DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 8

Chương 8: Đảng và Phái

Cơn bệnh sưng phổi mà tôi trải qua mùa đông năm 1967 đã đánh dấu sự khởi đầu quá trình suy nhược cơ thể của tôi. Lâu ngày, thiếu thức ăn bổ dưỡng, thiếu ánh mặt trời và không khí trong lành đã khiến cho tôi không những không phục hồi được sức khỏe mà trái lại càng làm cho tôi mau già. Và nó cũng làm suy nhược cả năng lực tinh thần của tôi, đến nỗi tôi thấy khó mà tập trung được lâu sự chú ý một vấn đề. Sự suy nghĩ phân tích và lý luận đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của ý thức. Lúc đó tôi mới bắt đầu hiểu tại sao sự nghèo đói thiếu thốn triền miên đã khiến cho đôi mắt người ta có vẻ xa vắng, đờ đẫn chứ không tinh anh, đã làm cho cử động của người ta lờ đờ chậm chạp chứ không nhanh nhẹn. Tôi biết, tôi đang bắt đầu trải qua các triệu chứng suy kiệt về thể chất lẫn tinh thần, một triệu chứng sẽ dẫn tới tình trạng sụp đổ toàn diện. Cái viễn tưởng sẽ không còn khả năng suy nghĩ một cách sáng suốt nữa đã khiến tôi sợ hãi hơn là khi tôi thấy tóc mình rụng cả nùi hoặc chân răng chảy máu, và sụt cân. Hiệu ứng tâm lý của tình trạng bị biệt giam và cô lập cũng gây tai hại. Tôi thường có tâm trạng thất vọng. Tôi thường thấy khó nuốt được thức ăn mà người ta mang đến cho tôi, mặc dù trong bụng tôi rất đói.
Bên ngoài tường nhà tù, tình hình chung vẫn còn rất rối ren. Mặc dù quân đội đã nắm quyền kiểm soát, bạo động và các cuộc đánh lộn giữa các băng phái Vệ binh đỏ và các “tổ chức quần chúng Cách mạng” vẫn cứ diễn ra dài dài trong suốt cả năm 1968. Dường như Mao Trạch Đông đã không còn kiểm soát được các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và các “ông bà” Cách mạng sau khi đã thả lỏng cho bọn này phá phách theo ý đồ chính trị của mình. Chừng nào tình hình chính trị không ổn định thì kỷ luật trong nhà tù hoạt động cũng không bình thường. Dường như chẳng có ai quan tâm đúng mức để có thể giải quyết dứt khoát trường hợp của tôi. Tôi bị “bỏ quên” trong tình trạng chờ đợi trong xà lim. Trước đó, tôi chỉ mới nghĩ rằng tôi sẽ bị chết trước khi trường hợp của tôi được làm sáng tỏ, thì nay, với tình hình sức khỏe như thế này, nỗi lo xa đó đang trở thành sự thật.
Một hôm, cô gái tù cải tạo đem nước lại cho tôi. Chỉ bưng thau nước đi từ cửa sổ đến chỗ để thau nước, nghĩa là chỉ vài ba bước thế mà tôi đã thấy hết sức khó khăn và mệt nhọc. Tay tôi run lẩy bẩy. Tim tôi đập loạn. Hai chân loạng choạng, xiêu vẹo đến nỗi tôi phải đặt ngay thau nước xuống ngồi nghỉ. Trong lúc ngồi nghỉ tôi suy nghĩ, nếu muốn sống sót cho qua được “cơn” Cách mạng Văn hóa thì tôi phải nghiêm ngặt tuân thủ một thứ kỷ luật do chính tôi đặt ra. Đó là tôi phải tập vận động đều đặn cả về thể xác lẫn tinh thần. Quyết định đó làm tôi phấn khởi. Tôi đứng dậy một cách khá nhanh nhẹn. Nhưng tôi bỗng thấy mặt mày xây xẩm, phải ngồi thụp xuống ngay. Nhưng từ hôm đó về sau, mỗi ngày hai lần tôi tập các cử động cho tất cả mọi phần thân thể của tôi, từ đầu cho đến mười ngón chân. Lúc đầu tập như vậy làm cho tôi mệt lắm. Mỗi buổi tập tôi phải ngưng lại nhiều lần để nghỉ. Tôi cũng phải tránh con mắt soi mói của cai ngục. Bởi vì ngoại trừ đi đi lại lại vài phút sau bữa ăn, tất cả mọi sự tập thể dục khác đều bị cấm. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ thu xếp để tập cho được mỗi ngày. Và chỉ ít tháng sau tôi cảm thấy đã phục hồi được phần nào sức khỏe và cảm thấy dễ chịu hơn.
Để tập vận động tinh thần, trước hết tôi nhớ những luận điểm chính trị của Mao để tôi có thể nắm được cái tinh thần “học thuyết” của ông ta, đồng thời dùng những lời trích dẫn của ông ta một cách linh hoạt hơn khi tôi phải đối đáp với các điều tra viên. Tôi thích nhất các luận điểm của ông ta về chiến tranh du kích, theo đó ông chủ trương phải có sáng kiến để bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào cũng có thể chỉ với một số nhỏ quân du kích trang bị nghèo nàn mà vẫn gây được tổn thất cho quân địch trang bị tốt hơn, quân số đông hơn. Mao là một nhà độc tài rất đáng căm thù vì ông ta đã giết và bỏ tù hàng triệu hàng triệu người Trung Hoa qua các chiến dịch chính trị của ông ta. Đã nhiều lần, Mao đưa nền kinh tế Trung Hoa đến bờ vực thẳm của sự phá sản bằng những chính sách tàn phá ngu xuẩn của ông ta. Tuy nhiên, không thể không nhìn nhận ông ta là một tay kiệt xuất về chiến thuật du kích. Những hiểu biết của ông ta về chủ nghĩa Mác có thể là còn nông cạn, thô thiển. Nhưng, theo ý tôi, những bài viết của ông ta về du kích chiến phải là một công trình của bậc thầy về sự suy nghĩ rõ ràng, mạch lạc, dựa trên nền kinh nghiệm xương máu của quân đội Cộng sản Trung Hoa. Nhưng, suy nghĩ cho đến cùng, cứ mỗi ngày để ra nhiều giờ để nghiên cứu sách vở của Mao cũng là một điều làm cho tôi, nạn nhân của ông ta, phải chán nản, bực bội. Bởi vì, điều ấy đã nhắc cho tôi nhớ các quyền lực độc ác quỷ quái của ông ta đã “khuôn định” số phận của tôi và nhắc cho tôi nhớ sự bất lực của tôi khi muốn thắng vượt cái quyền lực độc ác ấy.
Để thay đổi, tôi không tập vận động bằng cách nghiên cứu sách vở của Mao nữa mà quay ra cố để nhớ lại những bài thơ Đường mà tôi đã học lúc còn là học sinh. Tôi thật sự kinh ngạc vì mình đã có thể đào sâu trong kí ức xa xăm của tôi và "moi" ra được những bài thơ mà tôi đã học từ mấy chục năm trước đó. Cố để nhớ lại một bài thơ nào đó đã là một công việc làm cho tôi say mê và vui thích. Mỗi khi tôi "moi" ra được toàn bộ một bài thơ nào đó, tôi cảm thấy sung sướng như vừa hoàn thành được một công trình. Những lời bất tử của các đại thi hào đời Đường chẳng những đã giúp tôi chứng tỏ rằng trí nhớ của tôi còn tốt, mà còn đem tôi - đang sống trong xà lim tăm tối này – đến một thế giới tươi đẹp và tự do. Tất nhiên là tươi đẹp tự do trong tâm tưởng.
Những nỗ lực kiên trì dể giữ cho tôi được lành mạnh – cả về thể xác lẫn tinh thần – đã đem lại kết quả tốt. Nhưng cũng có nhiều lúc – khi quá mệt mỏi vì đói khát khổ cực – tôi có ý định buông xuôi cho dòng đời đẩy đưa, muốn ra sao thì ra. Những lúc như vậy, tôi lại tìm cách "tranh chấp" với cai ngục để kết thúc và nuôi dưỡng chiến đấu tính của tôi.
"Báo cáo", tôi đi ra cửa xà lim và hét lớn lên như vậy.
- Mày muốn gì? - tiếng bước chân kéo lê tiến lại gần và tiếng hỏi mệt mỏi, lười biếng của cai ngục – "Đã nhiều lần tao bảo mày không được hét tướng lên vậy kia mà?"
- Sao tôi đợi lâu quá mà chính quyền không điều tra trường hợp của tôi vậy? Giam một người vô tội trong nhà tù là bất hợp pháp, là chống lại lời dạy của Mao Chủ tịch. - Thật ra trong cả bốn tập sách của Mao viết, có điều nào nói như vậy đâu, nhưng tôi biết chắc chắn là bọn cai ngục học hành chữ nghĩa như vậy thì hiểu sao thấu đáo được lời của Mao và cũng thì giờ đâu mà đọc được, nhớ được cả bốn tập sách đó.
- Xuỵt! Chớ có la lên như vậy! Lúc nào chính quyền thấy xét giải quyết được, người ta sẽ giải quyết, khỏi cần hối thúc. Không phải riêng một mình mày đâu.
- Nhưng mà tôi đã bị giam ở đây lâu quá rồi. Tôi muốn được gặp điều tra viên. - Không những tôi không nói nhỏ đi mà còn cố ý nói lớn hơn nữa.
- Nói nhỏ thôi! Không được la lên như vậy! Điều tra viên đang mắc bận!
Tôi biết thừa là lúc đó làm gì có điều tra viên nào làm việc. Mụ cũng biết là tôi biết như vậy, nhưng cả hai chúng tôi đều làm bộ lờ đi. Nhà tù rất im lặng. Do đó tiếng nói của tôi lại càng vang lớn hơn. Tôi cũng biết là những tù nhân khác cũng đang lắng nghe, vì họ có gì khác để làm đâu. Tôi cũng biết là họ lấy làm khoái chí vì sự thí mạng, bất chấp của tôi, cũng như tôi cảm thấy phấn khởi khi nghe thấy những tù nhân khác đủ can đảm để đối đáp lại bọn cai ngục, sự kiện đó đã củng cố mối quan hệ giữa họ và tôi. Tôi không còn cảm thấy trơ trọi, lẻ loi. Được cổ vũ bằng sự im lặng lắng nghe của họ, tôi như được tăng thêm sinh lực, mặc dù chỉ la hét sơ sơ như vậy mà tôi cũng thấy mệt.
- Tôi vô tội, – tôi tiếp tục nói lớn – tôi chẳng có tội gì hết, tôi chưa bao giờ làm điều gì để chống lại chính quyền nhân dân. Các ông không có quyền bắt giam một công dân thượng tôn pháp luật! Tôi đòi hỏi phải được phục hồi và xin lỗi. - Tôi còn la lớn hơn nữa.
- Mày khùng rồi đấy hả? Có câm mồm đi không nào? - Cai ngục cũng bắt đầu la lên và giận dữ.
- Tôi không có khùng! Chính cái kẻ ra lệnh bắt giam tôi, kẻ ấy mới là khùng!
- Mày muốn bị trừng phạt vì gây rối phải không?
Tôi nghe có tiếng nhiều bước chân dồn dập đi về phía xà lim của tôi. Một cai ngục khác nói:
- Nếu mày chưa phạm tội thì bây giờ mày đang phạm tội đấy. Mày đang phạm tội gây rối!
- Mao Chủ tịch lãnh tụ vĩ đại của chúng ta đã dạy: sắp đặt sự kiện, nói năng hợp lý. Tôi chỉ theo lời dạy của người. Tôi vô tội. Tôi chưa hề phạm tội gì. Tôi chỉ nói vậy thôi.
Và tôi đã vẫn lớn tiếng cãi lại bọn cai ngục như vậy.
- Ra đây.
Có tiếng mở khóa xà lim của tôi. Và tôi bị bọn cai ngục dẫn đến một cái buồng tuốt dưới góc xa của khu trại giam. Ở đó tôi và bọn cai ngục cứ việc lớn tiếng đối đáp với nhau mà tù nhân chẳng nghe thấy được. Tôi bị dẫn trở lại xà lim sau khi đã mệt nhoài không đủ sức để la lối nữa. Cũng có lần sự lì lợm của tôi đã làm cho bọn cai ngục mất bình tĩnh. Trong những trường hợp như vậy họ dùng bạo lực để bắt tôi im lặng, họ đánh vào người tôi, đá vào chân tôi. Họ gọi tôi là “con mẹ già khùng” và thường phàn nàn bực bội vì cái “thói điên” của tôi. Nhưng họ đâu có hiểu được cái ý đồ thực sự của tôi khi “khiêu khích” họ như vậy. Trong sáu năm rưỡi trời biệt giam cấm cố, nhiều lần tôi cố ý gây ra những cảnh như vậy. Cứ mỗi khi sự buồn bực lên đến mức khiến tôi không ăn ngủ được là tôi lại tìm cách “nổi khùng”.
Mặc dù cánh tay tôi bị bầm tím và chân tôi bị đau đớn vì bọn cai ngục dùng giày da để đá, để đạp, tôi cũng thấy vui vui và tâm hồn tôi cũng thấy bình tĩnh sau mỗi lần gây gổ với bọn cai ngục. Hễ khi nào thần kinh bị căng thẳng là tôi lại gây. Cứ mỗi lần như vậy xong, tâm hồn tôi lại thấy thư thái. Tôi tin rằng cái mà tôi cần là sự giao tiếp với người khác – dù chỉ là sự đấu trí với bọn cai ngục – chẳng thà như vậy còn hơn là vò võ, cô độc, lẻ loi. Ngoài ra đấu trí với bọn cai ngục cũng là một hoạt động tích cực, nó kích thích và an ủi tâm trí con người hơn là nhẫn nhục cắn răng chịu đựng sự cực khổ (mà người Trung Hoa coi là một đức hạnh). Nhiều người bạn và người quen của tôi nhờ đức hạnh này mà sống sót được sau những thử thách gay cấn, khốn khổ, khốn nạn của cuộc Cách mạng Văn hóa. Nhưng tôi, cái phao cứu sống tinh thần của tôi lại là những cuộc đấu trí và đấu tranh gay go cực khổ nhưng cũng rất kích thích.
Ngày 6 tháng 8, một ngày hè nóng bức lạ thường, báo chí đưa đến rất trễ. Tôi loáng thoáng nghe thấy gã cai ngục đem báo đến cho tù nhân nói rằng: “tin tức rất quan trọng” Tôi tự hỏi không hiểu là tin quan trọng gì. Mãi đến lúc tới giờ đi ngủ, báo mới được chuyển đến cho tôi.
Trên trang nhất, hàng tít in chữ lớn và bằng mực đỏ là chính cái tin ấy. Nếu không phải là người Trung Hoa đã sống trên đất nước Trung Hoa Cộng sản, đã quen với thứ “ngôn ngữ” của các ông Cộng sản Trung Hoa, đã biết cách “đọc” báo của cộng sản Trung Hoa thì không thể nào hiểu được cái tin ấy lại được coi là quan trọng, chạy tít chữ lớn ở trang nhất. Bởi vì, bài báo ấy chỉ loan tin ngày hôm trước đó, Mao Trạch Đông đã tặng một giỏ trái măng cụt cho công nhân và nông dân tham gia vào việc giáo dục chính trị cho sinh viên của đại học Thanh Hoa, một đại học nổi tiếng ở Bắc Kinh. Trái măng cụt ấy là quà biếu của ngài Bộ trưởng Ngoại giao nước Pakistan trong cuộc thăm viếng chính thức Bắc Kinh. Đấy cái tin quan trọng ấy có vẻ bề ngoài ngớ ngẩn đến độ kỳ cục, nếu ai không biết cách “đọc” báo của Cộng sản Trung Hoa. Bài báo đã mô tả nỗi vui mừng, phấn khởi của công nhân và nông dân khi nhận được quà tặng của Mao Chủ tịch. Họ hớn hở vui mừng và xúc động đến phát khóc vì lòng biết ơn của Mao Chủ tịch. Họ ca hát lên bằng những lời dạy của Mao và họ thề nguyện trung thành với Mao. Gớm khiếp!
Mặc dù, tôi không biết rằng mấy ngày trước đó Mao đã không dùng Hồng Vệ binh nữa khi ông ta cho gọi tất cả các thủ lãnh Vệ binh đỏ về Bắc Kinh để phê bình các hành vi bạo động của họ, tôi cũng thấy ngay là việc báo chí loan tin ầm ĩ một cách trang trọng hành vi ấy của Mao là một ý nghĩa chính trị. Chắc là công nhân và nông dân đã được đưa đến đại học Thanh Hoa – một đại học hàng đầu của Cộng sản Trung Hoa, nơi phát sinh đầu tiên của các “ông kẹ” Vệ binh đỏ hung hăng và ngỗ nghịch – để kiềm chế các “ông Cách mạng con nít” này. Tặng quà cho công nhân và nông dân, đó là lời cảnh cáo hùng hồn và rõ ràng cho các Vệ binh đỏ của đại học Thanh Hoa biết là chớ có dại dột chống lại các hành động kỷ luật của những người đã được sai đến để thuần hoá họ.
Vài ngày sau, báo chí lại đưa tin về sự mới ra đời của một tổ chức mang tên là “Đội Công nhân – Nông dân truyền bá tư tưởng Mao Trạch Đông”. Báo chí in hình những đội này đang tiến vào các trường đại và trung học. Mặc dù mang danh là tổ chức của công nhân và nông dân, những đội truyền bá tư tưởng này lại chẳng có ông bà nông dân nào, công nhân thì cũng có, nhưng rất ít. Chủ yếu, các ông ấy gồm các ông nhà binh mặc áo dân sự và các đảng viên được coi là trung thành với lãnh tụ của “phái theo Mao” như Giang Thanh và Bộ trưởng quốc phòng Lâm Bưu chẳng hạn.
Chế độ chuyên chính của Cộng sản Trung Hoa, tự bản chất, là một chế độ độc tài quân phiệt. Tuy nhiên, kể từ năm 1949 – nghĩa là từ khi nắm trọn quyền trên lục địa Trung Hoa – Đảng Cộng sản Trung Hoa đã luôn luôn cẩn thận giữ cho “khẩu súng” ở đằng sau hậu trường chính trị và bằng sự thuyết phục, họ cố tạo ra cái cảm tưởng chính quyền nhân dân là một chính quyền dân sự. “Giáo dục chính trị” là phương pháp thường được ưa dùng để lèo lái, uốn nắn ý chí của người dân. Chỉ trong những trường hợp cực đoan – như sự nổi dậy có võ trang của các dân tộc thiểu số ở các vùng xa xôi hẻo lánh chẳng hạn – thì quân đội mới được gọi tới để đàn áp. Dùng đội “Công Nông tuyên truyền” – nghĩa là một phương tiện “không phải là quân sự” (non military) thay vì dùng biện pháp nhanh hơn tức là phái quân đội đến – để đè bẹp sự kháng cự của các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và để tái lập trật tự, điều đó có nghĩa là một lần nữa Mao đã quan tâm kỹ đến việc cẩn thận gìn giữ cho chính quyền Cộng sản Trung Hoa cái hình ảnh của một chính quyền dân sự hiền hòa.
Trong khi các “ông kẹ” Hồng Vệ binh dẹp tiệm, các lãnh tụ phái theo Mao ở Bắc Kinh đã tiếp tục nỗ lực để tổ chức “Ủy ban Cách mạng” – tỉnh hoặc thành phố, và nhất là tổ chức Ban bí thư tỉnh hoặc thị bộ Đảng. Báo chí thường đăng những bài báo trình bày này được xúc tiến mau lẹ, tạo điều kiện thuận lợi cho Đại hội Đảng lần thứ 9. Qua đó, tôi nhận định rằng phái theo Mao tuy đã nắm được chính quyền, nhưng cũng vẫn lo lắng làm sao để họ có được một quy chế hợp pháp bằng cách được cử vào Ủy ban trung ương Đảng, nhất là vào bộ chính trị. Một quan tâm khác nữa của những lãnh tụ phái theo Mao là làm sao để khai trừ khỏi Đảng tất cả các cựu viên chức đảng đã bị hắt ra khỏi các chức vụ. Có như vậy – phe theo Mao khỏi lo sợ quyền lực của họ mới nắm được không bị các cựu đảng viên bị hất cẳng đe dọa.
Thời gian tiếp tục trôi đi. Và đã là mùa thu. Cứ thêm một ngày mưa thì nhiệt độ lại hạ thấp thêm. Tôi nghĩ rằng nhờ tuân thủ một chế độ tập luyện – cả thể xác lẫn tinh thần – nên tôi đã mau chóng chặn đứng được sự suy sụp sức khỏe. Bởi vậy khi có một cái gì đó mới và nguy hiểm xảy ra thì nó sẽ gây ra một xúc động nơi tôi. Kinh nguyệt của tôi hàng tháng đã làm cho tôi mất nhiều máu, hơn thường lệ bội phần. Kinh nguyệt ra nhiều, ra liên miên và kéo dài có tới mười ngày. Tôi bắt đầu lo sợ. Nhưng nhớ đến cái kinh nghiệm về ông “bác sĩ quân y” trẻ tuổi, tôi đã không dám xin khám bệnh. Một lần nữa lòng tôi lại nặng trĩu nỗi buồn chán, thất vọng và thường hay có ác mộng khiến tôi đang ngủ phải giật mình thức dậy, mồ hôi đầm đìa và thở dồn dập.
Một đêm vào khoảng tháng 10, trong lúc tôi đang phải vật lộn với vấn đề bệnh hoạn của tôi thì cai ngục đã đến từng xà lim cho biết phải im lặng để nghe phát thanh cho biết một tin “giật gân” là cuộc họp của Ủy ban trung ương Đảng do Mao chủ trì đã ra nghị quyết khai trừ Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, ra khỏi Đảng Cộng sản Trung Hoa, đồng thời truất hết mọi chức vụ của ông ta.
Lưu Thiếu Kỳ là một lãnh tụ lão thành của Đảng Cộng Sản Trung Hoa, là người thứ hai – đứng sau Mao – trong cấp bậc Đảng. Vào những năm thập niên 30, trong lúc Mao đang lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích ở núi Tỉnh Cương thì Lưu Thiếu Kỳ điều khiển lực lượng cộng sản ngầm ngay tại những vùng do Quốc Dân Đảng kiểm soát. Năm 1949, Mao kiêm hai chức vụ cùng một lúc là Chủ tịch Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Hoa và Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Lưu Thiếu Kỳ giữ chức vụ Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Hoa. Hai người hợp tác mật thiết và không có dấu hiệu gì cho thấy Lưu có ý định tiếm quyền của Mao. Chẳng những thế, kiểu nói “Tư tưởng Mao Trạch Đông” là một “sáng chế” của Lưu trong báo cáo của ông ta đọc với tư cách là Tổng bí thư tại Đại hội Đảng lần thứ 7, năm 1945. Tuy nhiên, năm 1960, sau “Bước đại nhảy vọt” của Mao đã đẩy Trung Hoa đến bờ vực thẳm của sự sụp đổ kinh tế, Mao đành phải nhả cái chức vụ Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cho Lưu Thiếu Kỳ. Nhân dân Trung Hoa xì xầm đồn đại với nhau rằng có sự tranh đấu gay gắt trong nội bộ lãnh đạo Đảng, và Mao đã bị hạ nhục bằng cách bị bắt buộc phải làm bản tự kiểm trước cuộc họp của trên bảy ngàn cán bộ lãnh đạo của Đảng.
Lưu Thiếu Kỳ lập tức chấp hành hàng loạt những biện pháp trái ngược với những biện pháp của thời kỳ “Đại nhảy vọt” để tức tốc chặn đứng đà suy thoái và cứu nền kinh tế Trung Hoa khỏi sụp đổ. Những chính sách kinh tế của Lưu đã thành công trong khi các chính sách của Mao thất bại thê thảm. Lưu đã được lòng của đa số đảng viên và của đông đảo quần chúng. Lưu đã làm mờ Mao, và có ảnh hưởng và quan trọng hơn Mao. Mao bắt đầu cảm thấy bị đe dọa địa vị của mình, vì chẳng những ông ta sợ mất hết tất cả những gì ông ta từng tin tưởng và dày công tu tạo mà còn mất luôn cả chỗ đứng của ông ta trong lịch sử.
Trong lúc diễn biến, đối với tùy từng người và tùy từng giai đoạn, cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản có khác nhau. Nhưng nội bộ vẫn chỉ là một. Đó là cuộc chiến đấu dai dẳng và khốc liệt giữa hai chính sách của Đảng được hiện thân nơi hai con người là Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Mao Trạch Đông đã hành hạ, ngược đãi Lưu Thiếu Kỳ cho đến chết và mặc dù dường như Mao đã thắng trong cuộc Cách mạng Văn hóa, nhưng sau khi Mao chết thì Đặng Tiểu Bình lại lãnh đạo Trung Hoa theo đường lối kinh tế tự do hóa mà Lưu Thiếu Kỳ đã khai sáng hai mươi năm trước đó, và còn đi xa hơn thế đến nỗi không có ai ở Trung Hoa và trên thế giới dám tưởng tượng ra trong lúc có cuộc Cách mạng Văn hóa.
Trong nghị quyết của Ủy ban Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Hoa, Lưu Thiếu Kỳ bị gán cho là “tên phản bội, tên tay sai bí mật, tên phá hoại”. Tuy nói thế, nhưng cũng không đưa ra bằng chứng nào để đảm bảo cho lời buộc tội. Và, cũng là một thủ tục đặc biệt của cộng sản Trung Hoa: nạn nhân không được quyền tự biện hộ. Hơn thế nữa, Lưu bị Ủy Ban Trung Ương Đảng chứ không phải là Đại hội Đảng khai trừ khỏi Đảng, như vậy cũng không hoàn toàn hợp lý. Nhưng, ngồi trên đỉnh quyền lực, Mao có thể bất chấp điểm tế nhị đó.
Sau khi công bố nghị quyết của Ủy Ban Trung Ương Đảng chống lại Lưu Thiếu Kỳ, guồng máy tuyên truyền của nhà nước được sử dụng để tố ông ta. Ngày ngày, trên báo chí, hết bài báo này đến bài báo kia hài “tội” Lưu Thiếu Kỳ. Đủ thứ tội nhưng “nội dung cơ bản” của những “tội” ấy là “chống lại các chính sách của lãnh tụ vĩ đại”. Báo chí cũng mô tả những cuộc biểu tình vĩ đại quần chúng trên khắp nước để nhân dân bày tỏ sự “ủng hộ mạnh mẽ và nhất trí” đối với nghị quyết của Trung Ương Đảng và lòng căm thù sâu sắc đối với Lưu Thiếu Kỳ. Tôi cho rằng mục tiêu sơ khởi của các báo chí do cánh cực đoan kiểm soát là hăm dọa và răn đe những kẻ có cảm tình với Lưu, bắt họ phải im lặng. Trong khi báo chí trên toàn quốc gây cho người ta cái cảm tưởng là cả nước Trung Hoa đều căm thù sâu sắc Lưu Thiếu Kỳ, tôi đã biết rằng không phải hoàn toàn là như vậy. Bởi vì, từ lâu tôi đã học được cách “đọc” báo của Cộng sản Trung Hoa cũng như nhiều đồng bào của tôi đã học được cách “đọc” báo ấy. Tôi biết rằng những công nhân viên chưa thuộc hạng “bá tánh”, nghĩa là không phải Đảng viên, đa số đều dửng dưng, chẳng có cảm tình đặc biệt với cả Mao lẫn Lưu. Trong khi đó, các Đảng viên – ngoại trừ một số rất nhỏ theo Mao – thì chắc chắn là rất bối rối bởi vì cuộc đấu tranh một mất một còn giữa hai băng phái trong nội bộ Đảng – đại biểu bằng Mao và Lưu – đã bộc lộ rõ cái bản chất xấu xa trong đường lối giải quyết vấn đề của Đảng.
Khi những cơn gió bấc lạnh lẽo từ phương bắc kéo về, rít lên qua khe cửa sổ, để lại những đám sương giá lạnh buốt trên các song cửa sắt, “Đội Công Nông tuyên truyền” đã đến nhà tù số 1 để hỗ trợ Ban kiểm soát quân sự tiến hành cuộc Cách mạng Văn hóa. Sự có mặt của đội này đã không được chính thức loan báo trên loa phóng thanh của nhà tù như khi nhà tù được đặt dưới quyền kiểm soát của ban kiểm soát quân sự. Tuy nhiên, khi được cho ra ngoài tập thể dục, tôi đã thấy các biểu ngữ dăng dọc ngang và những tờ giấy lớn đủ màu sắc ghi lời hoan hỉ chào đón “Đội Công nông tuyên truyền” dán la liệt trên tường. Đặc biệt, tiêu ngữ “Giai cấp công nhân phải nắm quyền lãnh đạo toàn diện và triệt để” – một khẩu hiệu của chính Karl Marx – đã được treo cao ở chỗ nổi bật nhất để chào đón đội truyền bá.
Vài tuần lễ sau đó, các cuộc hỏi cung lại được tiếp tục trở lại. Tôi nghe tiếng lịch kịch đóng mở then cửa xà lim để dẫn tù nhân và về sau khi bị lấy cung đã làm cho tôi vừa hy vọng vừa mong đợi. Tôi xin phép cai ngục được viết thư trần tình cho “Đội Công Nông tuyên truyền” của nhà tù. Tôi cũng nghĩ là xin thì xin chứ mụ cai ngục sẽ từ chối. Ai dè mụ đưa cho tôi xấp giấy, cây bút và bình mực. Tôi đã dùng những câu trích dẫn trong “Mao tuyển” – một thông lệ phải có của người viết để chứng tỏ quan điểm, lập trường chính trị của mình – để viết một bức thư lễ phép xin cứu xét trường hợp của tôi. Rải rác trong bức thư trần tình cũng có những luận điểm, lý chứng của các bài báo mới. Khi trao cho cai ngục bức thư trần tình, tôi hi vọng sẽ được hỏi cung sau một thời gian dài bị bỏ qua.
Một hôm, tôi bị xuất huyết tử cung dữ dội, ướt hết cả quần. Lúc tôi đang giặt thì mụ cai ngục mở cửa sổ dòm vào và nói:
- Mày bị làm sao vậy? Sao mà quần áo mày máu me đầm đìa thế kia?
- Tôi có kinh?
- Ra nhiều máu quá! Bình thường có vậy không?
Mụ mở cửa ra và đi vào trong xà lim. Cầu tiêu đầy giấy vệ sinh bê bết máu mà tôi đã dùng. Máu chảy ra nhiều đến nỗi dù đã dùng rất nhiều giấy vệ sinh mà vẫn còn ngấm ra cả quần áo của tôi.
- Tại sao mày không báo cáo tình hình? - Mụ hỏi vậy, hai mắt nhìn tôi chòng chọc một lúc, sau đó đi ra và khóa cửa lại.
Lát sau mụ dắt ông bác sĩ đến. Ông bác sĩ trước kia đã làm ở nhà tù này. Sau thời gian dài đi “lao động cải tạo” ở nông thôn nay được trở lại nhiệm sở.
Sau khi hỏi tình hình lượng máu bị chảy ra, thời gian xuất huyết nhiều như vậy xảy ra từ bao giờ, mỗi lần kéo dài bao lâu, tôi bao nhiêu tuổi… ông bác sĩ nói: “Có lẽ chị đến thời kỳ mãn kinh. Nhưng cũng có thể chị bị khối u, chị phải đi bác sĩ phụ sản khám mới được. Nhưng trong nhà tù này làm gì có bác sĩ như vậy. Tạm thời, tôi cứ chích cho chị để ngăn chặn xuất huyết gia bội cái đã”.
Những mũi thuốc chích đã có kết quả. Nhưng tôi vẫn lo ngay ngáy vì sợ có khối u và khối u này có thể là khối u ác tính. Hơn bao giờ hết, tôi lại sợ bị đuổi ra khỏi nhà tù số 1.
Tháng giêng năm 1969, thời tiết khắc nghiệt, lạnh căm căm. Cuộc thẩm vấn cuối cùng của tôi xảy ra cũng đã cách đó hơn hai năm và nay mọi sự đang bắt đầu hoạt động trở lại.
Tôi đang ngồi co ro trên giường, cuốn sách Mao tuyển đặt trên đầu gối thì cánh cửa xà lim mở ra. Hai cô gái tù cải tạo lao động bước vào xà lim của tôi. Đằng sau họ là mụ cai ngục đã lục soát xà lim của tôi đứng trấn ngay ở cửa ra vào, hai tay chống nạnh đứng nhìn. Một mụ cai ngục khác đứng đằng sau. Hai cô gái tù cải tạo lao động thu dọn tất cả đồ đạc của tôi, cả những thứ để trên hai cái giường bỏ không chồng lên nhau và đem ra để ngoài cửa. Rồi họ khiêng một cái giường kê cho quay ra cửa sổ.
- Nhặt đồ đạc lên. Thế mày đợi mấy người đầy tớ già của mày đến lượm lên hầu mày sao? - Mụ cai ngục nói lớn bằng một giọng mỉa mai như vậy.
Trong lúc tôi đang lui cui dọn đồ và đặt lên cái giường còn lại thì hai cô gái tù cải tạo đem đến một cái thau và những thứ khác đi vào xà lim. Một tù nhân khoảng chưa đến ba mươi tuổi cũng theo họ đi vào. Người tù mới này cũng ôm theo đồ dùng cá nhân của mình và cúi đầu chậm chạp đi vào cứ y như những cung cách mà mọi tù nhân phải có.
Hai cô gái tù cải tạo cùng với cai ngục đi ra, khóa cửa, để người tù mới ở lại với tôi trong xà lim.
Sau một thời gian dài bị biệt giam, tôi khao khát được tiếp xúc với người khác cũng như những người bị lạc trong sa mạc khát nước. Nhưng phản ứng đầu tiên của tôi đối với người tù mới đến là phải cảnh giác, tinh thần sáng suốt nhưng cũng sẵn sàng tỏ ra thân thiện đối với cô ta. Nhưng sự cảnh giác đối với cái thói ưa sử dụng những thủ đoạn quỷ quyệt của những người theo Mao cũng khiến tôi chớ nên phán đoán giá trị dựa trên hình thức bên ngoài. Tôi quay trở về giường của tôi và cúi đầu xuống giả bộ đọc sách trong khi tôi cũng cố đoán chừng những bất ngờ có thể sắp xảy ra. Từ khi ban kiểm soát quân sự quản lý nhà tù và từ khi cuộc Cách mạng Văn hóa bước sang giai đoạn mới thì những công việc trong nhà tù này xem ra lơ là. Không có những đợt lớn tù nhân được đưa thêm vào. Thật ra tôi dự đoán số lượng tù mới nhập có ít đi là do căn cứ vào tiếng chân của người đi trên lầu trong lúc ra ngoài tập thể dục. Vì vậy, việc đưa thêm một tù nhân mới vào xà lim của tôi không phải là do quá đông tù nhân mới nhập. Tôi chờ đợi những biến cố mới.
Người tù mới đến lo sắp xếp đồ đạc trên giường của mình nhưng thỉnh thoảng cô ta cũng lén liếc nhìn về phía tôi, hy vọng sẽ bắt gặp cái nhìn của tôi.
- Chị bị giam ở đây lâu chưa? – cô ta bắt đầu gợi chuyện làm quen – ở đây có tệ lắm không? - Cô ta ghé ngồi lên giường tôi, thì thào tuôn ra những chuỗi câu hỏi như vậy.
Tôi ngạc nhiên vì cái ẩn ý trong những nhận xét của cô ấy. Thật vụng về, lộ liễu một cách thô thiển. Tuy cô ta nom chẳng có vẻ gì của một người mới bị bắt và được ăn uống đầy đủ. Nét mặt của cô ta nom cũng xanh xao, ốm yếu, đúng với đặc điểm của người tù bị giam nhốt khá lâu. Tóc cô ta xơ xác, vàng khè và khô cứng vì ăn uống thiếu chất protêin. Quần áo trên người cô ta cũng rách bươm, y như quần áo của tôi. Cô ta nhìn tôi bằng đôi mắt lờ đờ và có vẻ sợ sệt.
- Đừng nói chuyện, bị cấm đấy! - Tôi nói với cô ta, mắt liếc nhanh ra cửa và thấy con mắt đen nhánh nhìn qua lỗ khóa và con mắt ấy bị vụt biến đi. Thật là lạ khi cai ngục không mở cửa sổ để lên tiếng la rầy khi nhìn thấy cô ta ghé ngồi vào giường tôi. Khi chúng tôi được cung cấp bữa ăn chiều, cô ta đã ăn phần khoai của cô ta thật là nhanh. Nhìn thấy tôi chỉ lấy vài lát khoai trong cái ca để ăn, cô ta đã hốt phần còn lại và ăn hết. Cô ta vừa ăn vừa nói thì thầm “mình đừng có để phí lương thực”.
Trong khi tôi không phản đối việc cô ta đã hốt hết phần khoai của tôi, điều đó khiến tôi chẳng còn phải nghi ngờ gì việc cô ta cũng đang bị bắt giam và bị giam cũng đã khá lâu chứ không phải là mới đây như qua những câu hỏi lúc mới đầu cô ta hỏi tôi. Bởi vì cô ta cũng đói quá. Nếu không quen với những cung cách thủ tục của nhà tù thì tôi cũng phải nghi ngờ ngay lập tức người tù mới được đưa tới này. Nhưng qua nhiều năm tù, tôi hiểu ra rằng một trong những quy cách của công an là không bao giờ nhốt hai người tù trong một xà lim. Con số tối thiểu cho một số đông tù trong một xà lim là con số 3. Bởi vì nhà cầm quyền trong nhà tù tin rằng 3 người thì khó âm mưu thông đồng với nhau hơn là 2 người. Tôi ngồi trên giường rồi xem cô ta sắp giở trò gì nữa. Nhưng ngoài việc hỏi xin xà bông và giấy vệ sinh ra, cô ta không gạ gẫm trò chuyện với tôi nữa. Sáng hôm sau, sau giờ phát thanh, cô ta lại đến ngồi lên giường cạnh bên tôi.
- Em không biết chị sao chứ em ghét cái Cách mạng Văn hóa này kinh khủng. Chị có ghét không? Nhà cửa của em bị lũ ôn dịch Vệ binh đỏ phá nát, cướp sạch. Nhà chị có bị tụi nó cướp phá không?
Qua máy phóng thanh của nhà tù, tôi thường được nghe nhiều người bị kết án tù dài hạn vì đã phê bình Cách mạng Văn hóa và các hành động của các “ông kẹ” Vệ binh đỏ. Tôi cũng biết sự phê bình như vậy bị coi là xúc phạm nặng. Chắc chắn cô ta sẽ chẳng dám bộc lộ ý nghĩ và tình cảm về Vệ binh đỏ một cách dễ dàng như vậy trừ phi cô ta đã được bọn cai ngục hoặc điều tra viên bảo làm để có thể mau chóng được sự đồng tình của tôi. Bởi vậy tôi đã trả lời cô ta:
- Cô chớ nên kêu ca, oán trách. Sao cô không đọc sách của Mao Chủ tịch đi có phải hơn là ngồi đó mà nói lung tung không? Nếu cai ngục thấy mình ngồi nói chuyện với nhau như thế này là bị phạt đó.
Tôi nhìn quanh xà lim và phát hiện ra là tuy cô ta có đem theo đồ dùng cá nhân nhưng lại không có cuốn Mao tuyển. Kể từ lúc khởi đầu cuộc Cách mạng Văn hóa, cuốn “Mao tuyển” đã trở thành một thành phần quan trọng của mỗi người dân Trung Hoa, quan trọng không thua gì cái áo cái quần. Bởi vì có hay không có “Mao tuyển” được coi là đáng hay không đáng tin cậy về mặt chính trị. Ngoài ra, tôi nhớ rằng một trong những qui định của nhà tù số 1 mà tôi đã được nhắc đọc ngay khi đặt chân đến đây – lúc vừa làm thủ tục nhập trại – là “mọi tù nhân phải học tập theo sách Mao tuyển”. Như vậy, làm sao cô này lại có thể vào ở tù nơi đây mà lại không có sách đó. Lý do thứ nhất để giải thích là cô ta bị chuyển vội vã từ một xà lim khác sang xà lim tôi, do đó chưa kịp gom hết đồ đạc cá nhân. Có lẽ vì vậy cô ta đã phải dùng xà bông và giấy vệ sinh của tôi.
- Sách Mao tuyển của cô đâu? - Tôi hỏi – Họ không bắt cô đem theo khi họ bắt giam cô à? Làm sao họ có thể bỏ qua được một điều như vậy nhỉ?
Mặt cô ta đỏ bừng lên. Tôi đề nghị cho cô ta mượn cuốn của tôi nhưng cô ta từ chối.
- Em không muốn đọc sách của lão. Em ghét, em hận lão ta lắm. Lão ta đã phá nhà cửa của em. Em nghĩ là Quốc Dân Đảng họ đối xử còn tốt hơn Đảng Cộng sản này nhiều. Chị thấy vậy không?
Do bản năng, tôi đưa mắt nhìn về khe cửa. Không có ai đang rình chúng tôi, nhìn trộm chúng tôi. Ca ngợi Quốc Dân Đảng là một tội rất nặng. Vì vậy tôi lại càng tin rằng cô ta đã được bọn cai ngục cài vào đây để bẫy tôi. Có lẽ vì bọn người theo Mao muốn kết tội tôi quá mà chưa tìm ra được cái cớ nào để cáo buộc tôi. Bởi vậy, tôi nói: “Ấy chết, cô đừng có nói bậy như vậy. Tôi có thể báo cáo về cô đấy, cô biết không?”
Nhưng cô ta làm như không thèm để ý đến lời cảnh cáo của tôi mà cứ cố để làm cho tôi nói chuyện. Cô ta tiếp tục nói:
- Trước năm 1949, chị không sống ở Thượng Hải này sao? Quốc Dân Đảng lại không khá hơn thật sao?
Tôi đáp: - Tôi có biết gì về đời sống ở đây vào thời kỳ trước 1949 đâu. Lúc đó tôi đang ở nước ngoài.
- Thế thì may cho chị, chị đã được sống ở nước ngoài! Em ghét sống ở Thượng Hải, dưới chế độ Cộng sản này lắm. Mình không có tự do gì hết. Chị không ghét tụi cộng sản này sao?
- Tôi là tín đồ đạo Thiên Chúa. Đạo dạy phải yêu mọi người chứ không được ghét bất cứ ai. Thậm chí chúng ta còn phải tha thứ cho những người đã làm hại ta nữa.
Tôi thấy cô ta có vẻ hoài nghi tôi có thể tha thứ cho người ta đã làm hại tôi và tôi thấy cô ta mỉm cười một cách kiêu kỳ và diễu cợt. Rồi có lẽ để gây tín nhiệm với tôi, đột nhiên cô ta nói.
- Em cũng là tín đồ đạo Thiên Chúa!
- Thế thì hay quá! Nào chúng ta cùng nhau đọc kinh “lạy cha” nhé, - và tôi cất tiếng đọc – “Lạy cha chúng con ở trên trời…” Tôi ngừng và cô ta không đọc tiếp được.
- Cô đừng giả làm “con chiên” khi cô không phải. Nhưng, không sao, tôi sẽ dạy cô bài cầu nguyện ấy.
Cô ta lắc đầu, bỏ qua cơ hội báo cáo về tội tuyên truyền tôn giáo. Tôi nhận thấy cô ta không đủ thông minh để biết rằng “những người theo Mao” sai cô đến đây chắc cũng hài lòng nếu bắt được tôi dạy cho cô bài kinh “lạy cha” như là khi bắt được tôi nói những điều xúc phạm Đảng Cộng sản. Ngay cả trước khi có cuộc Cách mạng Văn hóa, Đảng Cộng sản rêu rao là Nhân dân Trung Hoa được tự do tôn giáo, nghĩa là được truyền giáo và thi hành các lễ nghi tôn giáo, nhưng trên thực tế thì việc truyền giáo và hành giáo bị cấm một cách triệt để. Khi cuộc Cách mạng Văn hóa khởi sự, hình phạt rất nghiêm khắc cho bất cứ sự thực hành hình thức tôn giáo nào. Hành động đầu tiên của các “ông kẹ” Vệ binh đỏ là phá nát đền chùa, nhà thờ và hành hạ ngược đãi tăng ni giáo sĩ.
Đến chiều, cũng vẫn mụ cai ngục có giọng nói gắt gỏng mở cửa xà lim và gọi người tù cùng ra xà lim với tôi “đi ra để thẩm vấn”.
Tôi băn khoăn chờ xem cái gì khi họ thấy cô ta đã không tìm được cách để cáo tội tôi. Khoảng hai giờ sau, cô ta trở về lau nước mắt như thể cô ta vừa khóc. Mỗi khi nhìn thấy nước mắt của một người - bất cứ là ai – lòng tôi đều xốn xang, bứt rứt, buồn khổ. Tôi buồn khi cô ta phải đau khổ vì không dụ tôi vào cái bẫy của họ. Nhưng tôi cũng kịp dằn lại không tìm cách an ủi cô ta vì tôi không muốn tạo ra cho cô ta cái cơ hội lừa cho tôi nói một điều gì đó hớ hênh. Tôi chờ xem cô ta giở trò gì nữa. Nhưng tôi ngạc nhiên khi cô ta không quan tâm đến việc gạ chuyện với tôi. Suốt ngày hôm qua, cô ta cũng không tìm cách gạ chuyện với tôi mà cứ thẫn thờ đăm đắm nhìn ra cửa sổ như chìm đắm trong suy tư. Tuy nhiên có nhiều lúc dường như cô nghĩ tôi đang chăm chú đọc sách nên cô ta đã nhìn về phía tôi và tôi đã bắt gặp được cái nhìn lén lút ấy.
Đến chiều tối cô lại bị gọi thẩm vấn lần nữa. Và một lần nữa, cô trở về xà lim nước mắt đầm đìa. Cứ như vậy ba ngày liên tiếp, sang ngày thứ tư cô ta không trở về xà lim nữa. Khi đem bữa ăn chiều, người đàn bà nấu bếp chỉ dọn một phần khoai cho tôi. Tôi hỏi chị ta về người tù cùng xà lim với tôi, chị ta chỉ lặng lẽ lắc đầu. Tuy nhiên tôi cũng vẫn để dành một ít khoai của tôi lại cho cô ta trong cái ca của tôi.
Tiếng máy phát thanh lại vang lên. Có hai người cai ngục đến tận xà lim của tôi để đảm bảo chắc chắn rằng tôi đã ngồi lắng nghe phát thanh. Máy phóng thanh công bố một số bản án đã được công bố, trong đó có bản án tử hình “được thi hành ngay tức khắc” người tù bị kết án tử hình mang số tù của chính cô gái đã được cài vào xà lim với tôi mấy hôm nay. Bản thông báo cho biết cô ta là gián điệp cho đế quốc và Quốc Dân Đảng “được cài lại“ từ lâu nhưng không bị phát hiện cho mãi đến khi có cuộc Cách mạng Văn hóa thì các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và các “các ông bà” cách mạng đã “moi” ra được. Cô ta đã được dành cho cơ hội để thú tội và được đối xử khoan hồng. Nhưng cô ta đã ngoan cố không chịu thú tội vì tưởng là có thể qua mặt “được con mắt của cách mạng”. Do đó, cô ta bị bàn tay sắt của nền chuyên chính vô sản trừng trị, “nghiền nát ra thành bột”.
Phản ứng đầu tiên của tôi là sự xúc động. Lời loan báo án tử hình nào cũng làm cho người ta phải hãi hùng. Tôi ngẩng đầu và bắt gặp ngay cặp mắt đang dán vào khe cửa để quan sát tôi. Như một tia chớp, tôi hiểu ra ngay là cô gái kia chẳng phải là gián điệp cho ai hết và cô ta cũng chẳng bị buộc tội nào hết. Nếu tôi tỏ ra sợ hãi khi nghe án tử hình cô ta thì “những người theo Mao” sẽ diễn dịch ra đó là dấu hiệu tôi có phạm tội. Tôi cứ đăm đăm nhìn thẳng ra cửa làm như đang chăm chú nghe phát thanh trong khi cố tìm một thế dựa vào tường cho thoải mái. Buổi phát thanh chấm dứt. Mụ cai ngục mở cửa sổ, gọi tôi lại gần và hỏi:
- Mày có nghe rõ bản án tử hình này rồi đấy chứ?
- Dạ, nghe!
- Mày nghĩ thế nào về bản án tử hình dành cho con nhỏ vừa giam chung với mày?
- Cô ta là gián điệp cho đế quốc và Đảng Quốc Dân, vậy tử hình là đúng!
- Mày không thấy số phận của nó cũng có liên can đến cái tội như của chính mày sao?
- Tôi chẳng liên can gì cả. Cô ta là gián điệp, còn tôi thì không. Tôi hy vọng chính quyền nhân dân sẽ làm sáng tỏ trường hợp của tôi, phục hồi mọi quyền lợi công dân của tôi đúng lúc.
- Mày không thực tế chút nào!
- Tôi không đồng ý. Tin tưởng vào chính quyền nhân dân sao gọi là không thực tế?
Mụ đóng cửa sổ nhỏ lại nhưng vẫn cứ đứng dòm qua khe cửa để quan sát tôi. Tôi cầm quyển sách lên, ngồi vào giường và lặng lẽ đọc sách.
Ngay trước lúc đi ngủ, một mụ “lính cái” tới, mở cửa xà lim ra. Cô gái tù cải tạo đi vào và dọn hết đồ đạc của người tù giam cùng phòng với tôi đi. Hai cái giường trống lại được chồng lên nhau. Điều đó chứng tỏ là tù nhân bị giam cùng xà lim với tôi bị
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện