôi đáp xe buýt đi đại lộ Nam Kinh. Trong khi chờ đợi, cứ mỗi ngày tôi lại kéo dài thời gian đi dạo của tôi thêm chút xíu cho đến khi mỗi cuộc đi dạo kéo dài hai giờ đồng hồ.
- Bữa nay bà đi dạo xa quá! - cứ mỗi lần đi dạo về là A Di lại than thở tỏ vẻ ái ngại - chắc lúc này bà cũng đã khỏe khá rồi. Hai gò má đã đầy rồi. Bà ngồi nghỉ đi, để tôi rót nước trà cho bà dùng.
Khi các cuộc đi dạo của tôi đã thành lệ thường, A Di không còn nghĩ đến sự vắng mặt lâu của tôi nữa. Tôi nghĩ đã đến lúc thực hiện ý định của tôi.
Nam Kinh là một đại lộ chính của Thượng Hải, chạy qua khu thương mại, dọc theo bờ sông tới khu ngoại ô phía tây. Trước khi Mao Trạch Đông lên nắm chính quyền vào tháng 5 năm 1949, tòa nhà Hội này xưa kia vốn là trụ sở của hội Thanh niên quốc tế (International YMCA)... Tòa nhà nằm giữa đại lộ Nam Kinh, trông sang công viên Nhân dân. Công viên này xưa kia vốn là trường đua ngựa. Từ chỗ tôi ở đến đây phải mất nửa giờ xe buýt. Xe buýt ở Thượng Hải lúc nào cũng đông nghẹt. Không thể nào chen chân vào bên trong xe, tôi đành đứng bên ngoài gần cửa, thân thể bị ép sát vào người khác. Lúc đó người đàn bà đứng cạnh đã ép sát vào ngực tôi đến nỗi tôi chắc bà ta phải cảm thấy trống ngực tôi đập thình thịch. Tôi hết sức buồn, lo về những gì mà có lẽ tôi sắp phát hiện ra được. Đầu óc tôi bảo tôi, phải đi, trái tim lại bảo tôi phải quay về. Nhưng rồi xe buýt cũng đã chở tôi đến nơi, tôi tần ngần. Nhưng nhiều người trên xe buýt ùa xuống và tôi thấy mình bị xô đẩy ra ngoài và thấy mình đứng trên lề đường.
Tôi tà tà đi, lẩn vào đám đông, đưa mắt nhìn vào tòa nhà nằm phía bên kia đám đông. Gần tòa nhà Hội quán thể dục là một khách sạn lớn và một rạp chiếu bóng lớn, cả hai đều xây từ những năm thập niên 30 và vẫn còn là những tiêu điểm của thành phố. Tòa nhà hãy còn được "trang trí" bằng những biểu ngữ màu đỏ có từ thời Cách mạng Văn hóa mang những dòng chữ như "Chính trị là thống soái" "Không được quên đấu tranh giai cấp" … bay phất phơ trong gió thu. Trên nóc tòa nhà, đèn nê - ông nhấp nháy dòng chữ thúc giục người dân "làm cách mạng đến cùng". Đối với những người xung quanh, cái mặt ngơ ngáo, nghếch lên nhìn đã khiến cho họ nghĩ tôi là một kẻ ở nơi xa vừa đến đây tham quan thành phố Thượng Hải. Chẳng ai đặc biệt chú ý đến tôi. Chân tôi suýt vấp té vì mắt cứ mải mê đếm các tầng lầu và tìm cửa sổ của Hội quán thể dục trên tòa nhà. Tôi bị đám đông xô đẩy lướt đi.
Ở cổng công viên Nhân Dân, đàn ông, đàn bà con nít đứng xếp hàng mua vé vào, những người đứng chờ bà con, anh em, bè bạn. Tôi đứng lại trong đám ấy và nhìn sang tòa nhà nhìn bên kia đường một lần nữa. Vì tôi đếm thấy tám tầng lầu mà không thấy tầng thứ chín ngoại trừ cái mái nhà nghiêng nghiêng. Để tránh lôi kéo sự chú ý của người khác, tôi đi tới đi lui làm bộ như bồn chồn chờ đợi một người nào đó. Rồi tôi lại nhìn lên tòa nhà. Tôi vẫn không nhìn thấy cửa sổ của lầu chín nơi mà người ta nói con gái tôi đã từ đó nhảy xuống tự tử. Tôi vừa đi ngang qua công viên Nhân Dân vừa mải mê suy nghĩ về ý nghĩa của điều mà tôi vừa phát hiện. Chỉ mãi đến khi tôi vòng trở lại tôi mới thấy tầng lầu thứ chín và những cái cửa sổ bên tòa nhà Hội quán thể dục. Những cửa sổ này không trông ra đại lộ Nam Kinh mà là ở phía bên trên một lối đi nhỏ với hai lầu để ở. Cửa sổ rất đẹp, có chấn song sắt chạy theo chiều thẳng đứng. Đứng ở phía dưới nhìn lên tôi không hiểu khe giữa hai chấn song có đủ rộng cho một người chui lọt không.
Điều tôi phát hiện thật khác với điều người ta đã nói với tôi. Tôi cần có thời gian để suy nghĩ thêm nữa. Bởi vậy, tôi mua vé đi vào công viên. Trên một cái ghế ở một góc vắng vẻ tôi có thể nhìn lên tầng lầu chót của tòa nhà. Tôi nhìn vào những cửa sổ hẹp có chấn song kia và tự hỏi đâu là sự thật về cái chết của con tôi. Tôi cảm thấy có một cái gì khác hơn là những gì người ta đã nói với tôi. Mặt trời tỏa nắng ấm, ngọn gió nhẹ lay động những chiếc lá thu vàng bên trên đỉnh đầu. Tôi nghe thấy tiếng xe cộ chạy rầm rập, tiếng cười nói lao xao. Nhưng, chìm trong nỗi buồn rầu, tôi cảm thấy cô độc lạ thường, cô độc hoàn toàn như một mình trên hoang đảo.
Tôi băng ngang qua đường phố, gõ cửa tòa nhà Hội quán thể dục và thử dò hỏi? Tôi cứ hỏi đi hỏi lại chính mình mà không sao quyết định được. Một bé gái nhỏ đang đạp chiếc xe trẻ con ló ra ở góc đường chỗ dành cho người đi bộ. Má nó đi đằng sau. Khi con bé đạp xe thật nhanh, má nó gọi "Chạy chậm thôi con! Cẩn thận đấy!” Nhưng con bé càng đạp dấn hơn nữa. Đôi mắt đen láy láu lỉnh quay lại nhìn má nó. Hai má con đi ngang trước mặt tôi rồi khuất trong một bụi cây.
Rời khỏi công viên, tôi đi về phía trạm xe buýt, đâu đâu tôi cũng thấy hình ảnh của Mai Bình. Cô gái nào đang đi trên đường nom cũng đều giống con gái tôi cả. Tim tôi như vỡ tung ra vì đau đớn. Tôi cảm thấy cô đơn và bất lực còn hơn lúc tôi đang ở trong tù. Đám đông tụ tập ở trạm xe buýt. Chiếc xe buýt đi ngang nhưng không dừng lại. Tôi lấy lại bình tĩnh và mạnh dạn quay lại chỗ ngã tư. Bước vào lối đi nhỏ bên cạnh tòa nhà Hội quán thể dục, tôi thấy một người đàn bà nom còn trẻ đang ngồi đan áo. Tôi hỏi cô ta:
- Xin lỗi, chị ở lại chỗ này phải không?
Cô ta gật đầu nhưng vẫn cứ cắm cúi đan. Có vài người đi ngang qua trên lối đi đó nhưng chẳng có ai nhìn về phía tôi. Tôi nhìn những căn nhà cất dựa vào mé tường của tòa nhà Hội quán, chiếm hết nữa lối đi.
- Bà tìm ai? Cô gái lúc bấy giờ mới ngửng đầu lên hỏi tôi.
- Tôi từ Bắc Kinh tới - tôi nói dối thế - tôi nghe nói năm 1967, có một cô diễn viên trẻ tuổi đã nhảy lầu từ cửa sổ nhà Hội quán để tự tử. Cô biết gì về vụ đó không? Tôi vừa nói vừa đưa tay chỉ tòa nhà Hội quán ở phía sau cô ta. Cô ta nhìn lên và lắc đầu:
- Không phải vào năm 1967, mà là khoảng một năm sau ngày Cách mạng Văn hóa khởi phát, phải vậy không? Lúc đó tòa nhà đang được sữa chữa, dàn giáo đang bắc đầy hết cả quanh đó. Tôi nhớ rõ vì tôi mới dọn đến đây không lâu trước khi Cách mạng khởi phát. Các công nhân sửa chữa tòa nhà ấy đã làm một cái nhà ăn ở chỗ lối đi đó, sau khi công trình xong rồi mà họ vẫn chưa dỡ đi.
- Xin lỗi, vậy thì tôi lầm rồi. Tôi vội nói thế và bỏ đi. Một chi tiết quan trọng mà tôi vừa nắm được. Chắc chắn là con gái tôi có tự tử thì cũng không tự tử như cái cách mà họ đã nói với tôi.
Khi tôi vừa đến nhà, mở cổng bước vào thì đã thấy hai chiếc xe đạp dựng ở đó. Có tiếng người nói trong phòng phía dưới cầu thang.
U già A Di gặp tôi ở hành lang với cái tin là căn trệt đã được phân cho một gia đình có tên là Chu. U nói với tôi về gia đình nhà Chu nhưng dường như tôi không nghe thấy gì vì đang bận tâm suy nghĩ về những gì tôi vừa khám phá được ở đại lộ Nam Kinh.
Cái chết của con gái tôi vẫn còn là một bí mật. Tôi đã chẳng tiến lại gần sự thật hơn trước là bao nhiêu. Nhưng, con gái tôi bị các "ông bà" Cách mạng hỏi cung và bị chết bởi tay các "ông bà" ấy thì là điều chắc chắn. Nếu con gái tôi bị giết chứ không phải là nó tự tử thì liệu tôi có thể nào phát hiện ra tên sát nhân ấy không. Và nếu có phát hiện ra thì liệu hắn có bị trừng phạt không? Ở Trung Hoa hình phạt dành cho tội sát nhân là án tử hình. Trong trí não tôi, tôi không còn nhìn thấy con gái tôi nằm sóng sượt trong vũng máu đào vào một buổi sáng sớm mờ nhạt của mùa hè, tháng sáu trên đại lộ vốn đông đúc nhưng lúc đó hãy còn vắng người. Trong giấc mơ của tôi và trong những lúc tôi ngồi trầm tư một mình tôi vẫn nhìn thấy khuôn mặt lợt lạt và cái thân thể bất động của nó. Tôi nghe thấy tiếng nó la rên rỉ. Tôi thề với Chúa là tôi quyết phải tìm ra thủ phạm.
Mấy ngày sau gia đình nhà Chu dọn tới ở. Trong lúc tôi đang phân vân không biết có nên xuống để thăm hỏi và chào đón họ cho thân mật hay không thì mụ Chu đã lên lầu gặp tôi. Mụ cũng trạc tuổi tôi. Mái tóc đen đã ngả màu nhưng mụ vẫn chải sáp và bới lại, cài bằng chiếc lược giả đồi mồi. Điếu thuốc lá gắn vắt vẻo ở khóe miệng mụ. Tôi mời mụ ngồi và u già rót nước và để lên bàn một cái lon nhỏ cho mụ gạt tàn thuốc.
- Con Diệp nhà tôi cũng học cùng trường với cháu Mai Bình nhà chị - mụ làm bộ thân mật - chúng nó thân với nhau lắm.
- Thế cô ấy có ở chung với bà ở Thượng Hải hay không? Tôi hỏi.
- Diệp là con gái đầu lòng của tôi. Nó đang làm trong đoàn Ca vũ nhạc của Quân Đội giải phóng nhân dân. Ông nhà tôi bị liệt vào loại tư sản nên chúng tôi bị tống ra khỏi nhà khi bọn Vệ binh đỏ đến cướp phá nhà tôi và cả gia đình tôi bị dồn vào cái nhà để xe. Chị tưởng tượng xem cả gia đình tôi bảy người bị nhốt vào cái nhà để xe? Chúng tôi phải đi đến 200m để múc nước và giặt giũ. Bọn Vệ binh đỏ bắt tôi quét đường. Còn ông nhà tôi bị chúng nó đánh đập và đem ra tố tôi không biết là bao nhiêu lần nữa. Chúng tôi chỉ là một gia đình tư sản nhỏ, chúng tôi làm gì có nhiều tiền. Lúc giải phóng, ông nhà tôi có một cái tiệm làm kem. Có thế thôi.
Lúc nói, mụ có vẻ căng thẳng và kéo khói liên hồi. Tôi hỏi mụ:
- Con gái bà ở trong quân đội thì bà phải được thoát khỏi những cái cảnh đó chứ? Vậy gia đình của bà không được coi là "gia đình vẻ vang" sao?
Danh hiệu "gia đình vẻ vang" được tặng cho các gia đình có con - trai hoặc gái - ở trong quân đội. Họ được khẩu phần đặc biệt và được đãi ngộ đặc biệt.
- Bọn Vệ binh đỏ thì có xét gì đến cái đó. Nhưng nay thì đã được nhìn nhận rồi. Gia đình tôi đã được đãi ngộ rồi. Gia đình tôi đã được đãi ngộ lại theo đúng chế độ chính sách rồi. Bởi vậy nên mới được cấp phát những căn phòng này đây.
- Tôi mong là ở đây bà sẽ được dễ chịu, tôi đáp lại một cách nhã nhặn.
Mụ vỗ vỗ vào bàn tay tôi và nói:
- Tôi chưa nói hết chuyện của tôi cho chị nghe đấy. Chị có lúc gặp khó khăn còn hơn tụi này nữa. Chị thì bị tù đày, cô con gái xinh đẹp của chị thì bị chết. Ngay sau khi tôi nghe tin cô Mai Bình tự tử, tôi đã viết thư nói cho con gái tôi ở Bắc Kinh hay, chúng tôi đều lấy làm buồn về điều đó lắm.
Tôi chẳng muốn nói với mụ về Mai Bình, than thở với người khác về những gì xảy ra cho mình cũng không phải là điều khôn ngoan. Bởi vậy tôi làm thinh. Mụ mỉm cười, dụi điếu thuốc vào cái lon và châm điếu khác. Sau khi kéo một hơi khói dài, thở ra rồi mụ mới nói:
- Tôi lên đây là để bàn với chị về vấn đề tiền điện ấy mà. Tôi nghĩ là cái gì cũng nên rõ ràng phân minh ngay từ đầu thì hơn, phải vậy không? Vậy sẽ không hiểu lầm về sau. Thằng con rể tôi là thợ điện. Nó nhận thấy là ở gần nhà này chỉ có một cái đồng hồ điện. Vậy chị có đồng ý là mình "cưa đôi" tiền điện hàng tháng. Vì chị có một nửa nhà, tôi một nửa nhà mà?
Trước khi tôi kịp trả lời thì u già - chắc là đứng ngoài hành lang nghe lén - đã vội vàng nói:
- A không, bà Chu à. Chúng tôi chỉ trả tiền điện theo số đầu người trong hộ thôi chứ. Gia đình bà có những bảy người, gia đình tôi có hai, "cưa đôi" sao được? Phải chia làm chín phần, mà bà trả bảy nhà tôi trả hai.
- Ô, không, nhà tôi bảy người thật nhưng chỗ chúng tôi ở cũng đâu có rộng hơn nhà bà. Vậy thì tiền điện cứ cưa đôi.
Mụ Chu có vẻ bực mình với u già A Di lắm. Tôi quyết định can thiệp vào:
- Sao mình không tìm cách nào khác để chia nhau tiền điện cho ổn thỏa. Tôi sẽ đến gặp bà Lục Anh. Bà ấy lãnh đạo khu phố này. Bà cũng ở chung với gia đình khác nữa. Chúng tôi sẽ hỏi ý bà ấy.
- Vậy cũng không ổn. Mọi người trừ chị ra, chỉ được phân chỗ ở bằng nhau. Chị được ở rộng hơn người ta. Chỉ cần một phòng của chị cũng đủ cho một gia đình sáu bảy người ở.
Mụ Chu nói có vẻ nóng nảy lắm. Mụ dụi điếu thuốc vào cái lon, đứng dậy và nói:
- Để tôi bảo ông nhà tôi lên nói chuyện với chị.
Mụ rời khỏi phòng của tôi, xuống cầu thang, lầm bầm cái gì trong miệng mà không cần chờ xem tôi có muốn gặp chồng của mụ hay không nữa. Tôi không hiểu sao mụ quá băn khoăn về tiền điện. Mấy tháng tôi sống ở đây, mỗi tháng chỉ vài ba đồng (nhân dân tệ) mỗi tháng.
Tôi nghe thấy tiếng người bước chân lên cầu thang. Chưa đầy một phút sau, cánh cửa phòng tôi bật mở ra. Lão Chu xồng xộc đi vào. Mặt lão nom bèo nhèo nhưng có lẽ ngày xưa lão ta cũng mập mạp béo tốt lắm. Hầu như ngay lập tức, u già đi ngay vào trong phòng, đứng cạnh tôi để bảo vệ. Mở miệng ra, lão Chu đã có vẻ muốn gây sự rồi:
- Vợ tôi nó nói là mấy người không chịu gánh phần tiền điện của mấy người, phải không?
Thấy lão xồng xộc đi vào phòng tôi một cách bất lịch sự, không thèm gõ cửa nên tôi cũng chẳng thèm đứng lên chào lão mà cứ ngồi im trên ghế.
- Lần sau, ông có muốn gặp tôi thì phải gõ cửa - tôi nói với lão - không được tự tiện mở cửa vào mà không gõ cửa. Người biết tự trọng thì phải biết cách xử sự một cách lịch thiệp, văn minh!
Mặt lão đỏ bừng lên, xem ra không muốn êm rồi:
- Bây giờ chị có muốn thảo luận về việc trả tiền điện không thì bảo?
- Không - tôi nói một cách cứng rắn - tôi mệt về cái chuyện trả tiền điện lắm rồi. Ừ, thì tháng sau tôi trả một nửa tiền điện. Trong khi chờ đợi tôi sẽ xin mắc một cái đồng hồ khác, thế là khỏi phải cãi cọ lôi thôi. Mấy đồng bạc có nghĩa gì đâu. Tôi không hiểu sao ông bà lại om sòm về cái chuyện ấy?
Lão chẳng đợi mời, cứ ngồi đại xuống ghế và tuôn ào ào:
- Chị không biết om sòm về cái gì hả? Về tiền, về tiền, về tiền! Bọn Vệ binh đỏ tịch thu hết tiền nong, vốn liếng của tôi. Tôi không có việc làm. Tôi chỉ có kiếm được 12 đồng bạc một tháng. Hai vợ chồng tôi chỉ trông vào bao nhiêu đó. Một trong những thằng con của tôi thì thất nghiệp. Thằng khác đi làm cũng chỉ kiếm được khoảng 40 đồng mỗi tháng. Tụi tôi lại phải nuôi một đứa cháu nội. Bố mẹ nó ở tận Tây Bắc. Ở đó thiếu thốn lương thực. Chúng tôi còn phải gửi thêm cho chúng nó nữa - Tôi đứng dậy tỏ dấu không muốn nói chuyện nữa:
- Tôi rất tiếc về điều đó - tôi nói - vì sự khó khăn của gia đình nên tháng sau tôi sẽ trả một nửa tiền điện.
Lão Chu cau mày, lẩm bẩm trong miệng:
- Tôi đến đây chẳng phải để cầu xin sự thương hại. Rồi lão đi ra.
Nhìn vẻ mặt bí xị của lão Chu lúc ra khỏi phòng, tôi không khỏi cảm thương cho gia đình ông và càng thấy rõ sự nghèo túng nó làm cho con người ta hóa ra bệ rạc biết chừng nào.
Ngày hôm sau tôi nạp đơn cho ban Nhà đất để xin gắn một cái đồng hồ điện. Nhưng họ cứ làm lơ. Mỗi lần tôi đến hỏi thì được các ông thư lại ấy trả lời thản nhiên là "đơn đang được cứu xét". Một hôm tôi gặp anh công nhân sửa nhà tắm cho tôi. Anh ta nói: "Sẽ chẳng khi nào nhà bà được gắn đồng hồ điện. Cái cách tốt nhất để có đồng hồ điện là đi "cổng hậu".
Vài ngày sau, lúc tôi đi ra ngoài thì thằng con rể mụ Chu cặp kè bên cạnh tôi. Dường như nó đợi tôi sẵn ở ngoài vườn. Nó đề nghị giúp tôi gắn đồng hồ điện qua "cổng hậu" và ra một cái giá gấp mấy lần cái giá chính thức. Chúng tôi mặc cả. Sau cùng giá thỏa thuận là hai lần giá chính thức.
- Nhưng mà cái đồng hồ anh gắn cho tôi phải là xuất từ kho của chỗ anh làm chứ?
Tôi hỏi anh ta thẳng thừng như vậy vì tôi cảm thấy là chắc chắn anh ta xoáy cái đó trong cơ quan của anh ta. Ăn cắp là một điều rất phổ biến trong các cơ quan xí nghiệp lúc đó. Bởi vì các ban bí thư, ban giám đốc lơi lỏng trong việc quản lý các tài sản của nhà nước và bởi vì lương bổng trả cho công nhân rất thấp, không đủ sống nên họ phải ăn cắp để bù vào. Đó là một tệ trạng phổ biến đến nỗi nó được mệnh danh là "công khai bí mật" (open - secret). Công nhân đã diễu cợt giải thích mọi thứ là "của chung" và của chung thì ai xài mà chẳng được? Cậu công nhân ấy đã trả lời câu hỏi của tôi bằng một câu hỏi rất ngỗ ngược như thế này:
- Tại sao bà lại cần biết gốc gác của cái đồng hồ điện ấy làm gì? Bà muốn gắn đồng hồ điện phải không? Bà cần và đạt yêu cầu. Thế là đủ rồi. Thắc mắc làm gì thêm nữa cho nó ốm người ra?
Tôi vẫn còn ngần ngại sợ mua phải đồ ăn cắp.
- Tôi sẽ gắn nó cho bà! nó nói.
- Anh gắn thì tiền công là bao nhiêu?
- Tôi gắn dùm cho bà cũng được thôi bởi vì bà cũng tử tế với gia đình tôi. Nhưng, mong bà thông cảm, lương lậu bây giờ ấy mà, cứ gọi là chết đói. Bởi vậy tôi cũng xin thêm chút đỉnh. Bà cho sáu đồng (nhân dân tệ) được không?
Tôi nhìn vào cái mặt thấy mà tởm của anh chàng công nhân đang đứng trước mặt tôi. Thật ra thì nom nó cũng thông minh mặc dù nó có nước da tái mét, cái mặt quắt queo của một người thiếu ăn kinh niên. Tôi hiểu rằng nếu nó có đểu, nó có xấu xa thì chẳng qua nó là một nạn nhân, cũng như tôi là một nạn nhân của cái chế độ của Mao. Trong một hoàn cảnh khác, nếu nó có điều kiện kiếm đủ sống, tôi chắc nó cũng là một con người biết tự trọng. Nó nhìn tôi có vẻ khẩn khoản. Tôi nói:
- Ừ, sáu đồng thì cũng được thôi!
Sự việc này khiến cho u già A Di tức giận với nhà Chu lắm và u cũng tức cả với tôi nữa vì theo u thì tôi "yếu" trong cái việc đối phó với họ. U còn đoán là từ nay gia đình nhà Chu sẽ còn lấn át tôi nữa. U cằn nhằn "bà chưa biết bọn này đâu!"
Thằng cháu nội của mụ Chu là một thằng bé lên sáu, sắp vào học lớp 1. Nói chung nó là thằng bé nhanh nhảu, linh hoạt. Nhưng phá quá lắm và chẳng biết phép tắc gì cả. Nhiều lần trong một ngày nó cứ lên cầu thang và lẻn vào phòng tôi, nhất là những lúc tôi đi vắng. Nó mở ngăn kéo bàn giấy của tôi và tự tiện lôi đồ của tôi ra nghịch phá. Nhiều khi tôi đi dạo về, thấy nó đang lôi bút mực của tôi trong bàn giấy ra nó hí hoáy vẽ viết gì đó. Có lần nó đem trái banh dơ lên ném vào bức tường quét vôi sạch bóng của tôi. Nó thường chạy ra chạy vô trong phòng của tôi vừa chạy vừa bi bô la hét cứ như để tiêu hao bớt sinh lực của nó. Khi u già làm bếp, hở ra là nó ăn vụng hoặc cứ tự nhiên thò tay bốc các thức ăn, có đồng tiền lẻ nào đi chợ về để trên bàn chưa kịp cất đi thì nó đã chớp mất. Tôi đã nói với mụ Chu nhiều lần về nó, nhưng lần nào mụ cũng trả lời: "Tôi cũng nói nó không được lên trên đó nhưng tôi cũng khó mà quản nó cho xuể. Tôi cũng còn phải làm công việc nhà, phải nấu nướng.."
Một buổi sáng, tôi mở cửa ra nghe thấy tiếng ai đó ngáp dài dưới cầu thang. Nhìn xuống, tôi thấy thằng con trai thất nghiệp của mụ Chu đang dẹp chỗ ngủ của nó. Thì ra đêm lúc tôi đang ngủ trên nhà nó đã chiếm cái phòng đó và biến thành cái phòng ngủ. Cái giường thì kê sát bên phía tường đàng nhà nó và phía bên kia là cái bàn và cái ghế chỉ còn chừa cho tôi một lối đi nhỏ, không lớn hơn ba tấc ở phía giữa. Thật ra, mấy lúc gần đây họ cũng nói với tôi cho họ để vài ba cái bao gì đó ở dưới gầm cầu thang. Tôi gọi u già A Di ra cho u xem. U muốn tức tốc đi xuống nói cho nhà Chu một trận. Nhưng tôi đã cản u lại. Sau khi ăn sáng, tôi đi ra ban nhà đất.
- Tôi là người ở nhà số 1, đường Thái Nguyên, tôi tự giới thiệu với người đàn ông ngồi sau bàn giấy.
- Tôi biết bà là ai. Tôi nhận ra bà.
- Tôi rất tiếc phải làm phiền ông vì tôi có điều chưa rõ phải hỏi ông. Ông có thể cho tôi biết cái phần đất mà Ban Nhà đất dành cho tôi ở là bằng nào?
- Bà được ở trọn phần trên lầu.
- Thế còn cái phòng chỗ có cầu thang?
- Cái phòng cầu thang và vườn thì cứ mỗi người một nửa.
Tôi cảm ơn ông ta và trở về. Mụ Chu đang phơi đồ ở dưới sân. Tôi nói với mụ:
- Tôi yêu cầu con trai bà từ nay không được ngủ ở phòng chỗ cầu thang nữa.
Mụ Chu cứ vừa phơi quần áo vừa trả lời trống không:
- Bên trong đâu còn phòng nào nữa!
- Tôi vừa đến chỗ Ban nhà đất và hỏi. Họ cho biết cái phòng chỗ cầu thang ấy một nửa là phần của bà một nửa là phần của tôi. Bà làm ơn nói với cậu con trai bà dẹp đồ của cậu ta sang phía chỗ phần của bà và đừng làm trở ngại lối đi vào cầu thang của tôi.
- Nó đã để lối đi ra đi vô cho bà rồi - mụ Chu bực bội ra mặt - người bà cũng nhỏ nhắn. Bà cần lối đi ra rộng bằng nào mới đủ?
- Tôi cần lối đi rộng bằng nào không cần vấn đề. Vấn đề là phần đất của tôi rộng bằng nào. Bà làm ơn nói với nó dẹp đồ sang phía bên bà đi. Tôi nói một cách cứng cỏi như vậy rồi bỏ đi vào phòng.
- Gia đình tôi có tới bảy người. Con gái tôi lại đang về đây thăm tôi. Trong phòng nhà tôi không có đủ chỗ để kê giường, mụ Chu nói với theo. U già A Di đứng ở ban công lắng nghe tôi và mụ Chu trao đổi lời lẽ với nhau. Lúc tôi vào đến phòng, u thì thầm nói với tôi:
- Mình phải xây bức tường thôi. Không còn cách nào khác để ngăn họ khỏi lấn đất của mình mãi.
- Nhưng kiếm đâu ra gạch bây giờ!
- Bà cho tôi nghỉ ít ngày tôi về dưới quê tôi ở Tô Châu xem xem có tìm được ít gạch cũ ai bán, mình mua lại được không?
- Dĩ nhiên được thôi. Vả lại u già về thăm nhà cũng tốt!
Tôi thuận để u già về ít ngày. Dù sao thì mỗi tuần u đều có ngày nghỉ nhưng ít khi u đi đâu.
Sáng sớm hôm sau u già đi về nhà, tôi cũng dậy sớm với cái giỏ đi chợ của u. Mặc dù mới năm giờ sáng, trời còn tối, con đường dẫn đến chợ đã đầy những người cúc áo ngoài đã tuột cả ra sau khi họ chen vào quầy bán thực phẩm. Đó là quang cảnh một đám đông người chạy tới chạy lui đi ngang đi dọc cứ loạn cả lên. Từ xa đã nghe thấy tiếng ồn ào.
Vì tôi và u già chỉ dùng hết khẩu phần phân phối thịt heo và trứng nên tôi muốn mua một con gà con. Không qui định trong chế độ khẩu phần - để nấu cháo ăn. Tôi đã có rau và đã mua hết khẩu phần mỡ hàng tháng trước khi tem phiếu hết hạn. Tôi cũng đã lấy chai sữa rồi. Vì gà hiếm hơn rau nên tôi đã đến quầy bán gà trước. Và trước quầy bán gà đã có một hàng người xếp hàng dài. Cách chỗ những người đang đứng cũng có một hàng những thứ đồ tạp nhạp như một cái thùng lủng, một cái nón cũ, một dụng cụ gì đó xếp thành hàng cùng với người đi mua. Mỗi khi hàng người nhích lên một bước thì mấy người đàn bà đứng gần đó cũng nhích những thứ đồ tạp nhạp kia lên một bước, cứ như thế các món đồ ấy cũng tham dự vào xếp hàng, cũng là thành phần của hàng. Qua câu chuyện của mấy người đứng quanh, tôi hiểu ra đặt một đồ vật xếp hàng thì cũng như chính chủ nhân món đồ đó "xếp hàng" nếu có một người bạn hay người quen của mình "nhích" dùm món đồ đó đi tới. Với cách xếp hàng như vậy thì một người cùng một lúc có thể "chầu chực" ở hai, ba quầy khác nhau. Đó cũng là cách giúp đỡ nhau như là cách "cổng hậu" vậy. Bạn giúp đỡ tôi "đẩy" cái thùng của tôi ở quầy này thì tôi đẩy dùm cái nón của bạn ở quầy kia. Khi nào quầy của bạn gần đến lượt thì tôi "ới" bạn phải chạy tới liền để mua. Mọi người đều bắt buộc phải tuân thủ những thủ tục đó, và bởi vậy mà phải giúp đỡ nhau. Trong những điều kiện như vậy việc mua bán trở thành một công việc có tính tổ chức rất cao nhưng cũng rất mệt. Tôi phải đợi có đến gần một tiếng đồng hồ mới tới được quầy bán gà và đến lượt mình mua. Chỉ còn năm con gà nhốt trong một cái lồng lớn. Tiếng người đàn ông hỏi:
- Thẻ thực phẩm đâu?
- Gà con mà cũng qui định tiêu chuẩn à? Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Nhanh lên, người khác đang chờ. Đưa thẻ thực phẩm đây!
Tiếng những người đàn bà đứng đằng sau tôi la ó bực bội. Tôi bị đẩy tới. Vội vã chìa thẻ mua thực phẩm ra cho người bán hàng?
- Cái gì? Hộ chỉ có hai người thôi hả? Vậy thì chỉ được mua con gà một ký thôi. Nhưng hôm nay chỉ có con gà lớn, không có gà một ký. Sáng sớm mai trở lại! Những con gà nhỏ hơn nhưng mập lắm. Người đàn ông nói xong là quay sang hỏi người đàn bà đứng sau tôi: "Thẻ thực phẩm đưa xem!”
Thế là tôi mất toi một tiếng đồng hồ chẳng được việc gì. Tôi quyết định đi qua quầy bán rau. Tôi chẳng lấy gì làm tiếc vì đã không mua được con gà và đứng xếp hàng đã quá mệt và phải nghe những tiếng la hét quang quác the thé đinh tai, nhức óc của mấy người đứng xung quanh. Và nếu tôi có mua được con gà thì rồi lại phải xếp hàng để nhờ người ta cắt tiết, nhổ lông giùm. Ngay cả cháo gà thượng hảo hạng cũng chẳng đáng để tôi phải bỏ ra một sức cố gắng quá lớn như vậy.
Lúc đi qua đám đông để tới quầy bán rau, tôi nghe có tiếng đàn ông gọi sau lưng tôi: "Thái thái! Thái thái!" Đó là tiếng của những đầy tớ dùng để gọi nữ chủ nhân. Tôi ngạc nhiên khi nghe thấy lối gọi như vậy, sau khi đã có cuộc Cách mạng Văn hóa, và tôi không hiểu "bà lớn" đây là ai. Tiếng gọi càng lúc càng gần tôi và dường như đuổi theo tôi. Lát sau thì ông lão làm vườn cho tôi ngày xưa đã đứng cạnh tôi. Nước mắt rơm rớm, giọng nghẹn ngào ông ta nói với tôi:
- Thưa bà! Thì ra bà còn sống! Nom bà cũng còn khá mạnh khỏe. Cô nhà ta…
Mấy người quanh đó tò mò nhìn chúng tôi. Có người đứng dừng lại để nghe. Tôi vội vã cho lão làm vườn địa chỉ và hẹn đến gặp tôi sau.
Tôi chẳng còn thiết mua đồ ăn nữa. Ở nhà, tôi đã có ổ bánh mì với hộp thịt dăm bông và dưa chua. Cũng đủ sống trọn ngày hôm đó. Tôi chỉ mua một chai sữa và trở về nhà chờ ông lão làm vườn.
Ôi thật sung sướng biết bao khi gặp lại ông lão. Tôi mong gặp lại ông lão ngay từ lúc tôi được thả ra. Tôi còn nợ lão một món tiền.
Số tiền tôi tính cho ông lão, tôi đã để sẵn trong túi khi tôi bị bắt bỏ tù. Lão làm vườn cũng sung sướng được gặp tôi. Lão mặc bộ quần áo mới và mặt mày rạng rỡ lúc tôi ra mở cửa cho lão vào.
- Tôi thật rất sung sướng tình cờ gặp ông lão ngoài chợ. Suốt mấy năm nay tôi cứ mong gặp lại ông lão để trả ông lão món tiền mà đã hứa tặng ông.
- Ôi, đa tạ bà, cái đó cô nhà ta đã cho tôi từ lâu rồi. Cô nương đến gặp tôi chỉ ít lâu sau ngày bà lớn bị… ông ta không dám nói chữ cuối cùng là chữ "tù".
Lương của Mai Bình đâu có là bao. Và tôi biết, mấy ông Vệ binh đỏ có đời nào để lại cho nó nhiều tiền. Chắc không thể quá hai trăm đồng. Vậy là nó đã phải dốc sạch túi của nó lúc đó để đưa cho ông lão. Tôi rất hãnh diện về điều nó đã làm. Tôi hỏi ông lão làm vườn.
- Lão có biết gì về cái chết của con gái tôi không?
- Thưa bà, tôi chỉ nghe nói cô tự sát. Trừ cái ngày mà cô đem tiền cho, tôi không được gặp cô lần nào nữa - ông lão cúi đầu xuống - Nhưng lão bộc có thấy cô. Có lần tôi gặp lão bộc trên đường phố. Lão nói với tôi là lão vẫn đều đặn đến thăm cô nhà ta.
- Liệu lão có tìm được lão bộc và nói đến đây thăm tôi được không?
- Thưa bà, chắc chắn là được. Tôi sẽ tìm cả anh bếp nữa. Chắc họ cũng sẽ sung sướng lắm khi được biết bà còn sống và mạnh khỏe.
- Lão có biết lão bộc và anh bếp còn đi làm không?
- Dạ còn. Cả hai đều có được việc làm. Tôi nghĩ là anh bếp thì đi làm ở xí nghiệp còn lão bộc thì gác cổng cho một trường học nào đó. Bà biết không, cái bọn Vệ binh đỏ ấy, chúng nó đánh đập lão bộc đến gãy cả tay ra. Cái tay bây giờ thành tật luôn. Nom lão bây giờ tiều tụy lắm.
Tôi thật xúc động và buồn khi biết tin lão bộc bị như vậy. Tôi hỏi lão làm vườn xem lão còn đi làm không. Lão đáp:
- Tôi bị thất nghiệp có đến mấy năm. Lúc bấy giờ trồng hoa, trồng kiểng bị coi là phần tử xấu nếu không muốn nói là phản cách mạng. Nhưng bây giờ xem chừng thời thế cũng có thay đổi một chút. Thỉnh thoảng tôi cũng có vài việc lặt vặt. Ngay đồn công an chỗ tôi ở cũng bảo tôi trồng cho họ ít hoa. Thì rồi mọi sự cũng phải đâu vào đó chứ, phải không, thưa bà?
Rõ ràng là ông lão bị rối tung rối mù vì những cái chuyện "ông lên bà xuống" chẳng rõ được đâu là đúng là sai nữa. Tôi tự hỏi không biết có nên nhờ ông đến sửa lại mảnh vườn không. Mảnh vườn nom tiêu điều chẳng ra sao mặc dù nhân viên ban Nhà đất đã đến trồng cây cảnh cho rồi đấy. Hình như ông lão cũng đang nghĩ đến một điều như tôi, vì ông nói:
- Bà có muốn tôi đến đây sửa lại cái mảnh vườn dưới này không ạ? Tôi để ý thấy cái hàng rào cần tỉa lại. Và vườn của bà chẳng có cái gì khác cũng ngoài vài ba bụi cây.
- Thế thì hay quá, còn gì bằng! Ông lão có thể trồng ít hoa? Liệu có trồng cỏ được không?
- Tôi sợ là bây giờ không kiếm ra giống cỏ. Hoa thì tôi có ươm được một ít trong chậu ở nhà. Mấy ngón tay nó cứ như bị ngứa ngáy nếu nó không được trồng hoa trồng kiểng. Bà biết không, lúc mà lũ Vệ binh đỏ đang hoành hành, tôi phải dấu mấy chậu hoa giống dưới gầm giường đấy. Lão cười khúc khích.
Khi tôi theo lão làm vườn xuống để chỉ cho lão mảnh vườn thì mụ Chu cũng đang ở đó. Tôi giới thiệu ông lão làm vườn và nói với mụ là ông lão sẽ trồng dùm cho ít hoa. Mụ đáp:
- Chị có trồng thì cứ trồng bên phía của chị, còn phía của tôi cứ để đấy. Chị không biết là Mao Chủ tịch Lãnh tụ Vĩ đại đã phê phán việc trồng hoa à?
Rõ ràng là mụ Chu chưa nắm tình hình thay đổi cái quan niệm của người ta về bông hoa rồi. Tôi cũng chẳng tội vạ gì mà đi nói cho mụ biết. Vả lại tình hình cũng thay đổi dễ như bỡn. Tôi hỏi mụ:
- Thế chị có đồng ý để hàng rào phía bên chị cũng được xén tỉa không?
- Với điều kiện tôi không trả công người làm vườn. Tôi đâu có tiền, mà cũng chẳng giao thiệp với ai ở ngoại quốc nên chẳng có tiền đâu mà trả công cho người làm vườn.
Mụ muốn nói cạnh nói khóe, mỉa mai tôi khi nhắc tới quan hệ với người ngoại quốc, đồng thời muốn nhắc đến cái chuyện ở tù của tôi.
Hai ngày sau, u già A Di trở về mang theo một thúng gồm nào những con cá to, con gà thật mập và trứng gà mà u đã mua được ở Tô Châu qua "cổng hậu". Như thói quen của u thường đi vào nhà bằng lối sau. Mụ Chu đang đứng trong bếp thấy u mang cái thúng. Mụ hỏi u già:
- Này chị mua chợ đen ở Tô Châu những cái gì vậy?
Bị chào bằng những lời tố cáo như vậy, u già nổi sùng "quạt" liền:
- Ai nói chị là tôi mua chợ đen ấy? Cho chị hay, tôi vừa về dưới quê tôi đó. Đây là quà của ông nhà tôi và của thằng con trai tôi. Mà dù gì đi nữa thì cũng chẳng việc gì đến chị!
Tôi nghe tiếng nói của u nên ra khỏi phòng đến gặp u. A Di đi vào bếp và nói với tôi:
- Cái con mẹ già kia độc lắm. "Làm thế nào chị mua được cái đó ngoài chợ? Làm thế nào chị mua được rau?" Lần nào đi chợ về nó cũng hỏi dồn vậy đó!
Sau khi đặt cái thúng lên bàn trong nhà bếp, u già đi vào nhà tắm. Tôi lấy trứng gà ra khỏi thúng và tự hỏi không biết có nên đem cho mụ Chu mấy cái để làm quà không. Mua đồ chợ đen là bất hợp pháp, không có ai báo cáo thì thôi, các "quan chức" cũng làm ngơ, bởi vì họ biết có muốn ngăn chặn mấy cái chuyện ấy cũng không dễ gì.
Tôi nghe có tiếng người bước lên lầu. Bà Lục Anh xuất hiện ở đầu cầu thang. Tôi ra ngoài để đón bà ta.
- Tôi đứng đây cũng đã lâu rồi đấy. Chắc là lúc này chị cũng khỏe, đủ sức để tham gia học tập rồi đấy. Bà Lục Anh nói.
- Cám ơn bà đã quan tâm, tôi mỗi ngày mỗi thấy khỏe hơn.
- Nhiều người thấy chị đi tới, đi lui được. Lúc ra ngoài đường, chị cũng đi nhanh ra phết rồi. Họ biết là chị đã lành mạnh rồi!
- Dạ, quả có thế đấy ạ! Tôi cũng đã lành bệnh rồi đấy ạ!
- Chúng tôi đang học tập tài liệu nói về tội ác của tên Lâm Bưu, quan trọng lắm đấy. Nó giúp sáng tỏ, giúp ta hiểu rõ tên tội phạm này đã âm mưu hãm hại Mao chủ tịch Lãnh tụ Vĩ đại của chúng ta. Tuần sau thì chị phải tham gia học tập đấy nhé! Bà ta ra giọng oai nghiêm và cái giọng ra lệnh.
- Dạ được! Tuần sau tôi sẽ xin tham gia học tập.
Tôi không thể lấy cớ bệnh để tránh học tập được nữa, và tôi cũng lấy làm thú vị về điều đó nữa. Khi u già ra khỏi nhà tắm, bà Lục Anh nói với u già:
- Tôi nghe nói chị đi vắng hai ngày?
- Dạ phải, tôi về dưới quê thăm ông nhà tôi hai ngày, u già đáp.
- Chị mua chợ đen những cái gì vậy? Bà Lục Anh hỏi:
- Dĩ nhiên là không có chợ đen rồi. Ở Tô Châu cũng có Ủy Ban khu phố chứ đâu phải không. Những thứ mà tôi đem về đây ấy là quà của gia đình tôi đấy. Tôi còn ông nhà tôi, mấy đứa con tôi, rồi họ hàng nhà tôi nữa. Người thì nuôi gà, người nuôi cá, đánh bắt cá ngoài sông. Họ cho tôi đó!
- Chị biết, mua đồ chợ đen là bất hợp pháp đấy nhé. Mọi người có nghĩa vụ phải báo cáo cho chúng tôi - Ủy Ban khu phố - khi họ trông thấy những hoạt động như vậy. Có chắc là chị không mua đồ chợ đen không?
Bà Lục Anh "cay" với u già A Di lắm vì bà ta không đủ bằng cớ để buộc tội u mua đồ chợ đen. Bà ta mất thể diện và nổi giận. U già rời khỏi phòng. Quay về phía tôi, bà Lục Anh nói:
- Tiện đây cũng nói để chị hay. Tôi nghe nhiều bà con hàng xóm này bình luận về cái cách ăn mặc của chị đấy. Họ nói là chị quá chú ý đến quần đến áo. Quần áo của chị không những toàn là thứ đắt tiền mà còn là mới nữa.
- Thật ra thì tôi cũng không thích mặc đồ mới. Không có gì thú vị cho tôi hơn là được mặc quần áo cũ của tôi. Khổ nỗi tôi không biết, lúc cướp phá nhà tôi thì Vệ binh đỏ họ lấy quần áo của tôi đem đi đâu hết, tìm không ra có lẽ nhờ bà giúp tôi tìm lại, được không ạ? Tôi nói với bà Lục Anh như vậy.
Bà tắc họng luôn và bối rối vì bà quên mất cái điều là Vệ binh đỏ đã cướp hết quần áo của tôi rồi còn đâu. Nhưng bà đâu có chịu buông tha không chỉ trích tôi:
- Lần sau có may quần áo mới thì chị mua những thứ đồ may sẵn màu xanh như của chúng tôi thế này này. Để chị nom giống chúng tôi hơn và không thấy khác với những người khác nếu như chị cứ mặc đồ may bằng hàng len màu xám lợt hoài, thì làm sao mà hòa mình với quần chúng được.
Khi bà Lục Anh đi rồi, u già và tôi đều hiểu là chính mụ Chu đã đi báo cáo u già với Ủy Ban khu phố và có lẽ cũng chỉ có mụ là nói này nói nọ về vấn đề quần áo của tôi. Tôi hỏi A Di có mua được gạch không. U già đáp:
- Để ông nhà tôi bí mật tìm mua. Khi nào ông ấy xoay được sẽ cho bà hay!
Chủ nhật tuần sau, cả lão Triệu và ông bếp đến thăm tôi. Sau khi hỏi thăm về công ăn việc làm và những người trong gia đình họ, tôi đã nóng lòng và lo lắng hỏi họ về chuyện Mai Bình. Lão Triệu nói:
- Chỉ ít lâu sau ngày bà bị mấy "ông bà" Cách mạng bắt đi thì bọn chúng dành cho cô nhà ta một phòng trong nhà của giáo sư Trần, dạy ở đại học Trùng Khánh. Ông giáo sư này bị bọn Vệ binh đỏ tố và bắt cả gia đình ông phải dọn lên gác xép. Phần dưới nhà thì phân cho mấy gia đình khác dọn đến ở. Cứ khoảng trên dưới mười ngày là tôi lại đến thăm cô nhà ta. Cô khỏe mạnh nhưng có lẽ lo lắng cho bà. Sau khi cô mất đi rồi, tôi có hỏi ông bà Trần về những gì xảy ra. Bà Trần nói với tôi rằng Mai Bình bị mấy ông Cách mạng nửa khuya đến nhà bắt dẫn đi. Bà Trần cho là những "ông bà" Cách mạng này không phải là người của xưởng phim. Bà ấy nói là khi nghe thấy cô từ chối không chịu để cho chúng bắt đem đi, bà Trần đã từ trên gác xép lần xuống đất để nghe. Nhưng cuối cùng thì bọn người kia vẫn cứ lôi cô đi.
- Những người ở trong các phòng gần với Mai Bình thì sao?
- Tôi cũng có dò hỏi. Nhưng không ai dám nói gì hết. Dường như họ sợ!
Tôi hỏi lãoTriệu địa chỉ của nhà này. Lão viết ra nhưng cũng cảnh giác tôi:
- Bà đừng nên tới đó. Bà sẽ không dò hỏi được gì đâu. Tôi có cảm tưởng là mấy người đó cũng được dặn là cấm không được nói năng gì hết về cái vụ đó.
- Tốt hơn bà đừng tự mình dò hỏi. Nếu công an mà biết bà đi điều tra như vậy thì chắc sẽ không hay, anh bếp nói thêm.
- Lão nói giáo sư này dạy học ở đại học Trùng Khánh phải không? Tôi hỏi như vậy vì tôi nghĩ là Henry, chồng của Winnie cũng dạy ở Trùng Khánh, chắc sẽ có thể giới thiệu cho tôi gia đình giáo sư Trần.
- Dạ! Bà vợ giáo sư Trần có nói chuyện với tôi. Bà ấy đẹp lắm. Cô nhà ta cũng thường nói với tôi là bà giáo sư đối đãi với cô rất tốt.
- Lão có biết ông bạn của tôi là ông bà giáo sư Hoàng có bị làm sao không?
- Ôi, ông bà g
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện