DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 11

Chương 11: Một Kiểu Tra Tấn

Sau hồi bi hài kịch liên quan đến cậu em tôi, các điều tra viên tiếp tục thẩm vấn về tất cả các bè bạn, người thân của tôi. Một chuỗi các cuộc thẩm vấn kéo dài gần bảy tháng trời, cho mãi đến tận năm 1969. Sau đó tôi không bị gọi lên phòng điều tra nữa. Tôi đợi, đợi hoài. Hàng tháng hàng tháng trôi đi. Khi không có dấu hiệu gì về các cuộc thẩm vấn, tôi nói với cai ngục và xin gặp điều tra viên.
- Mày muốn nói gì với điều tra viên?
- Tôi muốn hỏi ông ta xem chừng nào thì sáng tỏ được trường hợp của tôi?
- Ông ta chưa có thể làm sáng tỏ được trường hợp của mày đâu. Ông ta còn phải điều tra và thu thập các dữ kiện. Chính quyền sẽ quyết định trường hợp của mày.
- Khi nào thì chính quyền quyết định? Tôi bị giam cầm ở đây khá lâu rồi. Tôi cần chăm sóc y tế.
- Mày còn mạnh chán. Chúng tao sẽ cho mày thuốc và khẩu phần đặc biệt nếu cần.
- Tôi mà còn mạnh khỏe hả? Tình trạng sức khỏe của tôi mỗi lúc mỗi suy sụp thì có. Mới đây tôi lại bị ra huyết nhiều. Chân răng của tôi rất đau. Thuốc sulfa mà tôi phải uống hàng ngày rất hại cho thận. Mà tôi chỉ có một trái thận thôi. Lúc tôi giải phẫu thận, bác sĩ dặn dò tôi không nên dùng nhiều loại thuốc sulfa.
Cai ngục không nói gì cả. Lúc sau ngẫm nghĩ sao không biết, cai ngục nói:
- Trường hợp của mày khó khăn cũng là do tại mày ra cả. Mày cứ còn bị giam ở đây nếu mày không chịu thú tội.
- Tôi có làm điều gì sai trái, bậy bạ đâu. Mà tôi phải thú tội gì mới được chứ? Các điều tra viên đã rà soát hết mọi khía cạnh trong cuộc sống, những cuộc gặp gỡ, giao tiếp của tôi với bè bạn, người thân. Bây giờ, chính quyền biết hết mọi sự về tôi rồi còn gì. Sao vẫn có người còn nghĩ được là tôi phạm tội gì đó?
Sự thất vọng và phẫn uất đã làm cho tôi to tiếng. Nhưng cai ngục đóng sập cửa sổ và bỏ đi. Trong mấy tháng qua và sau nhiều cuộc thẩm vấn, tôi có ấn tượng rõ rệt là sau khi cuộc đời và mọi hoạt động của tôi đã được soi xét thì tôi sẽ được thả ra. Bây giờ tôi không hiểu còn vương víu trắc trở gì nữa. Cai ngục nói là chỉ chính quyền mới quyết định được. Điều này tôi hiểu được bởi vì đó là kiểu cách làm việc của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Điều tôi không hiểu là cấp chính quyền nào sẽ quyết định trường hợp của tôi, và tại sao họ lại "ngâm" lâu vậy. Nếu tôi không tăng thêm được hi vọng thì sự chán nản của tôi sẽ trầm trọng thêm. Và vì tôi đang chán nản cho nên tôi lại sa vào một đợt thất vọng mới.
Đời sống khốn khổ trong mùa đông năm 69 - 70 thật ngoài sức tưởng tượng. Nhìn lại những ngày tháng đó với những cơn bão tuyết nặng nề, thời tiết lạnh căm căm và nỗi đau đớn thể xác triền miên, tôi lấy làm kinh ngạc tự hỏi làm sao mà tôi có thể sống qua nổi những ngày đó.
Một hôm, tôi nhờ cai ngục mua giùm xà bông, tôi được đưa cho một thứ xà bông xấu chẳng có bọt gì cả. Cai ngục nói với tôi là xà bông cũng chỉ được bán hạn chế, mỗi người chỉ được mua mỗi tháng một cục. Tôi nhờ mua thêm vì tôi thường phải giặt đồ lót luôn, mụ cai ngục bực bội, gắt lên: "Khi nào mày mới bỏ được cái thói sống tư sản, cứ muốn đòi được hơn người khác. Mày còn may là một mình mày được mua một tháng một cục. Ở nhiều nơi cả gia đình người ta mà cũng chỉ được mua có như vậy thôi."
Giấy vệ sinh làm bằng rơm đã bị thay bằng các nguyên liệu khác như giẻ rách, giấy báo cũ... và làm ẩu đến nỗi trên giấy còn giữ nguyên hình của nguyên liệu. Dầu cá thu, thuốc vitamin tôi được phép mua nhưng cũng chẳng có để mà mua. Thỉnh thoảng tôi cũng còn được ăn chút thịt, nói đúng hơn đó là miếng thịt mỡ. Sự khan hiếm, thiếu thốn dường như ảnh hưởng đến cả cai ngục. Nhiều người trong đám này sụt cân thấy rõ. Ngay cả những cai ngục từ trước đến nay hung hãn hắc ám, đi đứng nghênh ngang vênh váo nay nom ốm o, tiều tụy và hết còn cái vẻ oai phong, lớn lối. Rõ ràng đất nước này đang phải trải qua cơn khủng hoảng kinh tế trầm trọng không thể tránh được sau mỗi một chiến dịch hoặc biến động chính trị.
Báo chí loan tin nay nông dân vùng này, mai nông dân vùng kia "tự nguyện" giảm phần lương thực vốn đã rất hom hem còm cõi của họ và hết Bí thư chi bộ này đến Bí thư chi bộ kia "tình nguyện" nâng cao chỉ tiêu lúa gạo gởi cho cơ quan có chức năng thu mua. Vẫn chỉ là diễn lại tấn bi hài kịch đã quá quen thuộc của cái cảnh đói kém trong thập niên 60, ngay sau thất bại của "Bước nhảy vọt vĩ đại". Vào những thời điểm đó trên báo chí đăng đầy những chuyện các "anh hùng" đã nâng cao vượt bực chỉ tiêu sản xuất và nâng cao luôn cả chỉ tiêu giảm mức tiêu dùng lúa gạo và mọi thứ nhu yếu phẩm khác. Ngoài những chuyện "anh hùng" độc đáo đó, một nửa tờ báo Thượng Hải giải phóng vẫn được dành cho các bài phê bình bọn "xét lại". Đề tài được đem ra mổ xẻ bây giờ là sự đối nghịch giữa học thuyết quân sự chiến tranh nhân dân và luận điểm của bọn "tư sản" nhấn mạnh vào ưu thế kỹ thuật và vũ khí hiện đại. Hai lãnh tụ quân sự bị thất sủng và bị hạ bệ là Bành Đức Hoài, cựu Bộ trưởng bộ Quốc phòng và La Thụy Khanh cựu Tham mưu trưởng đã trở thành hai tội phạm chính. Những bài báo đọc cho các tù nhân nghe trên các loa phóng thanh đã tố cáo hai người này là đã tin vào nhân tố vũ khí hơn là nhân tố con người trong chiến tranh. Theo Mao thì nhân tố con người là nhân tố quan trọng giữ vai trò quyết định. Mặc dù hai ông kia bị cách chức và bị trao cho Vệ binh đỏ và các "ông bà" Cách mạng hành hạ từ mấy năm trước rồi mà chiến dịch chỉ trích này vẫn còn tiếp tục là vì Đảng và nhiều lãnh tụ quân sự vẫn còn đồng ý với quan điểm đó.
Những khổ sở và đói khát kéo dài đã xói mòn những năng lực tinh thần của tôi một cách dễ sợ. Phải né tránh, đỡ gạt trong các cuộc thẩm vấn cũng làm cho tôi cảm thấy ngã lòng, thối chí. Không còn giữ cho mình được vệ sinh - vì thiếu xà bông và giấy vệ sinh - cũng làm cho tôi sinh chán nản. Bởi vậy ngay cả những ý kiến khác biệt nhau xuất hiện trên báo chí, thậm chí sự tranh luận gay gắt ngay trong nội bộ Đảng cũng không gây ra được cho tôi một sự chú ý đáng kể nào. Ngày ngày, tôi ngồi trên giường, tựa lên đống mền gối, mệt mỏi và không muốn cất nhắc chân tay.
Đầu mùa xuân tôi lại bị sưng phổi và lại phải đưa đến bệnh xá của nhà tù. Lần này, bệnh lâu khỏi và mãi đến gần ngày quốc tế lao động tôi mới trở lại nhà tù số 1, thời tiết đã ấm áp hơn. Mặc dù điều kiện sống vẫn hết sức kham khổ, nhưng nhờ thời tiết êm dịu hơn nên tôi đã chịu đựng nổi. Tôi cảm thấy không hiểu tại sao mình lại có thể sống sót được sau một cơn ngặt nghèo đến như vậy và cảm thấy mình như được đem từ ngưỡng cửa tử thần trở về một cách kỳ diệu. Khi tôi được phép ra ngoài tập thể dục vào một ngày có nắng ấm, thấy những cánh lá xanh non phất phơ trên đầu bờ tường tôi đã thầm cảm tạ Chúa vì sự màu nhiệm của sự sống và Chúa đã đến đúng lúc để đổi mới con người của tôi, đã xua tan những nỗi chán nản, thất vọng trong tâm hồn tôi.
Kể từ sau đại hội 9 của Đảng và việc thành lập được các ban bí thư đảng bộ ở các tỉnh, thành, sự kiểm soát của Đảng trên mọi khía cạnh của cuộc sống đã được tái lập. Cùng lúc, qua báo chí, người ta càng khó đoán được những gì đang diễn ra bên ngoài bức tường nhà tù. Trong những năm xáo trộn, vào lúc cao điểm của cuộc Cách mạng Văn hóa, những lời tố cáo dữ dội "bọn chó săn cò mồi của giai cấp" đã để lộ ra cuộc đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ của Đảng. Trong lúc giải thích tính chất "đúng đắn" của các chính sách của Mao, các cây viết "Cách mạng" - thường là người ngoài Đảng - đã vô tình tiết lộ những sự kiện vẫn được giữ kín với quần chúng. Nay, trên nhật báo Thượng Hải giải phóng không còn thấy xuất hiện những bài báo như vậy nữa. Và có thể nói là những bài báo bây giờ đều do những tay tuyên truyền chuyên nghiệp của Đảng viết ra. Họ cũng dùng chính những "sáo ngữ", những trích dẫn cũ mèm "đã đóng bụi trong kho lưu trữ" của Đảng, họ vừa phải lo nói những điều được coi là đúng đồng thời vừa phải lo nói sao cho khỏi bị bắt bẻ, phê bình.
Chỉ cần nhìn vào danh sách các ủy viên Bộ chính trị đăng trên báo, tôi cũng đã thấp thoáng thấy sắp sửa có một keo đấu mới giữa các vị chóp bu để giành quyền lực. Trong danh sách này thiếu tên của Trần Bá Đạt, một trong những lãnh tụ phe "cấp tiến" - một trong những tên đầu sỏ của "lũ người theo Mao" - người đã thảo hoạch, dẫn dựng và vạch ra tiến trình của cuộc Cách mạng Văn hóa. Những bài báo chỉ trích - nhưng không nêu rõ tên - tố cáo tên "mác xít giả mạo" tự tuyên bố mình là một "dân quèn" (humble commoner). Sự kiện tên của một nhân vật hàng đầu đột nhiên bị bỏ đi thường có nghĩa là nhân vật ấy đã bị thất sủng rồi. Danh xưng "mác xít giả mạo" - theo tôi nghĩ lúc đó - dường như ám chỉ một nhân vật nổi danh nào đó được coi là lý thuyết gia mác xít. Và Trần Bá Đạt thì đúng là một con người như vậy.
Tôi hết sức bối rối trước những bất ngờ như vậy. Bởi vì Trần Bá Đạt vẫn được nhân dân Trung Hoa xem như là một kẻ trung thành theo Mao và đã lâu nay làm thư ký riêng cho ông ta. Người ta còn xì xầm đồn đại là nhiều bài luận thuyết tuy công khai mang danh Mao Trạch Đông nhưng thật ra chính là do chính Trần Bá Đạt viết. Tuy ông ta không tìm cách để nổi tiếng như các lãnh tụ "cấp tiến" khác như Giang Thanh và Lâm Bưu, nhưng người dân Trung Hoa đều biết ông ta là một trong những nhóm nhỏ các lý thuyết gia mác xít ưu tú đã được Mao tin dùng.
Sau này khi đã được trả tự do ra khỏi nhà tù số 1, tôi có hỏi một vài người bạn và người quen về sự kiện Trần Bá Đạt bị hạ bệ. Dường như trong phiên họp đầy đủ lần thứ hai của Ủy ban trung ương Đảng khóa 9 họp tại Lư Sơn vào khoảng cuối tháng 8 năm 1970, vấn đề hiến pháp mới của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã được đem ra bàn thảo. Một vấn đề quan trọng là có nên bãi bỏ chức vụ chủ tịch nước vẫn bị bỏ trống từ ngày Lưu Thiếu Kỳ bị hạ bệ hay không. Trần Bá Đạt đề nghị nên duy trì và chỉ định Lâm Bưu vào chức vụ ấy. Vốn đã cảnh giác trước sự phát triển quyền lực của Lâm Bưu từ sau đại hội đảng lần thứ 9 chỉ cách đó một năm và bốn tháng, Mao đã không muốn thấy Lâm Bưu được tăng thêm quyền lực và địa vị rồi. Ông ta tuyên bố mình thiên về ý kiến bãi bỏ chức vụ chủ tịch nước và gợi ý nên trao cái chức năng có tính chất nghi lễ ấy cho Chủ tịch quốc hội đương nhiệm. Trong một cuộc tranh cãi sôi nổi, Mao đã tố cáo đề nghị của Trần Bá Đạt như là một biện pháp phản cách mạng nhằm tái lập tình trạng "tiền Cách mạng Văn hóa". Một vấn đề khác cũng được đưa ra bàn thảo trong hội nghị đó: mối liên hệ giữa Trung Hoa và Hoa Kỳ sau khi Tổng thống Nixon - thông qua một nước trung gian - cho biết có ý định xích lại gần Bắc Kinh. Thủ tướng Chu Ân Lai đã thuyết phục Mao là nếu Hoa Kỳ thừa nhận nhân dân Trung Hoa hơn là chính quyền Quốc Dân Đảng ở Đài Loan thì Trung Hoa Cộng sản cũng có thể được hầu hết các nước trong Liên Hiệp quốc nhìn nhận. Sự kiện này không những giúp cho Trung Hoa Cộng sản giành được cái ghế của Trung Hoa tại Liên Hiệp quốc mà ngay cả việc giải phóng Đài Loan cũng sẽ dễ dàng và đỡ tốn kém hơn. Nhưng cả Lâm Bưu và Trần Bá Đạt đều chống đối lại bất cứ sự xích lại gần nào với Hoa Kỳ. Họ biện luận rằng tên đầu sỏ của thế giới tư bản là một kẻ thù chủ chốt và cố hữu của một nước Trung Hoa theo Xã hội chủ nghĩa.
Nhưng những người đã nói chuyện với tôi đều đồng ý rằng việc hạ bệ Trần Bá Đạt thực chất chỉ là lời cảnh cáo của Mao dành cho Lâm Bưu. Và cũng chẳng phải là Lâm Bưu không biết Mao hết muốn dùng mình rồi. Và chính điều này đã dẫn đến Lâm Bưu muốn giật quyền khỏi tay Mao. Có điều là ý đồ này đã không thành đạt được. Dù sao, những diễn biến về sau đã chứng tỏ rằng phiên họp đầy đủ lần thứ 2 của Ủy ban Trung ương khoá 9 là một phiên họp quan trọng. Nó chấm dứt cái thời đại ngắn ngủi của Lâm Bưu và đánh dấu sự sụt giảm mạnh mẽ quyền lực của Lâm so với quyền lực của thủ tướng Chu Ân Lai.
Từ năm 1970 - lúc đó tôi vẫn còn bị giam trong nhà tù số 1 - tôi đã nhận ra sự hạ bệ của Trần Bá Đạt như là một cái gì đó quan trọng và tôi chờ đợi những biến cố đó có thể rọi thêm vài tia sáng vào tình hình. Mùa thu năm đó, báo chí đã in hình Edgar Snow - nhà văn người Mỹ - đứng cạnh bên Mao trên khán đài tại Thiên An Môn vào ngày quốc khánh của Trung Hoa. Mặc dù Mao vẫn thường để cho những vị khách nổi tiếng khác đến thăm Trung Hoa được đứng bên cạnh mình, nhưng đây là lần đầu tiên một người Mỹ được dành cho cái hân hạnh đó. Snow là bạn cố tri của Đảng Cộng sản Trung Hoa và của bản thân Mao. Cuốn sách "Ngôi sao đỏ trên đất Trung Hoa" do ông ta viết và được ấn hành vào những năm 30 đã góp phần hợp pháp hoá Đảng Cộng sản Trung Hoa trước công luận quốc tế. Vì đã biết mọi sự Mao muốn nói hoặc làm đều có một sự sắp xếp toan tính, một "ý nghĩa" nào đó - và thường là rất tế nhị xa xôi - nên tôi cố suy đoán cái ý nghĩa việc Mao đã để một người Mỹ đứng cạnh mình trên khán đài ở quảng trường Thiên An Môn ngay trong ngày Quốc khánh trong lúc ông ta đứng duyệt hàng trăm ngàn người - đàn ông cũng như đàn bà - đang hăm hở vác hình ông ta vừa đi diễu hành vừa hô khẩu hiệu và đọc các "lời dạy" của ông ta.
Chỉ vài ngày sau lễ Quốc khánh, báo chí đã đăng tải tin Bắc Kinh đã đạt được thoả thuận với Canada về việc thiết lập bang giao trên cơ sở 5 nguyên tắc: tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau; bất tương xâm, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng và hai bên cùng có lợi; và, sống chung hoà bình. Canada đã đoạn giao với chính quyền Quốc Dân Đảng ở Đài Loan và nhìn nhận Bắc Kinh như là chính quyền hợp pháp duy nhất của Trung Hoa.
Tôi cho là Mao lúc đó đã dùng trường hợp của Canada để nói "cái gì đó" với Hoa Kỳ. Và tôi tin "cái gì đó" có ý nghĩa là ông ta sẵn sàng là bạn nếu Hoa Kỳ đồng ý bỏ rơi Đài Loan. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Canada là một cơ hội để ông ta tuyên bố những điều cho một sự dàn xếp tương tự với Hoa Kỳ. Tôi hết sức phấn khởi và đầy hy vọng. Một Trung Hoa Cộng sản xích lại gần phương Tây là một cái gì đó quá tốt đến nỗi khó tin là có thật.
Ngọn gió bấc đã bắt đầu thổi, nhưng lần này nó đã không làm cho tôi nản lòng. Lần đầu tiên kể từ khi cuộc Cách mạng Văn hóa khởi phát, một cái gì đó đang diễn ra theo chiều hướng đúng đắn. Khi cơn gió lạnh thổi một cành lá khô lạc lõng vào xà lim, tôi đã lượm cánh lá vàng ấy lên, nhìn nó thật lâu và tưởng như nó là một biểu tượng của hy vọng và điềm lành.
Nỗi lo lắng đã nhường chỗ cho trạng thái yên tâm trong lúc tôi đang ngồi trong xà lim chờ đợi những diễn biến rõ rệt hơn nữa. Tôi tưởng là mình đã hết thời bị kịch rồi và bây giờ bắt đầu thời thái lai. Nhưng tôi đã lầm to.
Vào một buổi chiều tháng 1 năm 1971, tôi lại bị gọi lên phòng thẩm vấn. Thật quá bất ngờ đến độ xúc động, tim tôi đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực khi tôi theo cai ngục đi qua sân để đến phòng thẩm vấn, đến nỗi hầu như tôi không nhận ra những cơn gió bấc lạnh lùng đang thổi. Mới đến cửa phòng thẩm vấn, thình lình cai ngục dúi mạnh tôi một cái khiến tôi ngã chúi vào trong phòng. Tại đó, tôi thấy đã có sẵn năm cai ngục khác đứng chờ. Khi vừa vào đến phòng, cả bọn xúm vào tôi, sỉ vả đánh đập.
Một tên gầm lên: "Mày là chó săn của bọn tư sản", "đồ khốn nạn bóc lột nông dân và công nhân!", "đồ phản cách mạng!", cứ thế đứa thứ hai, đứa thứ ba liên tiếp đổ lên đầu tôi những lời sỉ mạ. Tiếng la hét của chúng cùng vang lên hòa trộn với nhau. Nét mặt chúng hầm hầm, miệng chúng tuôn ra những lời nhiếc mắng sỉ nhục mà tôi đã quen kể từ khi có cuộc Cách mạng Văn hóa đến giờ. Chúng vừa la hét chửi bới vừa xô đẩy tôi, để tôi tỏ dấu bất bình phẫn nộ, căm thù chúng. Chúng xô qua đẩy lại tôi như người ta chuyền cho nhau trái banh. Tôi cố gắng giữ thăng bằng. Tôi hoa mày chóng mặt và muốn đứt cả hơi luôn. Trước khi tôi kịp hoàn hồn thì một cai ngục trẻ tuổi túm lấy ve áo kéo tôi về phía hắn. Hắn dí sát vào mặt tôi, tôi thấy mặt hắn ánh lên cái cảm khoái của một thằng sa đích5 rồi mím môi biểu lộ sự kiên quyết và xô tôi một cái thật mạnh. Tôi loạng choạng suýt té ngửa ra và đụng vào tường. Nhưng tôi chưa kịp té xuống, hắn đã lại túm lấy cổ áo tôi giật ngược trở lại và dúi tôi vào tường như đập một cái bao. Và hắn cứ túm cổ áo tôi để giật, dúi, giật dúi vào tường như nhồi bột. Hắn đã làm như vậy với một cử chỉ rất thành thạo. Trong lúc đó mấy cai ngục kia vẫn tiếp tục chửi bới sỉ nhục. Tôi bị quay mòng mòng, lỗ tai bùng bùng, đầu óc rối loạn, thân thể run bần bật. Thình lình tôi nôn thốc nôn tháo. Nước trong miệng tôi ói ra dính vào tay, cổ áo hắn. Hắn lại càng tức giận. Và hắn chửi thề.
Tim tôi đập thình thịch như trống làng và cứ như sắp sửa nảy ra khỏi lồng ngực. Hơi thở dồn dập. Tôi ngồi sụp xuống ghế, cố giữ để đừng ngã lăn ra và nhắm mắt lại. Bỗng chốc, "bốp", một cái tát vào mặt tôi kèm theo tiếng nói của mụ cai ngục "mày đã chịu thú tội chưa?" Và liên tiếp, cứ một cái tát lại kèm theo câu "thú tội chưa". Những cái tát như trời giáng đến nổ đom đóm mắt. Tôi lại ngồi trơ ra đó, làm như không biết đến họ nữa. Và đó là cách tự vệ duy nhất của tôi lúc đó. Một tên khác nắm tóc, giật ngửa mặt tôi lên. Tôi ráng mở mắt ra nhìn thì thấy năm tên cai ngục thôi không chửi bới la hét nữa và cùng nhìn tôi trừng trừng như muốn ăn sống nuốt tươi tôi vậy. Có lẽ bọn họ tưởng là chỉ cần đánh đập là có thể khiến tôi thay lòng đổi dạ hay sao. Nhưng, chỉ có những kẻ tàn bạo độc ác mới tin vào sức mạnh của sự tàn bạo, độc ác. Tôi thấy hình như bọn cai ngục ở đây ngu xuẩn nên mặc dù đã giam giữ và rình rập dò xét tôi ngày đêm từ bao lâu nay mà vẫn không hiểu được tôi hay sao ấy. Tuy nhiên, tôi hiểu, họ phải làm như vậy chẳng qua là phải thi hành lệnh của một kẻ nào đó.
Một trong số những mụ cai ngục là một con "lính cái". Không hiểu là do nhiệt tình cách mạng nên có lòng căm thù sâu sắc với kẻ thù giai cấp hay là do bản chất hung ác mà mỗi khi có dịp là nó không hề tiếc công hành hạ, đánh đập tôi. Theo tôi nghĩ không chỉ là do có lệnh mà còn là do nó đã tìm thấy hứng thú và cảm khoái trong sự đánh đập tôi. Nó còn trẻ lắm. Nhưng nó là đứa hung ác nhất. Trong lúc cả năm cai ngục nhìn tôi trừng trừng thì đột nhiên, nó cất tiếng hỏi:
- Mày chịu thú tội chưa, hay là để tao phải trừng phạt nặng thêm?
Tôi nhìn nó làm thinh. Nó giang tay giáng tôi một cái tát đến vẹo cả quai hàm, rồi bẻ quặp hai cánh tay tôi ra sau lưng ghế tôi đang ngồi và tên cai ngục "giã giò" tôi lúc nãy choàng vào cổ tay tôi cặp còng số tám.
- Cặp còng này là để trừng phạt tội bướng bỉnh, cứng đầu của mày. Mày sẽ bị còng cho đến khi mày thú tội thì thôi, đến lúc đó chúng tao mới tháo ra. Nếu mày thú tội bây giờ thì tao tháo ra bây giờ. Nếu đến mai thú tội thì đến mai tao tháo ra. Nếu một năm nữa mày mới thú tội thì một năm nữa tao mới tháo ra. Còn nếu mày không chịu thú tội thì tao cho cặp còng này đem xuống huyệt luôn. Đó, con lính cái đã ra miệng như vậy đó. Tên cai ngục choàng chiếc còng số tám cho tôi nói tiếp luôn:
- Nghĩ kỹ đi, nghĩ kỹ về tình hình hiện nay của mày đi!
Mụ cai ngục khác lên tiếng:
- Nếu bây giờ mày thú tội thì tao sẽ mở còng cho mày và cho về xà lim.
Một gã cai ngục khác:
- Sao, chịu thú tội chưa? chỉ cần mày nói "chịu" là mở còng liền.
Rồi cả bọn đồng thanh gầm lên:
- Nói! Nói! Kèm theo tiếng "bốp, bốp" của những cái tát giáng xuống mặt tôi.
Tôi nhìn chúng nói giọng yếu ớt:
- Tôi không có làm điều gì sai trái. Tôi không có tội gì để tự thú hết.
Chúng đồng thanh quát lên:
- Nói lớn lên! Nói lớn lên!
Mặc dù tôi nói với giọng trầm trầm mà cả bọn chắc đều nghe rõ nhưng chúng vẫn bắt tôi nói lớn lên. Vậy chắc hẳn có người ngồi ngoài cửa nghe, và bọn cai ngục muốn "nhân vật" kia nghe rõ câu trả lời của tôi. Tôi tập trung tất cả sức cố gắng để nói rõ ràng lớn tiếng:
- Tôi vô tội. Tôi không làm điều gì sai trái! Tôi không có gì để tự thú.
Tôi nghe tiếng cửa sổ sau lưng tù nhân đóng cái "sầm". Mấy tên hành hạ tra tấn tôi chờ đợi một chút rồi mở cổng đẩy tôi ra, có lẽ để cho nhân vật ngồi nghe kia đi khuất đã. Khi tôi đứng dậy, con mụ "lính cái nhỏ tuổi đứng sau lưng, bóp chặt khoá còng thêm mấy nấc nữa cho vòng còng khít vào tay tôi chặt cứng.
Lúc đó, trận bão tuyết đang nổi lên dữ dội. Những bông tuyết từ nền trời xám xịt đang tới tấp rớt xuống. Những cơn gió mạnh như muốn thổi bay tôi đi khi tôi bước chân ra khỏi toà nhà thẩm vấn. Tên cai ngục nói: "đi theo tao".
Hắn không dẫn tôi về khu giam tù nhân nữ, nơi có xà lim của tôi mà lại dẫn tôi về phía một toà nhà ở góc khu nhà tù, khi hắn mở cửa và đưa tay bật ngọn đèn vàng yếu ớt lên, tôi thấy nơi đây còn tệ hại hơn bất cứ nơi nào khác trong khu nhà tù này. Lớp bụi dày đóng trên nền nhà và tường. Đi trên hành lang tôi thấy mạng nhện giăng lủng lẳng đầy từ trên trần nhà xuống. Cai ngục mở một cánh cửa nhỏ và nói: "Đi vào".
Cái xà lim này tối mò. Tôi chờ hắn bật đèn. Nhưng hắn đóng ngay cửa lại. Đứng ngoài cửa hắn nói vọng vào: "Bây giờ mày đã chịu nhận tội chưa?" Không nghe thấy tôi nói gì hắn khoá cửa lách cách và bỏ đi.
Tôi đứng ngay phía sau cánh cửa trong bóng tối dày đặc, để cố đoán xem mình đang ở đâu. Mùi hôi mốc mục nát đập mạnh vào mũi tôi. Dần dần tôi nhận ra xà lim tôi không có cửa sổ. Tuy nhiên cánh cửa khấp khểnh để cho ánh sáng yếu ớt lọt vào qua kẽ hở. Lần lần quen mắt với bóng tối tôi lờ mờ nhận ra một cái giường nhỏ để chỏng trơ trên nền nhà bụi đóng dày cả lớp và cái cầu tiêu ở một góc. Hiện tôi đang đứng ở một chỗ trống duy nhất còn lại vì xà lim chỉ vỏn vẹn khoảng 3 mét vuông. Một cái gì đó mềm mềm rớt trên trán tôi, tôi giật mình hốt hoảng. Tay bị trói quặp sau lưng, tôi không thể rũ cái đó đi được. Tôi lắc đầu thật mạnh, cái đó rớt qua mặt tôi và rơi xuống áo. Có lẽ chẳng có côn trùng nào sống nổi trong xà lim bóng tối dày đặc này được. Như vậy, tôi nghĩ, cái kia hẳn phải là cái mạng nhện từ trên trần rớt xuống.
Tim tôi vẫn còn đập mạnh và nhanh. Bất chấp cái mùi khó chịu trong phòng, tôi vẫn hít thở thật sâu, thật đều để lấy lại bình tĩnh và để trái tim tôi đập chậm lại. Khi cảm thấy đỡ đỡ một chút, tôi ngồi xuống chiếc giường gỗ và cố nhìn xuyên thủng bóng tối. Tôi thấy an tâm vì không thấy vết máu hay là những thứ mà người tù trước đã ở xà lim này. Tôi ngồi co chân cho hai đầu gối chụm lại, úp mặt lên đó, ngồi nghỉ. Mệt quá, chỉ có một sự đền bù duy nhất khi bị nhốt trong cái hộp bằng xi măng này - theo tôi nghĩ - là nó không có cửa sổ, gió lạnh bên ngoài không lọt vào được. Và như vậy, xà lim này ấm hơn xà lim cũ của tôi là cái chắc.
Cái còng lần này có vẻ khác hơn những cái còng mà tôi đã từng phải mang trước kia. Tôi lấy ngón tay sờ lên cái còng thăm dò. Đúng là nó khác, to và nặng hơn, cạnh vuông chứ không tròn như những cái kia. Tay tôi cảm thấy nóng, mấy ngón tay cứng đơ. Tôi cố gắng làm cho bàn tay cử động được trong giới hạn cho phép của cái còng.
"Mày đã chịu nhận tội chưa?", tiếng nói đột ngột làm cho tôi giật mình. Cai ngục đứng ngoài từ nãy đến giờ hay là hắn mới quay trở lại? Sao tôi không nghe thấy tiếng gì hết của hắn? Sức khỏe của tôi rất kém nhưng không phải là đã kiệt sức, nhưng tôi vẫn cứ ngồi tựa vào hai đầu gối yên lặng không trả lời. Tôi cố quên cái hiện tại này đi bằng cách gợi lại trong đầu óc mình những phong cảnh đẹp và những điều thú vị đã qua nhưng thật là khó. Cái thực tế tồi tệ này quá thực, đến nỗi nó tràn ngập lấn át hết cả.
Các cai ngục luân phiên nhau chốc chốc đến chỗ xà lim đang nhốt tôi nhắc lại cùng một câu hỏi: "Mày đã chịu nhận tội chưa?” Tôi nghe thấy bước chân của họ. Có người thì thật rón rén, nhẹ nhàng, có đứa thì bước đi lộp cộp, khi họ mở cửa để bước vào trong dãy xà lim, tôi thường thấy họ dậm dậm chân ở thềm để rũ tuyết. Tôi cho là họ được lệnh tới để xem xem tôi có chịu khuất phục trước kiểu sức ép mới này chưa. Có đứa hỏi xong câu hỏi còn đứng lại chút xíu, có đứa hỏi xong là quay ngoắt đi không đợi xem tôi có trả lời không. Ngoài tiếng hỏi và tiếng bước chân của cai ngục, tôi không còn nghe một thứ tiếng động nào khác. Chắc tôi là người tù duy nhất bị nhốt trong tòa nhà này ngày hôm ấy. Bởi vì nếu có những tù nhân khác ở xà lim khác thì hẳn tôi đã nghe thấy tiếng thở dài hay tiếng rên rỉ gì đó của họ rồi.
Tôi không biết tôi ngồi như vậy đã bao lâu. Trong xà lim tối mò, ở một nơi cách biệt như thế này, thời gian có một ý nghĩa hoàn toàn khác hay là chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi chỉ biết rằng chân tôi cứng ngắc và đầu tôi nhức. Nhưng tôi vẫn cố nín không nhúc nhích khi mà bọn cai ngục còn tiếp tục tới. Khi có một cai ngục tắt đèn trên dãy hành lang lúc hắn đi ra, tôi nghĩ rằng có lẽ đêm đã khuya lắm nên chúng thôi không trở lại nữa. Nhưng tôi vẫn ngồi yên chờ đợi một lúc rồi mới đứng dậy, không thể đi đi lại lại vì không có chỗ và nhất là tôi sợ đi rờ rẫm trong bóng tối sẽ chạm đến bức tường dơ. Bởi vậy tôi đành ngồi co, duỗi hai giò cho máu chạy lưu thông. Hai cánh tay tôi đau nhức vì bị bẻ quặp ra sau lưng và phải giữ mãi một vị thế như vậy quá lâu. Hai bàn tay nóng hừng hực. Tôi cố làm cho bớt nhức mỏi bằng cách nhấp nhô đôi vai.
Sau khi đứng một lát, tôi lại ngồi xuống, lại úp mặt vào hai đầu gối nghỉ. Có lẽ tôi đã thiếp ngủ đi được một chút hoặc là tôi đã ngủ gục trong lúc lòng tôi thì thầm cầu nguyện. Rồi tôi lại đứng lên lặp lại các cử động mà tôi nghĩ ra lúc nãy. Tôi cảm thấy yếu sức quá. Xu hướng tự nhiên của tôi là càng ít cử động càng tốt. Nhưng tôi vẫn tự buộc mình phải làm các cử động đơn giản vì tôi biết rằng đó là cách tốt nhất để giữ cho tôi tiếp tục sống được. Trước kia tôi chưa từng bị chứng bệnh Claustrophobia6, nhưng đêm hôm đó có lúc tôi thấy thần kinh căng thẳng. Hơi thở khó khăn. Và tôi có cảm tưởng các bức tường đang sụp đổ trên đầu mình. Để ngăn ngừa mình bị sa vào cơn hoảng hốt, tôi đứng ngay dậy và cố gắng cử động, xoay thân mình thật nhanh chóng trong cái khoảng chật hẹp của xà lim. Tôi thở chậm chậm và thật sâu cho đến khi tôi bình tĩnh trở lại. Cái cách tốt nhất để tôi xua tan nỗi sợ hãi đi là phải nghĩ ra làm cái gì đó tích cực. Ngay trong một động tác vận động thân thể đơn giản cũng làm cho tôi thấy dễ chịu ngay lập tức. Nếu tôi cứ ngồi đó để mà buồn chán và để cho trí tưởng tượng của tôi tha hồ thì chắc chắn tôi sẽ dễ dàng bị bối rối, lú lẫn kinh khủng và sẽ không đủ sức để đương đầu với những tên cai ngục này được. Dĩ nhiên là tôi đói và khát cổ râm ran. Nhưng khi tôi nghĩ đến cái chỗ cầu tiêu bụi đóng thành lớp, thành tảng thế kia, tôi lại đành cam chịu nhịn đói nhịn khát còn hơn là bắt tôi phải dùng những thứ đồ đó.
Tôi thấy sao một đêm nó dài lê thê và chậm chạp đến thế. Càng lúc tôi càng cảm tưởng như mình bị chôn trong một cái hòm bằng xi măng vùi sâu trong lòng đất. Hai bàn tay tôi nóng quá và không sao chịu nổi. Tôi cảm thấy rất khó co quắp các ngón tay vào. Tôi biết thế là các ngón tay đã bị sưng vù lên rồi. Từ lúc đó, hai bàn tay đã chiếm hết sự suy nghĩ của tôi. Tôi sợ là bọn cai ngục ngu xuẩn và tàn bạo cứ nhất định bắt tôi phải làm cái chúng muốn cho bằng được, vì vậy mà vô tình làm cho hai bàn tay tôi trở thành tàn phế. Tôi biết là khi một viên chức Đảng Cộng sản Trung Hoa muốn đạt cho được cái mục tiêu của mình trong một chiến dịch chính trị, hắn sẽ cứ thế nhắm mắt mà thi hành lệnh mà hắn nhận được, không cần biết những rắc rối, trở ngại có thể có. Được gò để tuân lệnh và thực hành ngay lập tức những khẩu hiệu chẳng hạn: "Mao chủ tịch chỉ đâu là tôi chạy ngay đến đó" và rất sợ bị coi là ngần ngại, do dự hoặc miễn cưỡng, cho nên hắn thường làm quá cả cái mức cần thiết. Nếu nạn nhân có bị đau đớn hơn mức đã định hoặc có bị tàn phế thì điều đó cũng không sao. Tôi đã thấy sự kiện đó biết bao nhiêu lần rồi. Đôi bàn tay thật quá quan trọng. Nếu đôi tay tôi bị tàn phế thì sau này, khi cuộc Cách mạng Văn hóa đi qua rồi, làm sao tôi có thể xoay sở công việc hàng ngày của tôi?
Tôi lần lượt ép từng ngón tay. Ít ra thì chúng cũng chưa bị tê dại đi. Nhưng phải công nhận là chúng đã bị sưng lên to lắm rồi. Tôi tự hỏi không biết mình sẽ bị khoá tay như thế này đến bao giờ, và làm sao sống được nếu không ăn không uống. Tôi nhớ mang máng đã đọc được một tài liệu ở đâu đó nói là con người không ăn không uống cũng sống được. Trong tình trạng sức khoẻ suy yếu như thế này, tôi nghĩ mình có thể sống được năm ngày, dù sao thì cũng đã qua 24 giờ rồi. Lúc đó tôi không còn nghĩ đến sự sống của tôi đang bị đe dọa mà chỉ lo sợ cho hai bàn tay của mình. Làm thế nào để tôi có thể giảm nhẹ được sự tai hại cho hai bàn tay này? Tôi thấy hình như hai tay bị sưng lên là vì cái còng xiết quá chặt vào cổ tay ngăn không cho máu lưu thông, khi con mụ lính cái ác độc kia đưa tay xiết chặt cái còng lại, chắc chắn là nó biết rõ nó làm gì chứ. Nếu nó đừng xiết quá chặt thì hai bàn tay của tôi đâu đến nỗi như thế này. Lúc mới choàng còng vào cổ tay, gã cai ngục đâu có xiết chặt cái khoá như thế này. Vậy hẳn là nó đã được chỉ thị là phải xiết chặt còng vào cổ tay tôi. Nhưng nếu là mụ cai ngục "nhơn từ" thì dù có được chỉ thị cũng không xiết chặt cứng như vầy.
Trời lạnh đến nỗi nước đá đọng ở mấy thanh cửa sổ. Bên trong xà lim ánh sáng đục lờ mờ vì rọi vào qua làn sương mù. Ngay cả hơi tôi thở ra cũng trắng xóa. Thân thể tôi run lẩy bẩy. Cẳng chân, bàn chân tê cóng. Thỉnh thoảng tôi lại phải đứng dậy. Sức nặng của cái còng đè trĩu bàn tay xuống. Trong lúc vừa đi đi lại lại, tôi vừa uốn cong ngón tay đẩy nâng cái còng lên. Dường như cái còng càng lúc càng xiết chặt hơn. Thực ra tay tôi càng lúc càng sưng to hơn và nóng hơn cứ như đang hơ trên lửa. Tôi mau mệt hơn đến nỗi chỉ đi một vài vòng quanh xà lim là phải ngồi xuống nghỉ. Ngồi xuống thì lạnh quá phải đứng dậy đi. Có lẽ lúc ngồi co chân lên, dựa vào tường thì tôi cũng có ngủ thiếp đi một chút. Nhưng một đêm dài, đúng là một đêm đau đớn nhức nhối.
Tuy nhiên mọi sự ở đời đều có cái tận cùng của nó, bất kể điều đó dở hay hay, sung sướng hay đau khổ. Tôi thấy ánh bình minh xuyên qua khe cửa và nghe thấy tiếng cai ngục đánh thức tù "Dậy ngay! Dậy ngay". Lát sau cô gái tù cải tạo đẩy ca nước lạnh qua cửa sổ xà lim cho tôi. Không nhìn thấy cái thau của tôi như mọi khi, cô ta nhìn qua khe cửa như thể hỏi lý do. Tôi quay lưng lại để cho cô ta thấy hai tay tôi bị còng sau lưng. Cô ta mau lẹ đóng cửa sổ và quay đi.
Không được rửa ráy gì cả, trong mọi trường hợp đều làm cho tôi bực bội. Tôi có thể cầm ca, quay lưng lại cho người ta đổ nước đầy vào rồi dùng hàm răng kẹp vào miệng ca từ từ uống nước được. Nhưng cái bao tử trống rỗng và đang bị nấc cụt đã không chịu dịu đi chút nào dù có được uống nước. Hai bàn tay tôi nóng đến nỗi cứ phải ngọ nguậy luôn.
Sang đến ngày thứ ba, kỳ lạ thay, bụng tôi không đau nữa. Nhưng tôi cảm thấy yếu sức quá. Hai mắt tôi đờ đẫn, mọi âm thanh trong nhà tù đối với tôi nghe văng vẳng, mơ hồ. Đến đêm tôi lại ngồi trên giường, tựa lưng vào tường, mấy ngón tay cố đẩy cho cái còng khỏi đè xuống. Tôi run lẩy bẩy vì lạnh. Tôi không còn đủ sức đứng lên đi lại trong xà lim.
Sau khi tù nhân lên giường sửa soạn ngủ, tôi thấy cửa sổ xà lim khẽ mở ra. Tôi không nghe thấy tiếng gì hết mãi cho tới khi có tiếng thì thào vọng vào: "Ra đây". Tôi tự hỏi không hiểu có phải một cai ngục đến hỏi tôi có chịu nhận tội hay chưa. Nhưng không, mụ nói rất nhỏ nhẹ, gần như là lén lút như thể sợ người khác ở các phòng kia nghe thấy. Phải cố gắng lắm tôi mới ra phía cửa sổ và thấy khuôn mặt của mụ cai ngục hơi lớn tuổi. Mụ đang cúi xuống để nhìn tôi tập tễnh, lảo đảo đi ra. Ngay từ lúc tôi mới đặt chân đến nhà tù này, tôi để ý thấy đây là mụ cai ngục nhân từ nhất. Trước tiên, cái khiến tôi chú ý là mụ có dáng đi của một người đàn bà bị bó chân, một tục lệ cổ vẫn còn kéo dài cho đến khoảng thập niên 30 của thế kỷ này ở nông thôn Trung Hoa. Khi bàn chân của những người đàn bà này không bị bó nữa thì nó đã thành tật. Mụ cai ngục này không phải người ở Thượng Hải bởi vì mụ nói với giọng nói của người nông thôn miền Bắc. Tôi nghĩ chắc hẳn mụ phải là một trong số những người đàn bà nhà quê được binh đội cộng sản giải phóng khi họ tiến quân qua đồng bằng phía Bắc Trung Hoa, và mụ đã gia nhập hàng ngũ của họ và mụ trở thành đảng viên. Tôi để ý thấy mụ thi hành công tác một cách "tà tà" và không ưa mắng chửi, gắt gỏng, quát tháo tù nhân như mấy cai ngục kia. Vào lúc thời tiết giá lạnh nếu là phiên trực của mụ, tôi thường thấy mụ lấy mền dự trữ trong nhà tù để cho các tù nhân nào không đủ mền đắp và cho mượn. Lần sau cùng tôi bị ngất đi do ăn uống thiếu thốn thì chính mụ đã đem tôi đi bệnh xá và xin được lệnh của các bác sĩ yêu cầu tăng thêm cơm cho tôi. Tôi chắc mụ không thuộc nhóm cai ngục theo "Mao" đã giảm lương thực của tôi vào dịp đó để tăng áp lực hòng bắt tôi nhận tội.
- Sao chị không cố ăn một chút đi? Mụ hỏi tôi.
Tôi không trả lời nhưng nghĩ trong bụng "câu hỏi thật ngốc quá đi. Thế mụ không biết là hai tay tôi bị còng hay sao chớ". Chẳng đợi tôi trả lời, mụ tiếp luôn:
- Tụi nó sẽ không mở còng ra đâu - chị biết không - chỉ vì để chị ăn không được. Nếu chị có chết đói, tụi nó sẽ tuyên bố là chị tuyệt thực, tự tử và do đó là phản cách mạng. Đó là cách thông thường làm cho tù nhân chết trước khi làm rõ tội trạng.
- Nhưng - tôi đáp - tay bị trói thế này làm sao mà ăn được?
- Đâu phải là không thể được. Nghĩ kỹ coi, cũng vẫn có cách chứ. Chị có cái muỗng nhựa không?
Mụ thì thào với vẻ thông cảm và ái ngại. Vì vậy tôi quyết định nói với mụ nới lỏng cái còng ra chút đỉnh để cái còng đừng xiết chặt quá vào tay tôi. Tôi luôn luôn trong tình trạng căng thẳng vì cái còng này. Nó làm cho tôi luôn luôn phải quan tâm, phải nhớ đến nó. Nó chiếm hết cả tâm trí tôi, không cho tôi còn nghĩ ngợi được gì nữa.
- Tay tôi bị sưng vù lên và nóng hừng hực. Toàn thân tôi đau đớn nhức nhối vì nó. Chị làm ơn nới cái còng ra cho tôi chút được không?
- Tôi làm gì có chìa khoá để mở còng. Cấp trên họ giữ chìa khoá. Sáng mai, cố ăn một chút đi. Chị sẽ thấy dễ chịu hơn nếu có chút gì trong bụng.
Một luồng gió lạnh từ phía cuối hành lang thổi ào tới chứng tỏ cánh cửa phía đó có người vừa mở cửa bước vào. Mụ cai ngục "nhân từ" khe khẽ đóng cửa sổ lại và lảng đi.
Tôi quay trở lại giường, ngồi và suy nghĩ. Mụ cai ngục nói có lý. Tôi nên cố gắng ăn. Chết thì chẳng có gì đáng phải sợ. Điều đáng sợ đối với tôi là đầu óc u mê lú lẫn đi, không còn sáng suốt để nhận ra ý nghĩa của sự việc nữa kia. Nhưng làm thế nào để đưa thức ăn lên miệng khi hai tay bị còng thế này? Mụ cai ngục nói là vẫn có cách và bảo tôi nghĩ đi. Mụ cũng nhắc tôi là tôi có cái muỗng bằng nhựa. Hai mắt tôi nhìn về phía bàn. Thoạt tiên tôi nhìn thấy cái muỗng và lại thấy cái khăn tay còn sạch gấp ở đó. Đầu óc tôi bỗng nảy ra một kế. Và tôi quyết định thực hiện khi bữa cơm được đem đến.
Mụ cai ngục ấy cũng nói là chìa khoá mở còng không phải do cai ngục mà do cấp trên giữ. Vậy là tôi đừng mong gì được nới lỏng cái còng. Tôi phải nghĩ làm thế nào đó để làm cái còng bớt nặng, bớt đè vào bàn tay của tôi và làm cho vai tôi đỡ xệ xuống. Tôi xoay lưng lại phía giường, từ từ và rất khó khăn, tôi lôi cái gối ra và đẩy sát vào mé tường. Tôi ngồi tựa vào tường, đặt hai tay lên cái gối êm. Tôi cảm thấy sức nặng của cái còng và của hai tay giảm đi và thấy tương đối dễ chịu.
Suy nghĩ để đề ra kế hoạch, tìm cách để khắc phục những khó khăn đã làm cho tinh thần tôi linh hoạt phấn chấn trở lại. Mặc dù tôi vẫn cảm thấy lạnh, đói, khó chịu nhưng đêm dài dằng dặc ấy lại như thể trôi qua rất nhanh.
Đến sáng, khi cai ngục đánh thức tù nhân dậy, tôi đứng thẳng, duỗi chân ra. Tôi cố nâng cái còng lên và kinh hoảng thấy nó nhờn nhờn, ướt ướt, tôi quay nhìn lên cái gối mà tôi đã đặt tay lên đêm hôm rồi, tôi thấy vết máu lẫn với mủ. Dường như cái còng đã cứa rách da và cứa vào đến tận thịt non. Tôi rùng mình kinh sợ thật sự vì thấy hai bàn tay của mình như vậy là hỏng rồi và đồng thời nhận thấy là mình không còn hy vọng gì ngăn chặn được tai họa này.
Khi người nấu bếp đưa cà mèn cơm qua cửa sổ, tôi đã nhận. Tôi quay lưng ra cửa, chị ta đặt cà men cơm vào tay tôi và tôi cầm cà men đặt lên bàn. Tôi cầm lấy cái muỗng, cố xới lấy một muỗng cơm. Tất cả những động tác đó đều làm đằng sau lưng. Gạo ở Thượng Hải dính lắm. Khi nấu, nó dính cục lại với nhau nên phải khó khăn lắm cái muỗng nhựa mới nạy ra được và đổ tất cả cơm và rau cải bắp ra cái khăn đã trải sẵn. Cứ mỗi một động t&aacut
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện