DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 10

Chương 10: Lời Thú Tội của Người Em Trai

Đợt đấu tố "xa luân chiến" chấm dứt khi mùa hè bắt đầu. Trước khi bước sang tháng 7, tháng oi bức và ẩm nhất, Thượng Hải có một khoảng thời gian mà các nhà khí tượng học gọi là "mai vũ" 1 Mật độ hơi nước trong không khí rất cao. Trong xà lim, cửa đóng kín lại càng ẩm ướt. Nền nhà xi măng sậm đen ở những chỗ xi măng mỏng hoặc bị tróc. Đến mùa mưa, nước mưa tràn qua các cống rãnh, nước ngấm vào các chân tường, góc phòng lép nhép sình lầy. Mùi ẩm mốc, thối rữa làm cho tôi không dám thở mạnh. Áo quần mùa đông mốc trắng mốc xanh, đến nỗi chỉ một đêm thôi, đôi dép để dưới đất cũng đã đóng mốc.
Tôi hân hoan chào đón những ngày hè, bởi vì, dù sao thì cũng còn dễ chịu hơn là có bao nhiêu quần áo quấn hết vào người mà vẫn co ro, run rẩy trong những ngày đông giá buốt. Nhưng tôi cũng kinh sợ cái khí hậu ẩm ướt trong thời gian ấy vì nó làm cho các khớp xương của tôi sưng, đỏ lên và rất nhức nhối. Mỗi khi cơn gió mát kéo theo mưa rào tới là các khớp của tôi cứng ngắc, ngay đơ ra, cử động rất khó khăn. Cùng lúc đó, chân răng bị sưng lên, chảy máu. Không phải chỉ mỗi khi chà răng thì chân răng mới bị chảy máu. Tôi phải lấy ngón tay nhấn vào chân răng rồi lau đi và súc miệng trước khi ăn. Vậy mà khi ăn, nhất là khi thức ăn có muối mặn một chút là cả hàm răng tôi nhức buốt đến toàn thân. Đến nỗi tôi phải đem rau nấu canh nhúng rửa vào nước lạnh để cho lạt muối đi. Khi chân răng của tôi đến cái mức không thể chịu nổi nữa, anh bác sĩ trẻ của nhà tù đã cho tôi vài viên thuốc sulfa để cho bớt sưng. Anh nói với tôi, trong bệnh xá của nhà tù không có nha sĩ.
Đời sống vốn khó khăn, tôi đã phải đấu tranh liên tục để giữ cho sức khỏe đừng suy sụp thêm nữa, chưa bao giờ cuộc sống lại thúc bách hoặc vô nghĩa đến thế. Tuy nhiên, mặc dù những khó khăn về đời sống và đau đớn về thể xác, tôi vẫn cảm thấy tâm hồn thơ thới, bình thản hơn. Đó là vì tôi đang trải qua một chuỗi những cuộc thẩm vấn khiến tôi hy vọng trường hợp của tôi sắp được làm sáng tỏ. Cứ vài ngày tôi lại bị gọi lên thẩm vấn. Điều tra viên của Đội Công nông tuyên truyền hỏi tôi về những bạn bè và những người liên quan quen biết với tôi. Trong thời gian giữa hai cuộc thẩm vấn, tôi phải viết dài dòng, tỉ mỉ những lời khai về từng người và sự giao tiếp của tôi với họ. Tôi biết, những điều tôi khai về họ sẽ được đem đối chiếu với những lời khai của họ về tôi để tìm ra một sự sai biệt nào đó và dùng làm căn cứ để nghi ngờ tính chính xác, nhưng chớ có thêm thắt chi tiết, nhất là khi có sự khác biệt giữa lời khai của tôi và bạn bè tôi. Đôi khi cuộc thẩm vấn cũng nổi phong ba bão táp với những lời đe dọa, nạt nộ của điều tra viên, hoặc vì điều tra viên không thỏa mãn với lời khai của tôi. Cũng có lúc tôi bị thúc ép phải cung cấp bằng chứng buộc tội người này người kia trong số bạn bè người thân của tôi.
Như vậy tôi biết được là người đó cũng đang gặp rắc rối.
Nói chung, việc trả lời các câu hỏi của điều tra viên hoặc viết các lời khai về bạn bè và người thân thường cho tôi những cơ hội để nói, biện hộ thay cho họ. Nhờ đã biết tính chất của công việc và nếp sống của họ, tôi thường đoán được loại vấn đề mà họ phải đương đầu với cuộc Cách mạng Văn hóa. Tôi cố nhớ lại và nhấn mạnh vào một vài lời nói hoặc hành động nào của họ có thế giúp cải thiện cái hình ảnh mà các "ông bà" Cách Mạng đã có về họ. Và tôi nói điều đó bằng thứ ngôn ngữ quen thuộc và có thể chấp nhận được đối với những "ông bà" Cách Mạng.
Một trong những phẩm tính nổi bật của những người Trung Hoa có học thức thuộc thế hệ tôi là đều có lòng yêu nước nồng nhiệt. Cảm thức ấy phát sinh từ sự hiểu biết và kinh nghiệm về thế giới bên ngoài cùng sự lo lắng về tình hình tương đối lạc hậu của Trung Hoa. Chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc được lịch sử cận đại của Trung Hoa là một đỉnh cao của một nền văn minh vĩ đại nhưng đang trên đà suy thoái. Thật ra chỉ những kẻ ngây thơ mới tin rằng cuộc Cách mạng của Mao sẽ tạo ra một sức thúc đẩy Trung Hoa tiến bộ. Cũng chẳng phải vì niềm tin tưởng thơ ngây ấy mà nhiều trí thức Trung Hoa đã chọn ở lại hoặc (đang ở nước ngoài) quay trở về Trung Hoa khi Mao lên nắm chính quyền ở lục địa này. Trong các lời hoặc bản cung khai, tôi đã thành thật nói về lòng yêu nước sâu sắc của những người bạn và người thân cũng như nhiệt tình phụng sự đất nước của họ. Nhưng nói với "lũ người theo Mao" về những vấn đề đó chẳng thà nói chuyện với đầu gối. Thứ nhất, tôi có cảm tưởng họ giành cho họ cái độc quyền yêu nước, làm như thể ngoài họ ra, không ai biết yêu nước hay là có khả năng yêu nước vậy. Hoặc ít ra ngoài cái kiểu yêu nước của họ ra, tất cả các kiểu yêu nước khác đều là "phản quốc" hay nhẹ lắm thì cũng không phải là lối yêu nước chân chính. Lối yêu nước của họ không phải là lối yêu nước cực đoan, xuất phát từ tự ái dân tộc hay là từ đầu óc dân tộc hẹp hòi mà có lẽ - sâu xa hơn - đó là biểu hiện của một đầu óc độc tôn, độc quyền lãnh đạo. Theo tôi nghĩ cái ý chí độc quyền yêu nước của họ chỉ là một ngụy trang của lòng đố kỵ hiểm độc và ti tiện. Thứ hai, cái mà "lũ người theo Mao" muốn tìm qua các cuộc thẩm vấn và các bản cung khai của tôi là một bằng chứng có vẻ hợp lý để hiệu chính cho một kết luận đã có sẵn của họ. Chẳng hạn: giai cấp tư sản là có tội, những người đã đi học ở nước ngoài, làm việc cho xí nghiệp nước ngoài hay giao thiệp với ngoại quốc là gián điệp... Đối với họ đó là những "chân lý" không cần phải bàn cãi. Nhiệm vụ của điều tra viên là làm thế nào để "tội nhân" nhận tội, nghĩa là tìm những chứng cớ để làm rõ cái "chân lý" kia. Nói cách khác, bản án đã có trước khi thẩm vấn điều tra. Vì vậy, họ không thể nhìn - và cũng chẳng muốn nhìn - thấy lòng yêu nước của những người mà họ gọi là "kẻ thù giai cấp". Thứ ba, "lũ người theo Mao" đã lẫn lộn khái niệm "quốc gia" (nation) với khái niệm "nhà nước" (state). Họ không phân biệt "quốc gia" (như một cộng đồng dân tộc có tính chất trường cửu và hữu hình) với "nhà nước" (như một cộng đồng chính trị có tổ chức, nằm dưới quyền điều khiển của một chính quyền và có nhiều hình thức "nhà nước"). Họ tự đồng hóa họ với "nhà nước" và đặt nhà nước trên "quốc gia" nên họ không thể hiểu được, không thể quan niệm được "nhà nước" như một công cụ phục vụ quốc gia nghĩa là phục vụ một cộng đồng dân tộc có tính chất trường cửu và hữu hình. Họ không thể quan niệm được "quốc gia" như một hiện thân hữu hình của khái niệm "tổ quốc". Do đó, một người nào đó chỉ cần yêu nước một cách khác với họ thì cũng đủ để bị họ kết án là phản quốc. Cụ thể như nếu một người nào đó đã có những cống hiến về văn hóa, nghệ thuật khoa học cho NƯỚC TRUNG HOA trước khi Cộng sản lên nắm chính quyền thì người đó cũng bị coi là không phục vụ cho NƯỚC TRUNG HOA mà là phục vụ cho chế độ Quốc Dân Đảng. Và vì thế người đó "có tội" vì đã góp phần làm vững mạnh sự cai trị của kẻ thù. Tôi vẫn thường tranh luận với các điều tra viên về quan điểm hẹp hòi và phi lý này. Nhưng lần lần tôi hiểu ra rằng không phải là tôi chỉ đang đụng chạm với thành kiến của "lũ người theo Mao" đang phụ trách thẩm vấn tôi mà đó còn là quan điểm chính thức của Đảng Cộng sản Trung Hoa.
Những cuộc thẩm vấn bắt đầu trong mùa mưa. Thường tôi đến phòng thẩm vấn mặt mũi, đầu tóc, áo quần ướt đẫm nước mưa. Tôi không có áo mưa. Các cuộc thẩm vấn kéo dài cho đến tháng hè, lúc mà thời tiết ẩm ướt nhường chỗ cho cái nóng oi bức và - than ôi! -muỗi. Trong nhiều cuộc thẩm vấn có những người từ những nơi, những cơ quan khác đang xử lý những người mà tôi được yêu cầu cung cấp tin tức, dữ kiện đã đến cùng với điều tra viên của tôi để thẩm vấn tôi về những bạn bè và người thân của tôi. Nhờ đó tôi biết được bạn bè người thân nào bị bắt và bị điều tra như tôi. Tôi lấy làm lo sợ cho họ và để ý quan sát kỹ ngôn ngữ và thái độ của những người thẩm vấn họ. Nếu những điều tra viên này ăn nói nhỏ nhẹ và tỏ ra vẻ biết tôn trọng lý lẽ thì tôi bớt lo phần nào cho họ. Gặp cái thứ điều tra viên ngu đần, mở miệng ra là chỉ biết lý sự cùn hoặc áp đảo nếu bị thua lý hoặc mở miệng ra là chỉ biết nạt nộ, đe dọa thì tôi không khỏi sợ cho họ.
Vào mùa thu có lần tôi bị một trận đòn nhừ tử khi điều tra viên của ban kiểm soát quân sự nhà hát nghệ thuật Nhân dân đến điều tra tôi về ông Hoàng Triều Lâm giám đốc nhà hát đó. Hoàng và bà vợ ông ta - bà Danni - một diễn viên đẹp và có tài, là bạn cũ của vợ chồng tôi từ thời tất cả chúng tôi còn đang du học ở Luân Đôn. Trước khi quân Cộng sản tiếp quản Thượng Hải thì Hoàng đã là giám đốc nổi tiếng và hoàn thành nhiều cuốn phim rất thành công. Người ta tin rằng cặp vợ chồng này đã được các cán bộ cộng sản hoạt động ngầm ở Thượng Hải yêu cầu ở lại khi chính quyền Quốc Dân Đảng tháo chạy. Cả hai vợ chồng đều đã được chính quyền cộng sản chấp nhận ngay khi họ vừa tiếp quản Thượng Hải. Khi nhà hát Nghệ thuật Nhân dân được thành lập, Hoàng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Hoa và được chỉ định làm giám đốc nhà hát này. Tại đây, tài năng nghề nghiệp của vợ chồng này phát triển rực rỡ. Cả hai đã cùng nhau đưa lên sân khấu nhiều kiệt tác kể cả bản dịch của các vở kịch của Shakespeare và rất nhiều tác phẩm khác của các nhà văn lớn Mỹ và Anh hiện đại phê phán xã hội tư bản. Qua nỗ lực và đóng góp lớn lao của cặp vợ chồng này mà khán giả người Trung Hoa được biết sự kiện các nhà soạn kịch ở các nước tư bản đã phản ánh xã hội dưới ánh sáng phê bình. Hoàng được quần chúng coi như một giám đốc hàng đầu và một trong các nhà lãnh đạo Đảng trong lãnh vực văn hóa. Rõ ràng, Hoàng khác với những người đã bám sát đường lối "nghệ thuật phục vụ chính trị" hoặc "nghệ thuật chỉ để ca ngợi công nhân, nông dân và quân đội".
Trước cuộc thẩm vấn đặc biệt này, tôi đã được đọc qua nhiều số báo chỉ trích cuốn phim "Chiến đấu cho Thượng Hải" do ông Hoàng thực hiện từ những năm đầu thập niên 50. Nội dung cuốn phim là ca tụng quân đội cộng sản khi chiến đấu để giành lấy và tiếp quản thành phố Thượng Hải. Cuốn phim rất thành công dù rằng nó có nội dung tuyên truyền rất rõ rệt. Có điều là tuyên truyền rất khéo léo và trên cơ sở sự kiện có thực. Cuốn phim đã được hoan nghênh chào đón như một "tác phẩm lớn".
Nhưng, bây giờ báo chí đã để ra mấy ngày, mỗi ngày nhiều cột báo để chỉ trích cuốn phim. Đại khái, Hoàng đã biến quân đội Quốc Dân Đảng bảo vệ thành phố thành những "anh hùng" và như vậy là làm hạ thấp giá trị quân đội Cộng sản. Tôi tự hỏi nếu trình bày quân Quốc Dân Đảng chỉ là một bọn ăn hại đái nát, chưa đánh đã chạy và việc đánh chiếm Thượng Hải chỉ là công việc đạp một cánh cửa đã mở sẵn thì thử hỏi quân đội Cộng sản hi sinh, anh hùng ở chỗ nào, tài ba, dũng cảm kiên cường ở chỗ nào? Các lời phê bình cũng nhằm vào chỗ Hoàng đã phơi bày những tàn phá do chiến tranh và những đau khổ mà người dân Thượng Hải phải chịu, tức là Hoàng đã tự đặt mình vào vị thế của một người chống lại đấu tranh võ trang nói chung và cuộc Chiến tranh giải phóng do Đảng Cộng sản Trung Hoa lãnh đạo nói riêng. Rõ ràng là cái lối phê bình "chầy cối", cả vú lấp miệng em, võ đoán, khinh bỉ trí thông minh của khán giả đã xem phim và người đọc báo, đi ngược lại những bài báo tán tụng cuốn phim lúc nó mới hoàn thành... nếu không biểu lộ tính chất kẻ cả và sự ngu xuẩn của kẻ phê bình thì nó chỉ nhằm mục đích duy nhất là chọn Hoàng làm một nạn nhân.
Tại sao một người như Hoàng Triều Lâm, người đã phục vụ chế độ cộng sản Trung Hoa tốt như vậy, hữu hiệu như vậy lại trở thành mục tiêu tấn công. Như nhiều người khác, chỉ vì ông ta là nạn nhân của cuộc đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Hoa. Những người đã ban cho Hoàng cái địa vị ấy cũng chính là những kẻ thù của Giang Thanh trong thập niên 30. Trong thời gian ấy - đầu thập niên 30 - Giang Thanh chỉ là một diễn viên hạng xoàng đang cố để được nổi tiếng, trong khi ấy họ - những người đối thủ của Giang Thanh - đã là lãnh tụ của phong trào Văn hóa cánh tả, nơi tập hợp các văn nghệ sĩ khuynh tả và một số đảng viên cộng sản hoạt động ngầm dưới sự lãnh đạo của Lưu Thiếu Kỳ. Lúc đó, rõ ràng là các văn nghệ sĩ, các trí thức khuynh tả hầu như chẳng biết Giang Thanh là con mụ nào nếu có biết thì cũng thấy mụ là một người đàn bà chẳng những tài năng kém cỏi mà phẩm hạnh thì phải được coi là "người đàn bà quá dễ dãi". Giang Thanh đã nuôi lòng hận thù từ đó. Trong cuộc Cách mạng Văn hóa, mụ nắm được quyền hành trong ban văn hóa của Đảng, mụ đã ra lệnh bắt giam tất cả những văn nghệ sĩ nào ngày xưa đã dám không biết đến mụ và nhất là không phát hiện ra tài năng của mụ, đã coi thường mụ. Những người này bị mụ bắt giam dưới tội danh là "bè lũ Lưu Thiếu Kỳ". Chúng ta đã biết "chủ nghĩa ông bầu" (patronnage) là một phần quan trọng trong sinh hoạt chính trị ở Trung Hoa. Khi "ông bầu" bị hạ bệ thì đương nhiên các tay em của ông ta bị "văng" đã đành mà hệ lụy còn lan tới cả những người vì nhiều lý do đã làm việc với ông ta, dưới quyền ông ta, Hoàng Triều Lâm không gây thù chuốc oán gì với Giang Thanh vì vào những thập niên 30, ông ta vẫn là tuổi học trò. Nhưng nay ông ta vẫn bị Giang Thanh "chiếu cố" bởi vì ông ta đã được những kẻ thù của Giang Thanh đỡ đầu. Hoàng Triều Lâm bị bắt chỉ là hậu quả mối hận của Giang Thanh đối với "ông bầu" của Hoàng hay cũng có thể gọi là hệ lụy của "chủ nghĩa ông bầu" ở Trung Hoa.
Đại diện Ban kiểm soát quân sự của nhà hát Nghệ thuật nhân dân ngồi bên cạnh tên điều tra viên của nhà tù số 1 đã đặt câu hỏi ngay khi tôi vừa đặt chân đến phòng thẩm vấn, vừa làm xong thủ tục "chào" chân dung Mao và ngồi trên ghế dành cho tù.
- Mày có biết thằng mại bản Hoàng Triều Lâm không?
Chỉ cần nghe nói cái từ "thằng mại bản" tôi đã hiểu ngay rằng bọn này đã không tìm ra được một sai lầm nào trong hành vi cá nhân của Hoàng nên xoay qua chĩa vào lai lịch gốc gác gia đình của Hoàng.
"Mại bản" - comprador - là người hoạt động như là đại lý liên lạc giữa một xí nghiệp nước ngoài để giao thiệp với chính quyền Trung Hoa. Hệ thống "mại bản" do triều đại nhà Thanh đặt ra để kiểm soát ngoại thương. Nhưng với lề lối kinh doanh mới, hệ thống này đã dần dần bị dẹp bỏ trong thập niên 20 - 30. Là một xí nghiệp lớn, hãng Shell vẫn không thải mại bản của họ khi các xí nghiệp khác đã cho nghỉ việc các mại bản. Hãng Shell vẫn giữ mại bản cũ làm việc cho đến lúc người này chết thì không chỉ định người mới thay thế. Chế độ cộng sản Trung Hoa coi những người mại bản như là thành phần phản động nhất của giai cấp tư sản. Sau khi nắm chính quyền trên lục địa Trung Hoa, Đảng Cộng sản đã bỏ tù hoặc bắt đóng những món tiền phạt hết sức nặng nề những người được xếp vào loại "tư sản mại bản". Ông thân sinh của Hoàng là mại bản của hãng Shell tại Thiên Tân và đã chết trong thời chiến tranh Trung Nhật.
Tôi đã đáp lại câu hỏi của đại diện Ban kiểm soát quân sự của nhà hát Nghệ thuật nhân dân như sau:
- Tôi biết Hoàng Triều Lâm, giám đốc nổi tiếng của nhiều cuốn phim và nhiều vở kịch rất thành công.
- Nó cũng là một thằng mại bản của hãng Shell - ông kiểm soát quân sự nói - Chúng tao biết rõ về mày. Mày là một tên phản động ngoan cố, là gián điệp cho đế quốc. Tao không ngạc nhiên khi thấy mày tìm cách lẩn tránh không trả lời thẳng vào câu hỏi của tao.
Tên điều tra viên của nhà tù số 1 nói chen vào:
- Hoàng Triều Lâm hiện giờ đang “kẹt” dữ đấy. Nó là kẻ thù giai cấp thu hình, ngụy trang để chui vào Đảng. Nếu mày còn cố bao che cho nó thì hậu quả sẽ nghiêm trọng đấy. Và tội trạng của mày đã nặng sẽ còn nặng thêm nữa. Nếu mày “tỉnh táo cái đầu” và tỏ ra hợp tác thì sẽ được kể là có đóng góp vào Cách mạng văn hóa và góp phần vào khả năng có thể được đối xử khoan hồng.
- Tôi nói sự thật. Tôi đáp.
- Nếu nói sự thật mày sẽ nói nó là thằng mại bản, tên kiểm soát quân sự nói.
- Ông cụ thân sinh của ông ta là mại bản cho hãng Shell thì đúng. Hoàng chỉ là chẳng may có một lý lịch gia đình như vậy.
- Nó đã “kế nghiệp” ông già nó khi ông già nó chết.
- Chức vụ mại bản đã được bãi bỏ từ lâu. Khi một mại bản đương nhiệm chết đi, hãng Shell không chỉ định người mới.
- Vậy thì cái gì đây?
Anh ta đặt một tập hồ sơ lên bàn. Tên điều tra viên của nhà tù số 1 trao lại cho tôi. Đó là chứng từ mang dấu ấn của Hoàng để chứng nhận là chủ một thửa đất nhỏ ở Thiên Tân. Tôi thấy những con số trên chứng từ và nhận ra đó là tài liệu rút ra từ hồ sơ của hãng Shell.
- Đây là một tài liệu đã cũ rồi, tôi đáp.
- Cũ hay mới thì điều đó cũng chứng tỏ tên Hoàng là một thằng mại bản của hãng Shell, một điều mà nó đã dấu Đảng.
- Tôi sẽ kể cho ông nghe toàn thể sự việc, nếu ông chịu nghe!
- Cứ nói đi.
- Tôi không nhớ rõ ngày nào, nhưng từ lâu lắm, trước cuộc chiến tranh, chính quyền Quốc dân đảng đã ban hành một qui định mới cấm người ngoại quốc được sở hữu đất đai ở Trung Hoa. Tất cả các xí nghiệp ngoại quốc đã sở hữu đất đai ở Trung Hoa đều đã sang tên đất ấy cho các mại bản của họ. Hãng Shell cũng làm như vậy. Khi thân phụ qua đời, ông Hoàng thừa kế tất cả gia tài của thân phụ. Việc đó xảy ra vào thời chiến tranh. Thiên Tân bị quân Nhật chiếm đóng và ngay chính ông Hoàng lúc đó cũng không có mặt ở đó. Và lúc đó, hãng Shell cũng không có mặt ở đó. Hãng đã ngưng các hoạt động ở đó từ sau trận Trân Châu Cảng. Tôi cho là một người nào đó – người nhà hay nhân viên của ông Hoàng – đã đóng dấu ấn của ông ta vào tất cả những hồ sơ giấy tờ của ông cụ để lại, trong đó có chứng từ thổ trạch của hãng Shell. Điều đó không có nghĩa là hãng Shell đã mướn ông Hoàng làm mại bản cho mình bao giờ.
- Nó đã được hãng Shell trả tiền cho để đền bù công lao phục vụ của nó đấy chớ, kiểm soát viên quân sự nói.
- À cái đó thì tôi không rõ.
- Thì chính thằng chồng mày với tư cách là tổng quản lý của hãng Shell trả lời chớ ai.
- Ông nhà tôi không nói gì với tôi điều đó.
Tôi quyết định tốt nhất là cứ nói không biết gì hết về vấn đề chuyển nhượng này để họ nghĩ rằng tôi sẽ chẳng giúp họ được việc gì trong sự buộc tội ông Hoàng nhờ đó tôi sẽ được để yên. Thật ra lúc đó ông nhà tôi cũng có cho tôi biết là hãng Shell muốn tặng cho ông Hoàng một món tiền để chứng tỏ hãng đánh giá cao sự giúp đỡ của thân phụ ông đã dành cho hãng, mặc dù đất đó đã bị cộng sản tịch thu từ năm 1950. Cử chỉ rộng rãi đó không phù hợp với hình ảnh mà tuyên truyền cộng sản đã vẽ ra cho các xí nghiệp ngoại quốc.
- Mày chỉ nói dối. Các gia nhân của mày nói là chuyện gì vợ chồng mày cũng nói với nhau cả.
- Ông nhà tôi không nói với tôi điều đó. Có lẽ vì nhà tôi cho đó là chuyện nhỏ mọn không có gì đáng kể. Vả lại đâu có phải mỗi chuyện ở văn phòng nhà tôi đều mới nói cho tôi hay.
- Tao không tin.
- Cái đó là quyền của ông! Tôi không biết gì về chuyện ấy thì tôi nói không biết. Nhưng tôi không biết đâu có nghĩa là ông không thể nào tìm kiếm ra. Ông có thể tìm trong đống hồ sơ của hãng hoặc trong các tài liệu kế toán.
- Chúng tao đã tìm tất cả những cái đó rồi, đã hỏi rồi. Bộ mày nghĩ là chúng tao đã bỏ qua những cái đó sao. Tao đã có đủ bằng chứng là thằng chồng mày đã trả cho nó một món tiền nữa kìa.
- Nếu vậy thì sự kiện tôi không biết cũng chẳng làm thay đổi gì. Vả lại, nếu các ông đã có đủ chứng cớ cụ thể thì còn hỏi tôi làm chi cho mất công?
- Chúng tao muốn mày công nhận thằng Hoàng là mại bản của hãng Shell. Nó đã được trả tiền vì công lao tôi tớ của nó. Mày là viên chức cao cấp nhất người Trung Hoa của hãng Shell. Mày có thể khẳng định những gì chúng tao đã biết. Hoàng Triều Lâm là một tên mại bản của hãng Shell. Giai cấp tư sản mại bản là phản động nhứt. Nó sẽ bị khai trừ khỏi Đảng. Mày và thằng chồng mày là bạn của nó. Chúng mày phải biết nó rất rõ. Mày có thể cung cấp những dữ kiện có giá trị để chống lại nó.
Bị khai trừ khỏi đảng là một số phận mạt hạng đối với một đảng viên. Bị khai trừ, một đảng viên còn ở dưới hạng quần chúng một bậc. Vị trí xã hội của họ chỉ hơn một người bị coi là phản cách mạng một chút xíu.
Họ luôn bị kỳ thị. Gia đình họ, con cái họ thậm chí đến cháu nội cháu ngoại của họ vẫn còn có thể bị liên lụy vì họ. Tôi nghĩ một tương lai như vậy sắp sửa được dành cho Hoàng thì thật là bi thảm và bất công. Hoàng, một người đã cống hiến cả đời và tài năng của mình cho lợi ích của cộng sản Trung Quốc, nay đã được Đảng cộng sản dành cho số phận như thế đó. Điều đó làm cho tôi phẫn nộ. Tôi đã nói một cách cứng rắn:
- Cứ như tôi biết ông Hoàng là một đảng viên trung thành của Đảng cộng sản Trung Hoa. Chưa bao giờ ông ta là mại bản. Lúc thân phụ ông ta mất đi rồi thì ở Thiên Tân, hãng Shell không có mại bản nữa.
Tên điều tra viên của nhà tù số 1 nói:
- Mày vẫn giữ thái độ bất hợp tác. Mày không muốn lập công chuộc tội sao? Bao che cho nó thì mày được lợi gì?
- Tôi chỉ nói sự thật!
Cả hai đều trở nên tức giận. Tên đại diện cho ban kiểm soát quân sự của nhà hát Nghệ thuật Nhân dân đỏ mặt tía tai lên và nhìn tôi trừng trừng vừa như thất vọng vừa như kinh tởm. Tên điều tra viên nói:
- Chúng tao muốn mày viết một tờ khai đầy đủ về thằng mại bản Hoàng Triều Lâm. Phải khai hết tất cả những gì mày biết về nó. Mày đừng cứ cố dấu diếm bao che cho nó, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng cho mày. Nếu mày cung cấp được những tin tức hữu ích là mày đã góp phần vào Cách mạng văn hóa. Cố nhớ lại hết những điều nó đã nói với vợ chồng mày, khai hết những gì mày biết về đời sống và quan điểm của nó. Nó là kẻ thù giai cấp. Mày phải tố cáo nó, kết tội nó. Nếu mày tố cáo nó đích đáng, tao sẽ coi đó là ý muốn cải tà qui chánh của mày.
Tên đại diện cho ban kiểm soát quân sự nói tiếp:
- Nếu mày muốn lập công chuộc tội thì mày phải tố cáo thằng mại bản Hoàng Triều Lâm.
Tôi coi những lời hăm he, dụ dỗ của họ như là sự nhục mạ lòng chính trực của tôi. Nhưng đó chỉ là những thông lệ được nói ra để khuyến dụ người ta nói dối sao cho phù hợp với yêu cầu của chiến dịch chánh trị trong lúc đó mà thôi. Tôi không biết đã có bao nhiêu người gục ngã trước sức ép quỉ ma ấy. Nhưng trường hợp này, những hăm he và khuyến dụ ấy chỉ càng làm cho tôi thêm kiên định lòng trung thành với sự thật.
Tôi đã viết tất cả những gì tôi biết và tôi nhớ được về đời sống và quan điểm của ông Hoàng kể cả niềm tin tưởng vững vàng của ông ta nơi đảng Cộng sản Trung Hoa mà ông ta coi là đại diện cho sự tiến bộ và sự sáng suốt của nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên họ đã ném trả lại tôi bản cung khai đó kèm theo lời hăm dọa sẽ trừng trị tôi đích đáng vì tôi không chịu xác nhận Hoàng Triều Lâm là mại bản của hãng Shell ở Thiên Tân. Tôi bị đe dọa, bị cảnh cáo trong các phiên thẩm vấn mà các điều tra viên hùng hổ, hung hăng giận dữ tưởng như trời long đất lở. Tôi bị bắt buộc phải viết đi viết lại nhiều lần lời khai về Hoàng. Nhưng tôi cứ bám chặt vào những gì tôi đã biết và đã viết ra, nhất định không chịu nhượng bộ trước cái đòi hỏi của họ. Vài tuần lễ sau, vấn đề ấy được cho qua. Người của ban kiểm soát quân sự của nhà hát Nghệ thuật Nhân dân đột nhiên biến mất như hắn đã đột nhiên xuất hiện trong các phiên thẩm vấn của tôi.
Sau này khi được thả ra, tôi được biết là các “ông bà” cách mạng thuộc “lũ người theo Mao” đã không thể xếp Hoàng Triều Lâm vào loại “Giai cấp tư sản mại bản” để khai trừ ông ra khỏi Đảng. Ông ta chỉ bị tố cáo là tay chân, bè lũ của Lưu Thiếu Kỳ. Hai ông bà đã phải trả qua nhiều năm trong thời kỳ Cách Mạng văn hóa, bị đấu tố trong nhiều cuộc mít tinh và bị lao dịch cải tạo, làm những công việc tay chân rất nặng nề như khiêng đất, khiêng gạch ở các công trường xây cất ngay trong mùa đông tháng giá hay là dưới mặt trời thiêu đốt mùa hạ. Sức khỏe của ông Hoàng bị suy giảm nặng nề và bà vợ xinh đẹp của ông đã trở thành bà già xấu xí. Sau khi Mao chết và “bè lũ bốn tên” bị bắt, tình hình chính trị ở Trung Hoa thay đổi, cả hai ông bà mới được phục hồi.
Một trong những khía cạnh tồi tệ nhất của đời sống tại Trung Hoa dưới thời Mao Trạch Đông là đảng Cộng sản đòi hỏi nhân dân phải dò xét và tố cáo lẫn nhau trong các chiến dịch chánh trị. Đòi hỏi đó đã phá hủy đến tận nền móng mọi tương giao nhân loại. Vợ với chồng mà cũng phải dè dặt đối với nhau, cha mẹ bị con cái dò xét, tố cáo, xa lánh, gớm ghét. Trong hoàn cảnh đó không ai muốn có bè bạn. Đồng thời đòi hỏi đó bắt buộc người ta phải gian dối, trá ngụy và khép kín. Để tự vệ, con người không dám thố lộ ý nghĩ, tình cảm của mình cho người khác, hoặc phải nói ra những điều khác với mình nghĩ, phải biểu lộ tình cảm mà mình không có. Từ đó đi đến chỗ - để bảo vệ bản thân và gia đình - hễ khi người ta bị bắt buộc phải nói thì thường là nói dối.
Trong khi tôi bị khuyến dụ, bị ép buộc phải khai gian, khai láo để tố cáo, buộc tội người khác thì ngược lại người khác cũng bị khuyến dụ, bị ép buộc phải khai gian, khai láo để tố cáo buộc tội lại tôi. Qua những câu hỏi của điều tra viên, tôi thường đoán được những gì bè bạn và người thân của tôi đã khai về tôi. Không có gì khó lắm để phân biệt người còn giữ được đầu óc tỉnh táo và còn giữ được lập trường của mình với những ai hoảng sợ, mất tinh thần. Khoảng cuối năm 1969, tôi phải trải qua một thời kỳ quá khó khăn, gay go vì lời “thú tội” của người em trai tôi ở Bắc Kinh. Sự kiện người em tôi “thú tội” – và tất nhiên là thú ẩu – chứng tỏ rằng ngay cả một người rất thông minh, được giáo dục kỹ và có học thức cao cũng vẫn có thể gục ngã vì áp lực cho đến nỗi không còn đủ lương tri sáng suốt để nhận định được đúng sai, tốt xấu, thật giả nữa.
Trong sự ồn ào rùm beng, Mao Trạch Đông lại tung ra một “chưởng” nữa. Lời châu báu của người được chạy chữ đỏ trên các báo Nhân dân (cơ quan ngôn luận của Đảng), báo Hồng Kỳ (cơ quan ngôn luận của quân đội) và báo Thượng Hải giải phóng (cơ quan ngôn luận của Đảng Bộ Thượng Hải). Mao “phán dạy”:
“Cuộc Cách mạng văn hóa vô sản là một cuộc Cách mạng chánh trị có tầm cỡ lớn của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Đó là sự tiếp tục cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Đó cũng là sự tiếp tục cuộc đấu tranh của Đảng cộng sản Trung Hoa chống lại bè lũ Quốc dân đảng”.
Ngay sau khi quảng bá lời dạy khôn ngoan ấy trên báo chí thì lập tức có một cuộc vận động chính trị để thực hành lời dạy của người. Mục tiêu của đợt này là “đào tận gốc, tróc tận rễ bọn tàn dư Quốc dân đảng”. Chỉ tiêu vẫn là ba đến năm phần trăm cán bộ đảng viên công nhân viên chức các ban ngành đoàn thể cơ quan xí nghiệp nhà máy… là dư đảng của Quốc dân đảng ngụy trang mai phục. Hàng ngày, báo chí hân hoan loan tin mới “moi” ra được ở chỗ này, chỗ kia nào là điệp viên của Quốc dân đảng, nào là nhân viên quân sự của Quốc dân đảng nào là cảm tình viên của Quốc dân đảng ở Đài Loan. Chỉ trong một thời gian ngắn nhiều kẻ thù lẩn trốn bị “khui” ra đến nỗi tình hình lục địa Trung Hoa có nhiều người – đàn ông lẫn đàn bà – là nhân viên dân sự, quân sự, tình báo, cảm tình riêng của Quốc dân đảng mà ngay khi Quốc dân đảng còn ngự trị trên lục địa cũng không có được. Nếu Quốc dân đảng đã có khối nhân sự lành nghề và nhiệt tình đến như vậy thì chắc gì Cộng sản đã đuổi được họ phải chạy ra Đài Loan! Và chẳng lẽ bao nhiêu năm tuyên truyền giáo dục của cộng sản đã uổng phí vì đã làm đến như vậy trong hơn một chục năm mà vẫn không tẩy sạch được lục địa Trung Hoa khỏi cái “họa” Quốc dân đảng sao? Bầu không khí căng thẳng và hoảng sợ đã được cố ý tạo ra. Thật ra, đó chỉ là để tạo ra một cái cớ cho cuộc “săn bắt phù thủy” mới, một sự hợp pháp hóa cuộc leo thang đấu tranh giai cấp, một đợt khủng bố trắng nhằm tạo sự sợ hãi thường xuyên trong nhân dân. Người ta có một cách duy nhất để chứng tỏ mình vô tội ấy là biểu lộ một cách cường điệu, lố bịch sự ủng hộ mà mình dành cho Mao và cho Đảng, là hô khẩu hiệu cho lớn, là làm việc hăng hơn nữa, làm việc chết bỏ mà không đòi hỏi một phần thưởng vật chất nào và đặc biệt là tỏ ra hết sức tàn nhẫn đối với “kẻ thù”. Báo chí luôn luôn nhắc nhở và thúc đẩy người vô sản phải luôn luôn đề cao cảnh giác và rình mò, dò xét những hoạt động bất thường, những cử chỉ khác lạ của người bên cạnh, lối xóm, đồng nghiệp. Họ cũng phải tăng cường giám sát “kẻ thù giai cấp” chưa bị bắt giam trong nhà tù.
Đợt thẩm vấn tới sẽ không làm cho tôi ngạc nhiên. Các kẻ hành hạ khủng bố tôi không thể nào bỏ qua mà không đẩy tôi vào vòng cuộc đấu tranh giai cấp đợt này, nếu họ muốn tỏ ra là theo sát những chỉ thị của Mao. Thế là, từ gián điệp cho đến đế quốc, tôi đã trở thành góa phụ của một viên chức cao cấp của Quốc dân đảng.
Ngay khi tôi đặt chân vào phòng thẩm vấn và “chào” chân dung Mao xong, điều tra viên đã biểu tôi đọc chỉ thị mới nhất của Mao. Khi tôi đọc xong, hắn bắt đọc lại lần nữa. Sau đó hắn nói:
- Chúng tao đang truy lùng và khui ra bọn dư đảng Quốc dân đảng. Mày là một trong số dư đảng ấy.
Trong phòng thẩm vấn hôm nay ngoài điều tra viên còn hai người nữa. Một trong hai người đó - tên trẻ tuổi - đã quát lên:
- Thú tội đi.
- Tội gì? - Tôi hỏi.
- Đừng có giả bộ ngây thơ. Tội liên hệ với Quốc dân đảng của mày chớ tội gì?
- Tôi làm gì có liên hệ nào với Quốc dân đảng?
- Mày là đứa trung thành ủng hộ Quốc dân đảng.
- Tôi sợ rằng chính Quốc dân đảng sẽ không đồng ý với các ông về điều này đâu!
Trong khi trả lời, tôi quan sát cả hai người. Qua kiểu quần áo và mái tóc hớt ngắn, tôi nghĩ rằng họ phải là người Bắc (Trung Hoa). Mọi người Trung Hoa được coi là nói tiếng quan thoại, một thứ ngôn ngữ đặt căn bản trên thổ âm Bắc Kinh. Tuy nhiên, những người vốn sinh trưởng ở Bắc Kinh như thằng oắt con kia vẫn giữ một vài âm đặc sệt thổ âm Bắc Kinh. Tôi không hiểu sao cuộc thẩm vấn này lại có hai người từ Bắc Kinh xuống đây để thẩm vấn tôi. Trong những đợt thẩm vấn trước đây, khi phải báo cáo đầy đủ chi tiết về gia đình, tôi có đề cập đến vợ chồng cậu em lúc đó đang ở Bắc Kinh và tôi đã báo cáo tất cả mọi liên lạc tiếp xúc giữa chúng tôi trong suốt những năm qua.
- Mày là đứa trung thành ủng hộ bọn Quốc dân đảng. Đừng có chối vô ích.
- Xin đưa bằng chứng lời tố giác đó, tôi nói.
- Dĩ nhiên là chúng tao có bằng chứng, nếu không tao đâu cất công lặn lội xa xôi như vậy để đến đây thẩm vấn mày. Người lớn tuổi hơn và có vẻ là người có cấp bậc cao hơn trong số hai người lạ mặt thẩm vấn tôi hôm đó đã nói với tôi như vậy. Ông ta nom có vẻ - và ngay trong cách ăn nói của ông ta – là một công nhân công nghiệp ít học thức, một phần tử vô sản chính cống. Còn thằng oắt con kia thì có vẻ là một sinh viên. Điều tra viên hỏi:
- Mày đã chụp tấm hình nào đứng dưới cờ của bọn Quốc dân đảng không?
- Có thể là có – tôi đáp – tôi không nhớ rõ.
Tôi nghĩ là hắn đang hỏi tôi về thời gian đang có cuộc thế giới đại chiến lần thứ hai, rất lâu trước khi Cộng sản nắm chánh quyền ở lục địa Trung Hoa, khi ông nhà tôi làm nhân viên ngoại giao tại sứ quán Trung Hoa ở Canberra, Australia.
- Làm sao mày lại không nhớ được. Đừng hòng lẩn tránh vấn đề bằng cách nói đại ra là không nhớ, thằng oắt nói.
- Lâu quá rồi - tôi nói - nếu có hình chụp ấy thì là do các “ông” Vệ binh đó đến nhà tôi lấy đi. Các ông ấy đã lấy đi tất cả các hình ảnh của tôi rồi.
Ông công nhân già: “Mày đã hủy hết những hình ảnh ấy rồi chớ đâu còn. Nhưng, không phải lấy ở nhà mày!”
- Việc gì tôi phải hủy hết hình ảnh chụp của tôi kìa? Mọi người đều biết ông nhà tôi là viên chức Bộ Ngoại giao của chánh quyền Quốc dân đảng khi chúng tôi ở nước Úc kia mà. Chẳng thể dấu diếm và cũng chẳng cần dấu diếm.
Tên điều tra viên nói với một vẻ kiên nhẫn:
- Mày đang nói đến cái gì vậy? Ai hỏi mày về cái thời kỳ đó?
- Chớ không phải các ông đang hỏi tôi về thời kỳ sống ở nước Úc sao chớ?
Ông ranh con kia chồm lên phía trước và “sủa” vào mặt tôi:
- Đừng giả bộ khùng. Chúng tao đang hỏi mày về cái thời kỳ này, thời kỳ sau giải phóng kìa. Kể từ ngày giải phóng đến giờ, mày có lần nào chụp hình đứng dưới cờ của bọn Quốc dân đảng không? Nói cho thành thật đi.
Tôi ngạc nhiên ở chỗ làm sao chúng lại có thể nghĩ rằng có một người Trung Hoa sống dưới chế độ cộng sản trên đất Trung Hoa lại đứng dười cờ của Quốc dân đảng để chụp hình. Bộ người đó khùng hay sao chớ. Tôi hỏi:
- Ủa, sau ngày giải phóng đâu có ai giữ lại cờ của Quốc dân đảng làm gì? Mà tôi chụp hình đó ở đâu vậy kìa?
- Khỏi cần để ý đến cái cờ đó ở đâu. Mày cứ nói tại sao mày lại đứng dưới cái cờ đó mà chụp hình đó. Phải chăng là để tỏ lòng trung thành với bọn Quốc dân đảng?
- Sau ngày giải phóng, tôi không hề chụp hình dưới cờ của Quốc dân đảng bao giờ.
Tôi nói một cách dứt khoát, quyết định dứt khoát một lần cho xong câu chuyện phi lý vớ vẩn này.
Ông công nhân già: “Thôi, đừng có nói chắc như vậy, rồi sẽ hối đấy. Mày sẽ mất cơ hội được hưởng khoan hồng.”
Thằng oắt con: “Mày nên có thái độ nghiêm túc. Nếu là người khác thì chắc họ đã thú tội rồi, chúng tao biết chúng tao đang nói về cái gì. Chúng tao quyết “khui” cho ra những tên ủng hộ bọn Quốc dân đảng. Mày đừng hòng thoát”.
Tôi hỏi lại bọn họ: “Tôi thật sự không biết các ông đang định nói đến cái gì. Tôi ủng hộ Quốc dân đảng? Nếu vậy, giờ này tôi đã đang ở Đài Loan chớ chẳng ở đây làm gì!”
Tên điều tra viên thì thầm trao đổi gì đó với hai tên kia, sau đó nói với tôi:
- Tốt hơn hết là bây giờ mày quay về xà lim, suy nghĩ kỹ về toàn bộ vấn đề. Mày ở đây đã lâu, đủ để biết chính sách khoan hồng của chánh quyền nhân dân. Mày cũng dư biết là không thể phủ nhận được một cái gì mà người ta có đủ bằng chứng chứng minh.
Tôi lại bị đưa về xà lim và tiếp tục thắc mắc về cái vụ đặc biệt, kỳ quái này. Hai người ở Bắc Kinh xuống coi bộ “chắc ăn” lắm kìa. Chắc họ phải có một cái gì đó là cơ sở cho lời buộc tội của họ. Vậy phải chăng có một kẻ nào có ác tâm âm mưu vu cáo cho tôi cái gì đó. Tôi đã bị tố cáo là gián điệp cho ngoại quốc. Bây giờ bỗng nhiên lại có sự đổi hướng thế này?
Bà ngày sau tôi lại bị gọi lên. Tôi lại bị ép phải thú tội. Rồi lại bị dẫn trở lại xà lim với “lời dặn dò” suy nghĩ cho kỹ mọi sự việc. Và mỗi lần lên thẩm vấn thì tôi cũng cứ “bổn cũ soạn lại”. Vì thật ra tôi thực sự không hiểu họ định nói cái gì nữa. Ba tuần lễ liền, cứ hai ba ngày tôi lại bị lôi lên phòng thẩm vấn một lần. Bầu không khí trong phòng thẩm vấn hết sức căng thẳng. Tôi thật sự hoàn toàn không hiểu các điều ra viên muốn gì và họ cũng chẳng nói rõ ra là họ muốn cái gì. Cứ bắt tôi tự thú. Tôi biết gì đâu mà thú. Tôi cố hết sức để đoán xem họ nghĩ gì trong đầu, nhưng đành chịu.
Trong thời gian đó, để tăng thêm sức ép, cai ngục đã không chịu cho tôi thuốc sulfa để ngăn chặn bớt tình trạng chân răng của tôi bị sưng. Do đó tình hình sức khỏe của tôi suy sụp mau lẹ. Không phải chỉ riêng chân răng mà tất cả xoang miệng tôi đều bị viêm hết đến nỗi tôi không thể ăn gì được. Tôi xin ăn cháo để khỏi phải nhai mà vẫn có được chút thức ăn trong bao tử, để ít ra là sống cầm hơi được. Chân răng tôi quá nhức nhối, đến nỗi tôi không thể nghĩ được đến một cái gì ngoài nỗi đau nhức đó. Trong phòng thẩm vấn tôi rất khó tập trung chú ý vào các diễn biến, các câu hỏi. Lúc đó tôi mới hiểu tại sao một vài tù nhân đành chịu đầu hàng chỉ vì nỗi đau đớn thể xác đã làm tiêu tan ý chí của họ. Tôi tự cảnh cáo mình: mặc dù có phải đau đớn ê chề đến thế nào cũng vẫn phải giữ cho đầu óc tỉnh táo, sáng suốt.
Yêu cầu được ăn cháo của tôi đã cho “bọn người theo Mao” cơ hội để giảm khẩu phần lương thực của tôi. Mỗi bữa ăn họ chỉ đưa cho tôi một chút nước đục lờ đờ, lỏng le với vài hột gạo nổi lều bều. Và họ gọi đó là cháo. Sau một vài ngày ăn uống như vậy, tôi bị ngất xỉu đi. Chính mụ cai ngục “nhân từ” đã đi gọi bác sĩ cho tôi. Anh bác sĩ đến và chích thuốc glucose và bảo cai ngục chở tôi đi nhà thương. Tôi không biết mụ cai ngục “nhân từ” ấy đã nói gì với bác sĩ mà thấy bác sĩ đã viết phương thức điều trị ra thành lịnh, bởi vậy khi được đem về nhà tù số 1, tôi lại được tiếp tục cấp thuốc sulfa đều đều và cháo đặc hơn với một chút bánh mì hấp ở mỗi bữa ăn.
Tôi lại bị gọi lên phòng thẩm vấn. Điều tra viên bắt tôi đọc đi đọc lại ba lần chỉ thị mới nhất của Mao. Khi tôi đọc xong và ngồi xuống, hắn hỏi tôi:
- Mày có hiểu những gì Mao chủ tịch lãnh tụ vĩ đại đã dạy đó không?
- Tôi cho là mình đã hiểu.
- Mày hiểu như thế nào, nói nghe coi.
- Tôi cho là Mao chủ tịch muốn mọi người biết rằng cuộc Cách Mạng Văn hóa vô sản vĩ đại là một cuộc Cách Mạng chánh trị chớ không phải chỉ giới hạn trong phạm vi văn hóa.
- Đúng! Còn đoạn kế tiếp.
- Cuộc Cách Mạng Văn hóa là sự tiếp tục
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện