DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 12

Chương 12: Được Thả

Năm 1971, xuân đến rồi hạ qua, trong lúc đó, tôi lo chữa chạy nhiều thứ bệnh hoạn thể xác, trong tâm trạng sẵn sàng chờ đợi những thủ đoạn mới của "lũ người theo Mao". Rồi mùa thu tới. Biến cố quan trọng nhất là ngày Quốc khánh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được tổ chức ngày 1 tháng 10 hàng năm. Ngay từ lúc nắm được chính quyền trên lục địa Trung Hoa, chính quyền hàng năm đều có tổ chức lễ mừng trọng thể ngày Quốc khánh. Mọi người được thêm thực phẩm, có dịp được thưởng thức những buổi trình diễn văn nghệ miễn phí tại các công viên và được mua vài thứ hàng hoá hiếm tại cửa hàng quốc doanh.
"Cái đinh" của ngày Quốc khánh là buổi diễu hành được trình diễn tại Thủ đô và đồng thời trên khắp các thành phố lớn. Các xe hoa đầy màu sắc sặc sỡ, trên có các biểu đồ, hình ảnh các thành quả kinh tế, văn hoá trong năm. Hàng trăm ngàn công nhân, nông dân, sinh viên học sinh, kể các bà nội trợ diễu hành để tuyên xưng sự hậu thuẫn cho chính quyền nhân dân bằng cách hô lớn những khẩu hiệu do ban Tuyên huấn của Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra trong những dịp này. Cuộc diễu hành được sắp đặt rất cẩn thận và được các nhân vật chóp bu của Đảng và chính quyền duyệt khán.
Ở Bắc Kinh, cuộc diễu hành được tổ chức tại quảng trường Thiên An Môn, được chính bản thân Mao Trạch Đông cùng với Bộ chính trị và các nhà lãnh đạo trong chính quyền đứng trên khán đài duyệt khán. Khán đài bên cạnh dành cho các quốc khách và các phái đoàn ngoại giao. Đến tối có cuộc đốt pháo bông. Quang cảnh những xe hoa với những biểu đồ thành tích và hàng trăm người đàn ông đàn bà giương cao chân dung Mao và cờ đỏ, miệng hô to các khẩu hiệu diễu hành qua khán đài đã là một bằng chứng cho quyền lực và thắng lợi của Mao. Chắc hẳn đó là những giây phút say sưa cho một con người già nua khi đứng nhìn những khuôn mặt đang vừa đi vừa hướng nhìn về mình, tai nghe tiếng chúc tụng "Vạn tuế, vạn tuế, vạn tuế" (muôn năm, muôn năm, muôn năm) vang lên như sấm phát ra từ trăm ngàn cái miệng kia. Chân dung Mao mỉm cười choán một góc lớn trên tất cả các báo chí ở trên khắp Trung Hoa vào ngày 2 tháng 10 là một bằng chứng khác nữa của niềm hạnh phúc của chính bản thân ông Mao vào dịp quan trọng này.
Mọi người dân sống ở lục địa Trung Hoa đều biết, đối với Mao Trạch Đông, một anh nông dân gốc gác ở tỉnh Hồ Nam, thì ngày lễ Quốc khánh chính là một ngày mãn nguyện nhất của cá nhân ông ta. Bởi vậy thật rất đáng ngạc nhiên là ngày 1 tháng 10 năm 1971 tại lục địa không có tổ chức rầm rộ ngày lễ Quốc khánh như mọi khi, buổi phát thanh sáng hôm đó cũng không đả động gì mới lại càng đáng ngạc nhiên. Đến chiều, tôi nôn nao chờ đợi báo mới. Khi nhận được báo, cũng chân dung của Mao in trên trang nhất và chữ Quốc khánh in bằng mực đỏ, nhưng chẳng có chút nhắc nhở gì đến các hoạt động của các vị lãnh đạo trong dịp đặc biệt này. Và cũng chẳng có một tổ chức, biến cố gì khác thường. Trong lúc tôi đang thắc mắc về cái biến cố bất thường này thì cai ngục bất chợt mở chiếc cửa sổ trên cửa xà lim và nói vọng vào: "Đưa cuốn "Mao tuyển" của mày đây!”
Một lệnh như vậy thật quá lạ lùng đến nỗi tôi không hiểu tôi có vô tình làm một cái gì đó tai hại trong cuốn sách này không và bây giờ cai ngục nắm lấy cái đó làm cái cớ để trừng phạt tôi. Tôi vội vã cầm cuốn sách đó lên, liếc qua để chắc cuốn sách đó không có gì đáng chê trách, sau đó trao cho mụ cai ngục. Sau khi mụ đóng cửa và đi khỏi, tôi thấy mụ lên lầu và cũng bảo các xà lim đưa cho mụ cuốn "Mao tuyển". Do đó tôi hết lo và hiểu rằng mụ đã được chỉ thị đi gom sách này của tất cả các tù nhân.
Mụ chỉ trả lại sách cho tôi khi mụ đến nhắc giờ đi ngủ. Tôi lật xem lại cuốn sách và cố đoán trước hết là tại sao mụ lại hỏi lấy cuốn sách đó và sau đó lại càng kinh ngạc khi thấy "lời tựa" của cuốn sách đó đã bị mụ xé bỏ. Cuốn "Mao tuyển" được Quân Đội giải phóng nhân dân tuyển (các lời của Mao) và ấn hành làm tài liệu cho đám lính tráng gần như mù chữ học tập tư tưởng của Mao Trạch Đông, theo lệnh của Lâm Bưu khi ông ta lên nắm Bộ Quốc phòng.
Lời tựa đó do chính Lâm Bưu viết trong đó ông ta tán tụng Mao là "một người mác xít vĩ đại nhất đang sống trong thời đại chúng ta, người đã phát triển triết học Mác - Lê nin đã và đang áp dụng một cách thành công vào điều kiện cụ thể của Trung Hoa". Ông ta cũng thúc giục mọi chiến sĩ của quân giải phóng phải học tập lời dạy của Mao và vận dụng vào trong công tác, nhiệm vụ hàng ngày của mình để cho "tư tưởng Mao Trạch Đông ngấm vào máu" và trở thành một chiến sĩ "học tập tư tưởng Mao Chủ Tịch, phục tùng mệnh lệnh Mao Chủ Tịch và trở thành chiến sĩ tốt nhất của Mao Chủ Tịch".
Trong lời tựa đó không lấy một nửa chữ có giọng điệu chống Mao, trái lại phải coi đó là một lời nịnh bợ rõ ràng mà nhiều người phát ngượng khi phải nhớ, phải nói ra. Nhưng trong thời Cách mạng Văn hóa thì đó là những việc có tính cách bắt buộc. Tôi thấy chỉ có một lý do khả dĩ giải thích được sự kiện "lời tựa" đã bị xé bỏ, đó là tác giả của lời tựa đã bị thất sủng rồi. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có một thông lệ là một quan chức cao cấp của Đảng bị thất sủng thì tất cả những gì ghi chép liên quan đến quan chức đó - kể cả tên và những gì người đó viết ra - đều bị bôi xoá hủy bỏ hết, như thể người đó chưa từng hiện diện trên cõi đời này vậy. Rõ ràng là các cai ngục được lệnh gom những cuốn "Mao tuyển" của các tù nhân và xé đi "lời tựa" cũng nằm trong thông lệ đó. Đối với tôi, sự kiện Lâm Bưu có thể bị thất sủng, thật đáng ngạc nhiên đến nỗi tôi cầm quyển sách trầm ngâm suy tư mà quên hẳn mọi sự khác.
Tiếng cai ngục nói tự ngoài cửa vọng vào: "Mày còn đứng đó làm gì mà chưa lên gường ngủ?”
Không muốn để cho mụ hiểu là tôi quan tâm đến những gì vừa xảy ra, tôi vội vã trải mền và các thứ ra rồi lên gường nằm. Nhưng đêm đó tôi thao thức mãi.
Sau vài ngày "lời tựa" trên cuốn "Mao tuyển" bị xé, trên báo chí tố cáo một kẻ nào đó "ăn cùng mâm ngủ cùng trên chiếu với ta". Kiểu nói này cũng được dùng tới khi Lưu Thiếu Kỳ bị kết tội. Điều đó cũng hàm cái ý rằng Mao đã không dè kẻ thân cận với ông ta là kẻ muốn ám hại ông ta. Một bài báo khác đã nói tới cái thói "lá mặt lá trái" của một kẻ mà Mao đã tin cậy, miệng thì nói ủng hộ nhưng trong lòng thì âm mưu sát hại ông ta. Bài báo cũng đã đề cập đến lịch sử Đảng và sự tham dự của quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật và chiến tranh giải phóng chống Quốc Dân Đảng.
Nhân dân Trung Hoa - trong đó có tôi - đâu có lạ gì với tiểu sử của Lâm Bưu. Bởi vì tiểu sử ấy vẫn thường được ca ngợi khi ông ta được đưa lên cái địa vị kế ngôi Mao Trạch Đông. Duyệt xét kỹ các biến cố và đọc kỹ từng chữ, để ý từng lời trong các bài báo, tôi cũng nhận ra rằng tên của một tay chân của Lâm Bưu phụ trách kiểm soát quân sự tại Sở Công an Thượng Hải cũng đã biến mất trên báo. Nhà tù số 1 là một phần trong mạng lưới tư pháp của Sở Công an Thượng Hải, do đó các quan chức kia cũng là thủ trưởng cao nhất của nhà tù này. Có nghĩa là nhà tù số 1 này một lần nữa "đổi chủ". Tôi cho rằng kẻ đứng đằng sau ra lệnh tra trấn hành hạ tôi là một đại diện quân sự của Lâm Bưu tại Thượng Hải, nếu nhận định đó là đúng, thì tôi có lý do để hi vọng rằng sự kiện Lâm Bưu hạ bệ có lợi cho tôi. Tuy nhiên tôi phải tự nhủ tiếp tục theo dõi các diễn biến. Tôi nghĩ còn quá sớm để vui mừng vì tôi không biết người của phe nào - phe của Giang Thanh hay phe của thủ tướng Chu Ân Lai - sẽ lấp vào cái khoảng trống quyền lực do sự hạ bệ Lâm Bưu tạo ra.
Vào khoảng tháng 10, lúc đó đã khuya, tù nhân được các cai ngục gọi dậy ngồi im lặng nghe buổi phát thanh đặc biệt quan trọng. Loa phóng thanh phát ra giọng đàn ông nói cho tù nhân nghe về "tình hình tốt đẹp do cuộc Cách mạng Văn hóa tạo ra". Trọng tâm của bài nói đó là loan báo tổng thống Nixon sẽ thăm viếng chính thức Trung Hoa vào tháng hai năm sau. Hắn nói là cuộc Cách mạng Văn hóa đã mang Trung Hoa lên một vị trí quan trọng trên thế giới đến nỗi Hoa Kỳ vẫn theo đuổi chính sách thù nghịch chống chính quyền Nhân dân, nay sắp sửa nhận ra sự sai lầm của chính sách đó.
"Việc thăm viếng sắp tới của Nixon, vị nguyên thủ của một nước tư bản mạnh nhất thế giới có ý nghĩa gì? Nếu Trung Hoa mà yếu hoặc bất lực thì liệu ông ta có đến thăm không? Dĩ nhiên là không! Nixon quyết định đến Trung Hoa là để tỏ lòng tôn kính lãnh tụ vĩ đại của chúng ta vì ông ta đang đứng trước sự kiện là Trung Hoa - dưới sự lãnh đạo sáng suốt của lãnh tụ vĩ đại - sau khi đã được cuộc Cách mạng Văn hóa làm cho trong sạch tăng cường sức lực, đã trở thành vô địch. Đừng quên rằng Hoa Kỳ vẫn còn là một nước tư bản phản động nhất thế giới và là kẻ thù lớn nhất của chúng ta. Cuộc thăm viếng sắp tới Tổng thống Mỹ là một thắng lợi to lớn của giai cấp Vô sản Trung Hoa. Nó phản ánh thành tựu to lớn mà cuộc Cách mạng Văn hóa đã đạt được. Nó xác nhận sự kiện là hệ thống tư bản suy đồi đang trên đà tuột dốc trong khi đó hệ thống Xã hội chủ nghĩa của chúng ta đang gia tăng sức mạnh và có ảnh hưởng lớn trên thế giới.
Trước hết, khi ông ta đề nghị viếng thăm nước ta, có nhiều đồng chí của ta nghĩ rằng không nên đón tiếp một kẻ đại diện cho chủ nghĩa đế quốc đang chống lại Việt Nam, kẻ đại diện cho những tên bóc lột giai cấp công nhân ở Hoa Kỳ, kẻ đại diện cho một chính sách thù nghịch lâu dài đối với chính quyền nhân dân. Nhưng lãnh tụ của chúng ta vốn đại lượng. Người nói: cứ để cho ông ta đến. Cứ tiếp đãi ông ta một cách lịch sự. Nếu ông ta nhìn nhận những sai lầm đã qua và có ý muốn thành thật thay đổi thì ta sẽ hoan nghênh họ. Chúng ta là những người Mác xít. Chúng ta dành cho người ta cơ may nếu họ tỏ ra thành thật hối cải. Lãnh tụ vĩ đại của chúng ta thật sáng suốt. Người đã có lý. Và chúng ta sắp tiếp đón ông Nixon, và chỉ trong vài tháng nữa, chúng ta sẽ giáo dục cho tất cả các đồng chí của chúng ta về tình hình mới và giúp họ thấy rằng khi tiếp đón Nixon, chúng ta đã không từ bỏ nguyên tắc của chúng ta mà chỉ là chấp nhận sự từ bỏ những chính sách sai lầm của Hoa Kỳ. Cuộc viếng thăm của Nixon là thắng lợi vĩ đại của chúng ta.
Nhân dịp này, tôi muốn có vài lời cảnh cáo nhiều tù nhân bị giam tại nhà tù số 1 này. Nhiều người trong số tù nhân đã bị giam ở đây là đúng vì họ đã tôn thờ thế giới tư bản của bọn đế quốc và coi thường nước Trung Hoa Xã hội Chủ nghĩa. Mấy người đặt hi vọng vào thế giới tư bản và tin rằng một ngày nào đó chủ nghĩa tư bản sẽ lại ngóc đầu dậy ở Trung Hoa. Hãy coi cuộc viếng thăm sắp tới của Nixon như là một bài học cho mấy người. Suy nghĩ cho kỹ đi. Nếu bọn phản động Quốc Dân Đảng không bị tống khứ khỏi lục địa Trung Hoa, nếu quân đội Mỹ không bị chí nguyện quân của nhân dân Trung Hoa đánh bại ở Triều Tiên, nếu quân đội Mỹ không bị sa lầy ở Việt Nam và nhất là chúng ta không nhờ cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại mà trở nên hùng cường hơn thì liệu Nixon có chịu cất công đi nửa vòng trái đất để đến Bắc Kinh bái kiến vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta hay không?”
Bài phát biểu đó dài lê thê, hả hê lặp đi lặp lại đề nghị viếng thăm của tổng thống Nixon. Tôi cho rằng đó là ý chính của bài phát biểu. Sau này khi được thả ra, tôi được biết cuộc viếng thăm được loan báo cho công chúng biết cũng bằng cái luận điệu đó. Những buổi học tập thảo luận cũng được tổ chức ở khắp mọi cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, công xã và ở các cuộc họp của khu phố để "chuẩn bị" cho nhân dân cuộc viếng thăm sắp tới và dùng dịp này để tạo ra cái cảm tưởng Mao Trạch Đông bây giờ là nhà lãnh đạo quan trọng nhất thế giới. Tôi phấn khởi trước sự chuyển hướng bang giao của Trung Hoa đối với Hoa Kỳ và tin rằng nó có thể có tác dụng quyết định trên sự cân bằng quyền lực trong nhóm lãnh đạo chóp bu của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Theo ý tôi, ít ra thủ tướng Chu Ân Lai cũng trở nên vững mạnh một cách đáng kể trong thời gian sắp tới. Có lẽ lực lượng ôn hòa trong nhóm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa sẽ nắm được thế thượng phong. Và nếu đúng như vậy thì tôi sẽ sắp phải chịu những thử thách mới nữa. Tuy nhiên, nhờ kinh nghiệm, tôi biết, ở Trung Hoa, mọi sự đều diễn biến một cách chậm chạp. Tác động của một chính sách mới ở Trung Hoa thường phải mất vài tháng, có khi cả năm mới thấm tới hạ tầng cơ sở như cỡ tôi chẳng hạn. Tôi cũng biết rằng phái cực đoan đứng đầu là Giang Thanh vẫn còn mạnh ở Thượng Hải và sự cấu kết lâu đời giữa mụ và Trương Xuân Kiều, Bí thư thành ủy ở đây.
Sau nhiều năm sống không hy vọng thật sự, tôi trở nên bồn chồn vì diễn biến mới này. Trong nhiều tuần lễ, tôi xem báo và chờ đợi. Các cai ngục tỏ ra bận bịu. Cũng như cái ngày các "ông bà" Cách mạng và Vệ binh đỏ tiếm quyền ở Thượng Hải vào năm 1967. Tôi nghĩ, có lẽ họ cũng đang tăng cường học tập chính trị về vụ hạ bệ Lâm Bưu.
Mùa đông lại sắp tới gần. Những lỗ thủng ở khuỷu tay áo len và ở đầu gối không còn vá lại được nữa. Bông gòn độn trong áo và mền đã rời tơi tả và dồn hết xuống phía dưới để trơ hai lần vải lót và vải bọc tách rời nhau. Cái áo sơ mi còn lại thì vá đùm vá đụp đến nỗi không còn phân biệt được lớp vải nguyên thuỷ của nó là gì nữa. Rõ ràng là nếu tôi còn phải ở trong nhà tù này và muốn sống sót qua mùa đông thì tôi cần phải có thêm quần áo ấm. Mặc dù đã bao lần tôi yêu cầu được cung cấp quần áo nhưng là bấy nhiêu lần nói với lũ điếc. Một lần nữa là tôi quyết định thử coi xem hoàn cảnh mới đổi thay thì câu trả lời cho yêu cầu thêm quần áo của tôi có khác đi chăng. Tôi ra phía cửa, nói lớn:
- Báo cáo.
- Mày muốn gì vậy? Bước đi lệt bệt mỏi mệt của mụ cai ngục dừng lại trước của xà lim và cánh cửa sổ mở bật ra.
Tôi chìa cái áo len rách nát cho mụ xem và nói:
- Thời tiết sắp lạnh rồi. Quần áo và mền của tôi cũ, rách đến nỗi mặc vào không thấy ấm nữa. Chị làm ơn nhìn dùm coi. Lỗ thủng tùm lum. Bởi vậy tôi cần áo bông khoác ngoài, áo len, áo sơ mi. Chị nhìn quần áo của tôi, chị thấy rõ là tôi cần quần áo ấm cho mùa đông này!
- Chị ở đây bao lâu rồi? Mấy năm cả thảy?
- Tôi ở đây mùa đông này là mùa đông thứ sáu. Tôi bị đưa vào đây từ tháng 9 năm 1966. Áo quần, chăn mền của tôi - do Vệ binh đỏ đem từ nhà lại - lúc đó cũng đâu có phải là đồ mới. Vậy mà sau bấy nhiêu năm không có được thêm hoặc chữa lại nên đâu còn ấm áp gì nữa.
Lúc này tôi thấy một đốm sáng lóe lên ở cuối đường hầm tối thui mà tôi bị nhốt trong đó đã quá lâu, tôi quyết sống cho đến ngày đốm sáng đó dẫn tôi ra khỏi đường hầm đến chỗ sáng thực sự. Có lẽ giọng nói của tôi có vẻ lo âu khiến cho mụ có vẻ khó chịu. Mụ đóng sập cửa lại và bỏ đi.
Vẫn cứ lì trước sự lạnh lùng lãnh đạm của bọn cai ngục, gặp cai ngục nào tôi cũng yêu cầu cung cấp quần áo ngự hàn và chăn mền, và cứ như vậy trong nhiều ngày liên tiếp. Cuối cùng, một trong số cai ngục đã bực bội nói:
- Biết rồi! Biết rồi! Mày cần quần áo ấm. Chúng tao đã biết rồi. Yêu cầu của mày còn đang được cứu xét.
Một tuần lễ trôi qua. Thời tiết càng lúc càng lạnh hơn. Tôi quyết định thử một lần nữa:
- Báo cáo.
- Mày muốn gì?
- Cho tôi xin gặp điều tra viên.
- Để làm gì vậy?
- Tôi yêu cầu cung cấp quần áo ấm!
- Thế mày không có quần áo ấm rồi là gì?, mụ mở cửa sổ ra. Tôi thấy mụ cai ngục này là người đàn bà tuổi trung niên, nhơn từ và đã thúc dục tôi phải ăn trong lúc tay tôi bị còng. Từ bữa đó tới nay tôi mới gặp lại mụ.
- Quần áo ấm của tôi rách nát hết rồi - tôi nói - chị làm ơn vào tận trong xà lim này mà coi. Tôi sợ là đến mùa đông này tôi sẽ bệnh lại nếu tôi không đủ quần áo ấm.
- Mụ mở cửa bước vào trong xà lim, nhìn quần áo và chăn mền của tôi.
- Tôi sẽ báo cáo với cấp trên - mụ nói - chị có muốn mượn quần áo của tù nhân trong nhà tù này ngay bây giờ không?
Cái ý nghĩ phải mặc quần áo của tù nhân khác làm tôi phát khiếp. Không những vì tôi sợ chấy, rận mà vì như vậy là chịu từ bỏ cái phẩm cách và sự độc lập của tôi đi.
- Không cảm ơn, tôi không muốn mượn quần áo của tù nhân khác. Tôi muốn được mua quần áo ấm bằng tiền riêng của tôi mà hiện nay nhà cầm quyền hiện đang còn giữ.
Mụ tỏ ra trầm ngâm suy nghĩ, tôi nói thêm:
- Tiền của tôi bị Vệ binh đỏ lấy khi chúng đến cướp phá nhà tôi. Một trong số vệ - binh - đỏ - thầy - giáo nói với tôi là chính quyền sẽ giữ dùm tiền của tôi nếu tiền đó không phải do bóc lột mà có. Tôi đâu có cổ phần ở xí nghiệp nào, mà cũng chẳng có ruộng nương, đất đai ở nhà quê. Tôi giải thích cho ông ta điều đó, ông ta nói vậy thì tiền đó sẽ không bị tịch thu.
- Tôi sẽ báo cáo lại với chính quyền, mụ hứa như vậy.
Vài ngày sau tôi bị gọi lên phòng thẩm vấn. Người cai ngục già ở đâu tôi không trông thấy. Ngồi ở chỗ điều tra viên là con mụ - lính - cái - non hắc ám luôn đi đầu trong việc hành hạ đánh đập tôi. Bên cạnh mụ là hai cai ngục khác trong đó có một cai ngục mà tôi cho là dịu dàng nhân từ. Cái nhìn của mụ - cai - ngục - lính - cái - non vừa có vẻ ngạc nhiên vừa có vẻ bực bội vì tôi. Tình hình mới ở Bắc Kinh đã tác động đến nhà tù số 1 này và đã có sự thay đổi rồi chăng? Với mụ lính cái này thì tôi còn mong gì lời yêu cầu của tôi lọt được vào lỗ tai thiện cảm?
Sau khi "chào" chân dung Mao Chủ Tịch và đọc một trích đoạn từ trong sách đã bị xé mất "lời tựa", tôi ngồi xuống ghế dành cho tù nhân và chờ đợi những câu hỏi tức cười, kỳ cục của mụ. Tôi không lấy gì làm ngạc nhiên về cái giọng nói bình thường - lại có vẻ dịu dàng nữa - khi mụ nói:
- Mày xin thêm quần áo ấm, phải không? Trước kia mày chưa nhận được quần áo ấm sao?
- Rách hết rồi.
Để chứng minh tôi cởi phăng chiếc áo bông vải ra chỉ cho mụ thấy cái áo ở dưới lỗ thủng tùm lum, bông gòn lủn mủn đổ ra cả nắm. Tôi giơ hai cánh tay cho mụ thấy đã sờn hết.
- Được rồi! Được rồi! Mặc áo vào!
- Chính quyền hãy còn phong toả tài sản của tôi. Tôi muốn xin được phép dùng một ít tiền riêng của tôi để mua thêm những quần áo cần thiết, tôi nói và nhấn mạnh vào mấy chữ "tiền riêng của tôi".
- Bộ phận chính quyền nào giữ tiền riêng của mày? - mụ hỏi - Mày có biên lai không?
- Khi Vệ binh đỏ đến nhà tôi cướp phá, họ đã lấy tiền của tôi, họ đâu có đưa biên lai.
- Mày không được dùng từ "cướp phá" để nói về hành động Cách mạng của Vệ binh đỏ. Họ hành động theo chỉ thị của Lãnh tụ vĩ đại để thanh tẩy Trung Hoa Xã hội Chủ nghĩa khỏi "bốn cái cũ" và trấn áp giai cấp bóc lột.
- Tôi không thuộc thành phần giai cấp bóc lột. Theo Karl Marx thì chỉ có những kẻ nào sống bằng lợi tức từ những cổ phần và chia lời trong các nhà máy hoặc trên sự thu tô đất đai ruộng vườn … mới là "thành phần của giai cấp bóc lột". Tiền của tôi chủ yếu là do đồng lương của tôi kiếm được một cách lương thiện và hợp pháp và từ thừa hưởng gia tài của tổ tiên cũng là cái được hiến pháp và luật pháp công nhận và bảo đảm - tôi nói một cách sôi nổi. Nếu chỉ một năm trước mà tôi nói như vậy chắc là mụ đã nổi giận đùng đùng lên rồi. Nhưng bây giờ mụ đã làm như không biết tôi vậy.
- Ông Vệ - Binh - Đỏ - Thầy - Giáo đến nhà mày để tiến hành các hành động cách mạng có nói với mày là bộ phận chính quyền nào giữ tiền của mày không?
- Không, họ chỉ nói là số tiền đó bọ phong toả theo quyết định của Mao Chủ Tịch.
- Đúng, tất cả những tài sản do Vệ binh đỏ lấy đều được phong toả và không ai được đụng đến trước khi Mao Chủ Tịch quyết định.
- Tôi có chương mục ngoại hối tại ngân hàng "Bank of China".
- Chương mục ngoại hối cũng bị phong tỏa luôn.
- Được, vậy đưa cho tôi một cái máy đánh chữ tiếng Anh, tôi sẽ viết một cái thư cho ngân hàng của tôi ở Hồng Kông và họ sẽ gửi đến đây cho tôi một món tiền.
- Cái đó không được phép. Mày không được phép liên lạc với bất cứ ai sống ngoài lục địa Trung Hoa - mụ nói - làm sao chúng tao biết được mày viết cái gì ở đó?
- Trước khi tôi gửi thư đi thì tất nhiên là các người đã đọc trước rồi chứ!
- Mày có thể gửi mật mã ra khỏi nước. Cái đó không được. Cái mà tao sẽ làm, ấy là báo cáo lời thỉnh cầu của mày cho cấp trên và cấp trên sẽ xét xem có nên cấp cho mày quần áo ấm khi mà thời tiết thật sự lạnh lẽo. Bây giờ mày trở về xà lim và chăm chỉ nghiên cứu sách do Mao Chủ Tịch, lãnh tụ vĩ đại đã viết.
Tôi được dẫn trở lại xà lim. Suốt cuộc thẩm vấn, mụ lính cái đó đã nói với tôi bằng một giọng bình thường, có phần còn hơi cảm tình nữa là khác. Sự thay đổi này thật đáng kinh ngạc. Tôi cho con mụ này đúng là kiểu mẫu điển hình của những đảng viên "bám sát đường lối chính sách của Đảng". Người bình dân Trung Hoa gọi bọn này là "con kỳ nhông". Vì chúng thay đổi cử chỉ và thái độ rất lẹ tùy trường hợp, y như con kỳ nhông thay đổi màu sắc theo chỗ nó đang ở. Những Đảng viên như vậy mới sống sót và lập nhiều thành tích. Bọn này không bao giờ đặt vấn đề đường lối, chính sách của Đảng mà là bám sát nhanh và thực hiện cho đúng. Bọn họ là những người máy (robot) "rất thông minh tài khéo nhưng cũng rất ngu đần bất lực" vì tỏ ra không có khả năng tư duy độc lập hoặc lương tâm con người. Bọn họ là những cán bộ tốt nhất cho bất cứ ông Bí thư nào trong bất cứ cơ quan nào vì họ luôn sẵn sàng phục vụ ông ta mà không bao giờ đặt thành vấn đề bao lâu ông Bí thư này còn đại diện cho quyền lực của Đảng và còn giúp cho họ thăng tiến. Nhưng nếu ông Bí thư bị thất sủng thì chính bọn cán bộ này là những người đầu tiên tố giác ông ta. Họ là một mẫu mới của một người thành công mà cuộc Cách Mạng Cộng sản ở Trung Hoa đã sinh ra. Bởi vì dường như họ đã duy trì được địa vị qua các cuộc "lúc lắc ngoằn ngoèo vặn vẹo" của các chính sách đối nghịch nhau của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Họ trở thành một mẫu mực cho thế hệ thanh niên Trung Hoa hiện nay noi theo. Kết quả là sự thay đổi đến tận nền tảng những giá trị cơ bản của xã hội Trung Hoa.
Một tuần lễ sau, một bọc lớn được một gã cai ngục đem vào đặt trên nền xà lim của tôi. Sau khi tôi ký nhận, gã đi ra và khóa cửa lại. Tôi đem gói đó đặt lên gường, mở ra. Tôi hết sức ngạc nhiên vì thấy trong bọc đó có cái áo khoác ngoài áo len sợi lông cừu, hai áo len dệt kim, một cái nịt vú mà Vệ binh đỏ cho phép con gái tôi giữ lại dùng sau khi chúng đến cướp phá nhà tôi năm 1966. Cũng có cả tấm mền phủ gường vào mùa đông của nó. Quấn trong đống quần áo ấy là mấy cái khăn rửa mặt, khăn tắm và một cái tách mà con tôi vẫn dùng để uống trà. Một trong những cái khăn ấy in hình cái móng ngựa màu hồng mà tôi mua từ Hồng Kông về và nó đang dùng khi tôi bị bắt giam vào nhà tù số 1. Cái khăn ấy vẫn còn nguyên trạng năm 1966. Tôi nhìn cái áo khoác ngoài làm bằng len màu xanh nước biển chạy sọc màu nâu. Năm 1966 áo này vẫn còn mới và đến nay nó cũng vẫn vậy. Tay tôi run run cầm cái tách bằng sứ và thấy còn vết cặn trà nâu dính ở dưới đáy. Cái tách đã không được rửa, nước trà khô đi để lại vết cặn đó.
Càng xem xét từng món đồ, tim tôi càng đập mạnh và dồn dập. Tôi nhận ra rõ ràng đó là điềm báo một tai hoạ. Tôi không thể không nghĩ rằng có một cái gì đó khủng khiếp lắm đã xảy ra cho con gái tôi chỉ ít lâu sau khi tôi bị bắt. Có thể là nó đã chết. Đó là lý do tại sao quần áo của nó hầu như không được nó mặc và cái khăn nom vẫn còn mới như chưa dùng. Có lẽ nó đã bị chết bất ngờ và bất thình lình vì vậy mà nó không kịp rửa tách uống trà của nó. Hai cẳng tôi muốn sụm đến nỗi tôi phải vội ngồi ngay lên giường.
Nhà tù số 1 có cho phép gia đình tù nhân gửi cho tù nhân áo quần và các nhu yếu phẩm như xà bông, khăn rửa mặt vào ngày mồng năm mỗi tháng. Ngày mà tôi nghe thấy cai ngục mang các gói quà đến cho các tù nhân khác - tôi không bao giờ nhận được - là ngày mà tôi cảm thấy cô đơn nhất trong thời gian ở tù. Lúc đầu tôi tự hỏi không hiểu sao con gái tôi lại không gửi gì cho tôi. Sau này, vì tôi tin rằng, là một đoàn viên thanh niên Cộng sản, con gái đã bị bắt buộc phải từ, không được nhìn nhận tôi, tuy mất mối dây liên lạc mong manh giữa tôi và con gái qua những gói quà hàng tháng, tôi lại thấy sung sướng vì nó tránh được nỗi khổ tâm hàng tháng phải đến cổng nhà tù xếp hàng đứng đợi cả mấy tiếng đồng hồ để được gởi một gói quà cho thân nhân đang bị giam. Bây giờ tự đáy lòng tôi hiểu cái lý do tôi không nhận được gói quà nào là vì con gái tôi đã chết. Tôi bước vội ra cửa, hi vọng tìm ra sự thật nhờ cai ngục:
- Báo cáo.
- Mày muốn gì? Mụ cai ngục mở cánh cửa sổ nhỏ và nhìn vào xà lim.
- Những món đồ mà các ông vừa đem lại cho tôi là của con gái tôi!
- Thì sao?
- Con gái tôi làm sao rồi?
- Nó không sao hết!
- Qua cửa sổ tôi nhìn vào mặt mụ ta. Mụ tỏ ra bình thường, thản nhiên.
- Áo quần ấy lấy từ năm 1966 vẫn còn mới y nguyên vậy. Suốt từ ngày ấy đến giờ, chẳng lẽ nó không đụng tới hay sao?
- Làm sao tao biết được điều đó. Có thể nó đã mua quần áo mới. Nó có đi làm, phải vậy không? Vậy thì nó có lương, nó có thể mua quần áo khác. Được lắm chứ?
- Nói vậy là chị có ý nói là chị biết con gái tôi bây giờ còn sống và khoẻ mạnh, phải vậy không? Tôi hy vọng rất nhiều để được an tâm.
- Nếu nói như mày thì … chưa bao giờ tao gặp nó!
- Nhưng chị có biết không? Biết chứ?
- Làm sao nó có thể khác được. Nói vậy rồi, mụ đóng sập cửa lại và bỏ đi tuốt.
Tôi đang bị cuồng trí hay sao thế này? Phải chăng đời sống trong nhà tù khiến tôi hoá ra quá đa nghi và nhạy cảm. Tôi xem xét lại tất cả mọi sự một cách cẩn thận. Và cứ đụng đến từng món đồ của nó là tôi lại càng tin chắc hơn là con tôi đã bị chết rồi. Tín hiệu về cái chết của nó rõ ràng và mãnh liệt quá. Nhưng tôi vẫn cần một bằng chứng cụ thể vì tôi thường có thói quen đương đầu với chính sự kiện, đồng thời nghi ngờ tất cả những cái gì mà tôi mới chỉ có cảm tưởng chứ chưa hiểu rõ hoặc giải thích được. Nhưng trong đầu óc tôi cũng nảy ra những ý kiến không cho tôi chấp nhận rằng con tôi đã chết. Bởi vì, nếu như vậy thì chẳng hoá ra bao nhiêu năm nay, tôi đấu tranh để giành giật lấy sự sống, lại trở nên vô nghĩa sao. Già nua, bệnh tật mà đã chết thì đã đành, nhưng trẻ trung và mạnh khoẻ như nó thì không thể như vậy được. Tôi cố thuyết phục tôi là mặc dù những gì tôi đã thấy, thực tế nó vẫn bình an, mạnh khoẻ.
Nhưng tôi vẫn không sao giải thích một cách ổn thỏa khi nhìn thấy những cái bất thường đang giãi bày ra trước mắt tôi. Những đồ vật vô tri kia dường như nói với tôi rằng chẳng bao lâu sau ngày tôi bị bắt thì bất thình lình thời gian ngưng đọng lại. Cái áo khoác ngoài màu xanh nước biển vẫn còn mới. Nhưng tôi xem xét thật kỹ thì thấy ở ống tay áo có vết cáu bẩn và trong túi áo hãy còn cái khăn tay của nó.
Theo tôi thì hình như nó có mặc cái áo ấy. Nhưng nếu có mặc thì cũng chỉ qua một mùa đông là nhiều. Đầu óc tôi cứ xoay vòng vòng với những ý nghĩ, những giả thiết về những gì có thể xảy ra. Cứ như giọng điệu của mụ cai ngục thì dường như nó vẫn còn sống. Nhưng mụ lại không nói rõ ra. Một ý nghĩ chợt nảy ra trong trí khiến tôi đi ra phía cửa xà lim.
- Báo cáo.
Không có ai tới. Tôi gọi mãi, gọi mãi. Cũng vẫn không có cai ngục nào tới mặc dù tôi nghe thấy họ nói chuyện với nhau trong một phòng ở cuối dãy hành lang. Lúc cai ngục trực phiên đến nhắc tù nhân đi ngủ, tôi cố để nói với mụ. Nhưng mụ không đến gần phòng tôi mà chỉ đứng cách xa xa nói vọng tới bảo tôi đi ngủ.
- Báo cáo!
Không có tiếng trả lời. Tôi quyết định đợi cai ngục trực phiên ban ngày. Khi mụ tới, tôi lại gọi. "Báo cáo".
Mụ đến ngay: "Mày muốn gì?"
- Mấy món đồ của con tôi do ông giám thị kia đem đã làm cho tôi lo lắng quá. Tôi không hiểu sao con gái tôi lại không dùng mấy thứ đó. Vệ binh đỏ đã để lại cho mẹ con tôi mỗi người một cái áo khoác ngoài, tại sao mấy mùa đông rồi nó lại không dùng. Để chứng tỏ con gái tôi còn sống và mạnh khỏe đề nghị cô bảo nó viết cho tôi vài chữ.
- Tù nhân không được thông tin với gia đình.
- Nó có thể viết "Mao Chủ Tịch muôn năm" cũng được, hay chỉ viết tên của nó cũng được. Miễn sao chữ do chính tay nó viết ra là được.
- Cũng không được phép. Tao đã nói rồi kia mà, tội phạm đang bị giam trong tù không được phép thông tin với gia đình. Mụ nói một cách cứng cỏi.
- Nhưng tôi ở đây đã quá lâu rồi!
- Cũng vậy thôi!
Bất cứ cai ngục nào đến phiên trực, tôi cũng đều nêu yêu cầu, đề nghị. Càng lúc tôi càng tin rằng con gái tôi đã chết rồi bởi vì tất cả các cai ngục - trước yêu cầu của tôi - đều giữ im lặng hoặc đánh trống lảng. Một hay hai người trong số các cai ngục đã tỏ ra bối rối khi tôi xin chỉ được nhìn chữ viết của con gái tôi cũng được. Họ không nhìn thẳng vào tôi mà nhìn xuống đất hoặc nhìn ra chỗ khác.
Đầu óc tôi rối mù. Lòng tôi nặng trĩu buồn đau. Tôi nóng lòng biết sự thật mặc dù tôi sợ sự thật đó. Lúc thì tôi tin nó đã chết, lúc thì tôi lại cho rằng tôi đã trở nên quá nhạy cảm và quá bi quan vì bị giam giữ quá lâu.
Sau mấy tuần lễ lo lắng, biếng ăn biếng ngủ, tôi bị sốt cao và bị hôn mê đến nỗi phải chở đi bệnh xá nhà tù. Có thể tôi lại phục hồi mặc dù tôi chẳng thiết sống nữa. Và tôi đã sống sót, đã qua khỏi cơn bệnh trầm trọng. Tôi lại bị đem về nhà giam số 1 trước lễ Giáng sinh.
Qua bao nhiêu năm sống trong tù, lòng tôi thường hướng về Chúa và cảm nhận được sự hiện diện của ngài. Trong cái xà lim u ám và buồn tẻ này có lúc tôi đã cảm nghiệm được giây phút linh thiêng thăng hoa mà trong cuộc sống nhung lụa trước kia chưa bao giờ tôi được từng trải. Tôi thành thật tin rằng rốt cuộc sự thật và cái thiện sẽ thắng. Tôi đã lấy được can đảm để tiếp tục cuộc chiến đấu của tôi. Niềm tin của tôi đã nâng đỡ tôi trong những quãng thời gian đen tối nhất của đời tôi và đã làm cho tâm hồn tôi an hoà mặc dù đói khát, tật bệnh và bị hành hạ tra tấn. Cùng lúc đó chính nỗi đau khổ lại củng cố niềm tin và làm cho tôi nhận ra Chúa luôn luôn hiện hữu. Tôi phó thác tôi trong tay Ngài.
Dưới con mắt dòm chừng của các cai ngục, ban ngày tôi không thể công khai cầu nguyện. Cách tốt nhất để cho tôi có thể chắc chắn cho tâm tư của mình trong lời cầu nguyện là cúi đầu giả bộ chăm chú nghiên cứu sách do Mao Trạch Đông viết. Tôi cầu nguyện Chúa bằng con tim đau đớn của tôi. Khi nói với Ngài về con gái tôi, tôi đã sống lại trong tâm tư cái thời gian từ những năm đầu khi mới sinh ra nó ở Canberra (thủ đô nước Úc) năm 1942 cho đến lúc chia lìa trong nỗi đau xé ruột xé gan vào đêm 17 tháng 9 năm 1966 khi tôi bị đưa đến cuộc đấu tố và bị giam giữ sau đó. Tôi cảm nghiệm nhiều lần niềm vui mà nó đã đem lại cho tôi ở mỗi giai đoạn phát triển của nó và tôi biết mình thật có phước vì đã được Chúa ban cho một đứa con gái như vậy. Ngày lại ngày, tôi cầu nguyện và cầu nguyện. Càng lúc tôi càng nhớ đến lúc sinh thời của nó và càng lúc tôi càng cảm thấy nỗi đau đớn về cái chết của nó nguôi ngoai đi. Dần dần niềm an hoà trào dâng lên trong lòng tôi song song với mức độ của lòng tin tưởng.
Nhưng tôi vẫn có những việc phải làm. Trong lúc tôi còn bám chặt vào hy vọng được nhìn thấy con gái tôi còn sống và mạnh khoẻ khi tôi ra khỏi tù số 1 này, tôi biết tôi có nhiều việc phải làm trước và sau ngày này. Cuộc chiến đấu của tôi chưa phải là đã hết. Tôi phải phát hiện cho bằng được cái gì đã xảy ra cho con gái tôi và tôi sẽ làm cho đâu ra đó, làm cho tới nơi tới chốn, làm cho sáng tỏ những tội lỗi mà người ta gây ra cho nó. Tôi thề như vậy. Không có Mai Bình, chắc chắn đời tôi sẽ rất cô đơn, buồn thảm. Nhưng tôi vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu.
Tháng 2 năm 1972, Tổng Thống Nixon đã đến Bắc Kinh. Báo chí dành cả trang nhất để tường thuật và in cỡ lớn hình ảnh khi ông tới, những bó hoa chào đón và cuộc viếng thăm Mao Trạch Đông tại nhà riêng của ông ta. Nhìn tấm ảnh Mao mỉm cười bắt tay Tổng thống Hoa Kỳ, tôi nghĩ đó là giờ phút mãn nguyện nhất của ông ta. Trong giờ phút đó, bao nhiêu năm tủi nhục - vì bị từ chối không được nhìn nhận - đã bị quét sạch. Tôi chắc chắn là Mao say sưa thích thú với cuộc gặp gỡ Tổng thống Hoa Kỳ không những vì cái ý nghĩa của nó đối với chính bản thân ông ta và Đảng Cộng sản Trung Hoa mà cũng vì cái ý nghĩa của cuộc gặp gỡ ấy với kẻ thù thâm căn cố đế của ông ta, đám Quốc Dân Đảng ở Đài Loan. Cuộc trả hận của ông ta được coi là trọn vẹn.
Trong các hình chụp và các bài tường thuật, ngài thủ tướng Chu Ân Lai đã nổi bật. Báo chí tường thuật Ngài Thủ tướng đã theo Tổng Thống Hoa Kỳ đến tận Thượng Hải để tiễn Tổng thống trên đường về nước. Người ta nói rằng cuộc khởi hành trở về của Tổng thống hơi bị chậm trễ chút xíu vì gặp trục trặc trong sự thỏa thuận về nội dung bản thông cáo chung cuối cùng. Tuy nhiên, bản thông cáo chung cũng đã được ký kết. Bản thông cáo bao hàm khoản Hoa Kỳ nhìn nhận Đài Loan là một phần của lãnh thổ toàn vẹn của Trung Hoa. Điều khoản này khiến Hoa Kỳ không nhìn nhận Đài Loan như một quốc gia độc lập, điều mà chính quyền nhân dân sợ nhất. Hơn thế nữa, trong bản thông cáo chung ấy, chính quyền nhân dân không bác bỏ việc sử dụng võ lực để thống nhất "hai nước" Trung Hoa. Đây là một thắng lợi rõ rệt của Cộng sản Trung Hoa. Dường như Cộng sản Trung Hoa được lợi nhiều trong cuộc thăm viếng này trong khi cái giá mà nó phải trả không có gì nhiều hơn là bày tỏ lòng hiếu khách. Chính sách xích lại gần hơn với Hoa Kỳ dường như có một cái gì đó hơn thế nữa. Tôi cảm thấy địa vị của Thủ tướng Chu Ân Lai đã được nâng cao hơn nhờ chính sách ngoại giao thành công và khéo léo của ông.
Bây giờ cuộc đấu tranh giai cấp được tạm hoãn, bầu không khí hoà bình có ưu thế hơn. Báo chí không còn cái giọng điệu hiếu chiến nữa. Ngay cả các cai ngục xem ra cũng biết cách xử sự một cách nhân đạo hơn. Khoảng tháng ba, tôi được gọi lên phòng thẩm vấn. Điều tra viên này cũng chính là người đã thẩm vấn tôi lần đầu tiên khi mới đến nhà tù này. Hắn đi đâu một thời gian nay quay trở lại làm việc. Hắn bắt đầu lại từ đầu, như thể những cuộc điều tra trong những năm trước đây không có vậy. Và hắn yêu cầu tôi kê khai lại lý lịch, tiểu sử. Rồi hắn hỏi tôi về gia đình, người thân, bạn hữu, cả về đời sống cá nhân và các hoạt động và tất cả những gì mà tôi đã khai với điều tra viên của "Đội Công Nông tuyên truyền" năm 1969. Khi tôi mất kiên nhẫn, tôi cáu với hắn là tôi đã nói đi nói lại những vấn đề này rồi, hắn chỉ nói với tôi:
- Mày vẫn phải khai lại một lần nữa.
Tôi không nghĩ là hắn đang cố bẫy tôi để tôi nói cái gì khác đặng vịn vào đó mà buộc tội tôi khai man. Dường như điều tra viên chính thức của nhà giam số 1 và điều tra viên của "Đội Công Nông tuyên truyền" phục vụ cho những ông chủ khác nhau.
Đợt điều tra này kéo dài đến mấy tháng. Tôi không nhớ đã bị gọi lên phòng thẩm vấn bao nhhiêu lần và phải đọc bao nhiêu câu trích của Mao. Trong các cuộc thẩm vấn cũng không còn la lối, quát tháo, doạ nạt. Nhưng tôi bệnh và mệt và thấy những cuộc thẩm vấn ấy hết sức tẻ nhạt, chán ngấy.
Một hôm vào khoảng mùa thu năm 1972 điều tra viên đưa một bức thư rõ ràng là rút ra từ hồ sơ lưu trữ của văn phòng cũ của tôi ở hãng Shell. Hắn hỏi tôi đã viết bức thư đó, phải không? Tôi nhìn bức thư mang chữ ký đúng là chữ ký của tôi nên đáp "phải".
- Như vậy thì đây chính là một bằng chứng của hoạt động bất hợp pháp của mày. Nhưng cũng có thể đây chỉ là một sai lầm về chính trị, hắn nói.
Tôi ngạc nhiên: "Có thể cho tôi xem bức thư ấy được không?"
Hắn đưa bức thư cho tôi xem. Tôi thấy đó là bức thư được viết chỉ ít lâu sau ngày ông nhà tôi mất, tức là khoảng tháng 10 năm 1957. Tôi đến làm việc ở hãng Shell vì ngân hàng Bank of China không chịu thanh toán cho những ngân phiếu nào của hãng không mang chữ ký và dấu ấn của một nhân viên có thẩm quyền của hãng đã đăng ký chữ ký và dấu ấn với ngân hàng. Tôi nhớ rất rõ những trường hợp này. Sáng hôm đó, tôi nhận được điện thoại của ông Tổng quản lý hãng Shell chi nhánh tại Hồng Kông. Ông ta nói với tôi là một ông Tổng quản lý người Anh sẽ được bổ nhiệm thay thế ông nhà tôi. Nhưng mãi đến tháng ba năm sau ông ta mới đến Thượng Hải được. Tổng quản lý ở Hồng Kông nói "Luân Đôn muốn biết công việc của tôi có trôi chảy tốt đẹp không". Tôi đáp là tốt đẹp và tôi đã thông báo cho Ban Công Thương Nghiệp của Ủy ban thành phố Thượng Hải biết. Sau đó ông ta yêu cầu tôi cung cấp một danh sách những món đồ dùng mà ông bà Tổng quản lý nên mang theo khi đến Thượng Hải. Đặc biệt họ muốn biết có cần phải đem bột mì không, vì họ biết là dân Trung Hoa ăn gạo chớ không ăn bột mì.
Lúc đó cô thư ký của hãng cũng là người Anh, tôi cho là cô ta biết rõ hơn tôi về những gì mà một người Anh nên đem theo khi đến Thượng Hải, do đó, tôi đề nghị cô lập cho tôi một danh sách, thảo một bức thư kèm theo và đưa cho tôi ký. Tôi nhiệt tình muốn giúp đỡ người đồng hương nơi đất lạ quê người, cô ta đã thảo một danh sách dài thậm thượt đủ thứ t
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện