DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 5

PHẦN II: NHÀ TÙ

Chương 5: Biệt Giam

Thông thường cứ 9 giờ tối thì đường phố ở Thượng Hải đã vắng người. Nhưng lúc đó lại là một biển người. Dưới bầu trời thu trong vắt, làn gió thổi mát lạnh, hàng ngàn hàng ngàn người đổ xô ra đường để xem các hoạt động ngày càng nhộn nhịp của Hồng vệ binh. Trên những”sân khấu” sơ sài dựng tạm khắp nơi, các “ông” cách mạng trẻ tuổi đã hùng hồn kêu gọi nhân dân hãy tham gia cách mạng, hoặc đang tổ chức một cuộc đấu tố ở quy mô nhỏ những người mà chúng bắt bừa bãi trên đường phố vì không mang trong mình cuốn “sách đỏ” (trích những “lời dạy” của Mao) hoặc chỉ vì mặc những kiểu quần áo chúng không ưa. Đằng trước một số tư gia và chung cư sang trọng, khói bốc lên nghi ngút, chắc các “ông bà” Vệ binh đỏ và các “ông bà Cách mạng” đang đốt sách. Bất cứ sách gì.
Những xe chứa đầy đồ đạc tịch thu của các gia đình tư sản đậu dài dài bên lề đường, sẵn sàng chở đi. Những đám đông chen chúc nhau, đi ngược đi xuôi, tứ tung khiến đường sá nghẹt cứng. Xe cộ – nhất là xe buýt – chỉ có thể nhích từng chút. Đời sống hàng ngày của thành phố đã bị ngưng đọng để nhường chỗ cho các hoạt động của Cách mạng Văn hóa đang mở rộng mục tiêu và gia tăng cường độ.
Loa phóng thanh ở góc phố ông ổng tuôn ra những bài hát cách mạng mới được sáng tác. Chẳng hạn bài “Chủ nghĩa Mác được tóm gọn trong một câu: cách mạng biện chính cho mọi sự” – “Muốn vượt biển, ta phải nhờ người hoa tiêu, muốn tiến hành cách mạng ta phải dựa vào tư tưởng Mao Trạch Đông” – “Tư tưởng Mao Trạch Đông tỏa sáng chói lọi”. Nếu chỉ nghe điệu nhạc quân hành mà đừng nghe thấy lời của bài ca, nếu chỉ nhìn thấy đám đông vần vũ trên đường mà đừng nhìn thấy những nạn nhân và những Vệ binh đỏ thì người ta sẽ tưởng đó là quang cảnh buổi hội chợ mùa thu được tổ chức cho nhân dân vui chơi giải trí, chứ không phải là một chiến dịch chính trị chứa đầy những hành động tàn bạo và những lời lẽ ác độc nhằm kích mọi người ngờ vực lẫn nhau, các tầng lớp nhân dân thù hận lẫn nhau.
Cả tinh thần lẫn thể xác tôi như bị tê liệt bởi quá mệt do những cố gắng và căng thẳng liên tục kéo dài, vì không những trong mấy tiếng đồng hồ bị đấu tố mà còn bị những biến cố đã diễn ra trong hai tháng rưỡi trời. Tôi không nghĩ đến chỗ mà tôi sắp bị chở tới, nói đúng ra tôi không còn có thể suy nghĩ gì được nữa. Nhưng tôi cảm thấy căm phẫn, tức giận vì cách người ta đối xử với tôi. Bởi, tôi không hề làm điều gì chống lại đất nước tôi, thật quá ngô nghê, thô thiển, đến nỗi tôi không phải nghĩ rằng đó chỉ là những cái cớ họ đưa ra để trừng phạt tôi, chỉ vì tôi dám sống một cách đàng hoàng khá giả. Rõ ràng, tôi là nạn nhân của cuộc đấu đá. Đúng như lời cô bạn Winnie của tôi đã nói, chỉ vì hãng Shell đã đóng cửa văn phòng chi nhánh Thượng Hải cho nên những người theo Mao trong số các quan chức Đảng ở Thượng Hải tin rằng họ có thể bắt tôi hạ thấp mức sống xuống cho ngang với đám quần chúng.
Mỗi khi chiếc xe cảnh sát chở tôi phải ngừng lại vì nghẹt đường thì đám đông tò mò lại chen chúc nhau bu quanh xe để dòm “kẻ thù giai cấp” trong xe. Trong số đó có những người hoan hô thắng lợi của giai cấp vô sản bằng cách tố cáo thêm những “kẻ thù” khác nữa, một số khác chỉ tò mò nhìn. Một số ít tỏ ra lo lắng, hoặc ái ngại và đã quay ngoắt đi khi phải chứng kiến cái cảnh ngộ bất hạnh đau buồn của đồng loại. Bị tù ở Trung Hoa, dưới chế độ Mao Trạch Đông, không phải như bị tù ở các nước dân chủ. Người bị đưa vào tù đương nhiên bị coi là có tội, cho đến khi chính họ tự chứng minh là vô tội. Bị cáo có thể bị xét xử không phải vì những hành động chính mình đã làm. Đám mây nghi ngờ luôn luôn lơ lửng trên đầu những người bị gán cho là thuộc giai cấp “tội lỗi”. Hơn thế nữa đã có lần Mao nói là có từ 3 đến 5 phần trăm dân số là kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội. Để chứng tỏ là ông ta đúng thì trong mỗi chiến dịch chính trị, ở mỗi cơ quan, nhà máy, các trường học… phải moi cho ra những “tội phạm” hoặc “có tư tưởng lạc đạo” trái với tư tưởng Mao Trạch Đông và phải đạt chỉ tiêu 3 đến 5 phần trăm. Những người bị gán cho là “tội phạm” hoặc “lạc đạo” này, một số sẽ bị đưa vào trại cải tạo lao động cưỡng bách, một số bị tù đày.
Trong những trường hợp này, oan khiên là chuyện rất phổ biến. Đi tù ở Trung Hoa không còn bị coi là đáng hổ thẹn. Bởi đâu có phải bị sa đọa tinh thần hay bị vi phạm luật mà đi tù. Chỉ cần bị “ông” nhà nước nghi ngờ về một tội gì đó thì cũng đủ để bị ở tù rồi. Những người gặp số phận hẩm hiu ở Trung Hoa cộng sản đã nhìn những tù chính trị với rất nhiều cảm tình.
Kể từ lúc tôi bị dính vào cuộc Cách mạng Văn hóa hồi đầu tháng 7 và quyết định không thú tội ẩu, tôi đã không loại trừ việc tôi có thể bị tù. Tôi biết có nhiều người, kể cả những Đảng viên dày dạn kinh nghiệm và thành tích đã vì bị làm áp lực mà long trọng thú tội ẩu với hy vọng tránh khỏi đối đầu với Đảng hoặc giảm được sự phục hồi. Nhưng đa số thì không. Trong những trại cải tạo bằng lao động ở những nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt như ở Thanh Hải và Cam Túc, có nhiều người đàn ông đàn bà vô tội đã bị đày ở đó, chỉ vì họ thú nhận những tội mà họ không bao giờ phạm. Theo tôi nghĩ, thú nhận những tội lỗi mình không phạm là điên khùng. Cách hợp lý nhất và khôn ngoan nhất là đương đầu với sự hành hạ mà mình phải chịu.
Xem xét lại tình trạng của tôi, tôi hiểu là giai đoạn sơ khởi của cuộc hành hạ tôi đã qua. Bất kể những gì đã xảy ra, tôi cũng sẽ phải tăng cường nỗ lực để vô hiệu hóa các ý đồ của những kẻ ngược đãi tôi, hòng buộc cho tôi những tội không phạm. Bao lâu họ chưa giết chết tôi, tôi còn đương cự. Bởi vậy, khi ngồi trong xe jeep, tôi không sợ hãi cũng không chịu khuất phục, trái lại, kiên định hơn.
Khi chiếc xe chạy đến khu vực công nghiệp thành phố, đường sá lại đông nghẹt người hơn, khiến xe phải chạy rất chậm, đôi lúc phải dừng lại. “Ông mang – kính – râm” bảo người tài xế bật còi hụ. Tiếng rú trầm bổng, gay gắt, hối hả rú lên rền vang vừa gây kinh ngạc vừa nghe tức cười, đã át cả tiếng hát cách mạng từ các loa phóng thanh, át cả tiếng ồn khác ngoài đường phố. Mọi người vừa tránh đường cho xe chạy vừa quay ra nhìn chiếc xe. Không gặp trở ngại gì nữa, chiếc xe tăng tốc chạy nhanh qua các đường phố. Chẳng mấy chốc, chiếc xe jeep đã ngừng lại trước cánh cửa sắt đen ngòm, có lính cầm súng gắn lưỡi lê sáng loáng đứng gác. Ở một bên mé cổng có tấm bảng gỗ sơn trắng, viết chữ đen: “Nhà giam số 1”.
Cánh cửa mở ra cho xe chạy vào. Bên trong tối om. Nhưng nhờ ánh đèn pha của chiếc xe, tôi thấy hai hàng liễu mọc hai bên đường. Con đường lượn từ từ về phía bên phải. Một bên là sân bóng rổ, bên kia là một bãi rộng có những hình nhân cột vào các cây cọc. Mãi về sau này, khi được chở đi bệnh viện, tôi mới được nhìn thấy những hình nhân này lúc ban ngày và hiểu ra đó là bãi tập bắn của lính gác tù.
Tôi biết “nhà giam số 1” là nơi giam giữ sơ khởi các tù chính trị của Thượng Hải. Nhà giam đã từng “hân hạnh” đón tiếp những vị giám mục công giáo, nhiều quan chức cao cấp của Quốc Dân Đảng, nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi… Điều mỉa mai là nhà tù này không phải do Cộng sản lập nên, mà là do chính quyền Quốc Dân Đảng lập nên để giam giữ các Đảng viên và những người có cảm tình với Cộng sản.
Nhà giam các tù nhân chính trị là một khía cạnh bất cứ chính thể nào. Từ trước cho đến lúc đó (lúc tôi bị đưa vào tù), tôi chỉ là kẻ bàng quan ngồi tại ngôi nhà đầy đủ tiện nghi của mình để nghiên cứu chế độ Cộng sản Trung Hoa. Nhưng lúc này, tôi ở một vị thế thuận lợi hơn – tiếp cận và không còn là kẻ bàng quan, mà là nạn nhân – để nghiên cứu chế độ ấy. Điều trớ trêu là cái khung cảnh nhà tù lúc ấy đã kích thích trí tò mò và làm cho tôi tạm quên những giây lát nguy hiểm của tôi.
Chiếc xe vượt qua một cổng sắt nữa, qua trại lính gác tù rồi ngừng lại trong sân trước mặt ngôi nhà. Hai người trên xe bước xuống, đi vào trong nhà. Một mụ coi ngục đội mũ kaki có gắn quốc huy màu đỏ giữa trán, đến dẫn tôi vào một phòng trống. Tại đó có một mụ cai ngục nữa cũng đồng phục kaki đứng chờ. Mụ mở khóa còng và nói với tôi: “Cởi quần áo ra”.
Tôi cởi quần áo ra và đặt lên bàn, một bộ đồ duy nhất. Hai mụ cai ngục khám quần áo tôi rất kỹ. Trong túi quần có một bì thư đựng 400đ mà tôi định cho người làm vườn nhưng chưa kịp trao.
- Làm gì mà mày đem nhiều tiền quá vậy? - Một mụ hỏi.
- Tôi định cho người làm vườn của tôi. Tôi chờ ông ta tới nhà lấy nhưng ông ta chưa đến thì thình lình tôi bị bắt đi. Có thể có ai dám đem đến cho ông ấy dùm tôi được không?
Mụ trao lại quần áo cho tôi, trừ cái nịt vú, một món y phục mà những người theo Mao coi như là dấu hiệu của sự suy đồi vì ảnh hưởng phương Tây. Mặc quần áo vào rồi, tôi được mụ cai ngục dẫn qua một hành lang ánh sáng lờ mờ đến một căn phòng khác.
Một người đàn ông – mặt mày và dáng điệu có vẻ người nhà quê miền Bắc Trung Hoa - ngồi đằng sau một cái quầy, dưới bóng đèn treo lủng lẳng phía trên. Mụ cai ngục chỉ vào cái ghế đặt hơi cách xa phía quầy và bảo tôi ngồi xuống đó. Ông ta ngẩng đầu lên, nhìn tôi. Rồi bằng giọng điềm đạm, nhẹ nhàng đáng ngạc nhiên, ông ta hỏi tôi tên, tuổi, địa chỉ.
Và ghi tất cả chi tiết ấy vào một cuốn sổ, ông ta viết chậm chạp, kỹ lưỡng như thể đếm từng nét. Rõ ràng là ông ta ít học. Nhưng điều đó không làm cho tôi đáng ngạc nhiên. Bởi vì tôi biết rằng Đảng Cộng sản Trung Hoa cắt đặt công tác cho một người không phải trên cơ sở học vấn mà là trên cơ sở mức độ đáng tin cậy của người đó về mặt chính trị. Viết xong, ông ta nói với tôi:
- Khi nào chị còn ở đây thì chị được gọi bằng số, chứ không bằng tên của chị nữa. Chị hiểu chưa?
Tôi gật đầu. Một anh chàng thanh niên mang theo máy ảnh đi vào. Anh ta nói với tôi: “Đứng dậy”. Anh ta chụp ảnh tôi nhiều kiểu khác nhau, rồi lại đi ra. Tôi ngồi xuống và mong họ làm các thủ tục nhanh nhanh lên vì tôi mệt muốn chết rồi.
Người đàn ông đứng sau quầy giọng ề à buồn tẻ đọc từng con số “một ngàn tám trăm lẻ sáu. Từ nay chị phải nhớ chị là 1806. Cố mà nhớ lấy”.
Tôi lại gật đầu. Mụ cai ngục chỉ vào một tấm giấy lớn dán trên tường và bảo: “Đọc đi, đọc lớn tiếng lên!”
Đó là bản nội quy của nhà tù. Điều thứ nhất: hàng ngày mọi tù nhân phải học tập theo sách của Mao Trạch Đông để cải tạo tư duy của mình. Điều thứ hai là phải thú thật mọi tội lỗi, không được giấu giếm tội nào, đồng thời tố cáo những kẻ dính dáng đến tội đó. Điều ba là phải báo cáo cho “giám thị” mọi sự vi phạm nội quy của tù nhân cùng bị giam với mình. Những điều còn lại liên quan đến các vấn đề ăn uống tắm rửa cho mọi vấn đề vệ sinh trong nhà tù. Tôi đọc xong, mụ cai tù nói: “Cố mà nhớ nội quy và tránh đừng vi phạm”.
Người đàn ông lấy dấu tay của tôi áp vào cuốn sổ. Lấy dấu tay xong, tôi xin ông ta một mảnh giấy lau tay.
Mụ cai ngục đứng ở ngoài cửa sốt ruột, đã quay đầu vào và quát lên: “Nhanh lên”. Nhưng, người đàn ông – có lẽ là tâm địa tốt – cũng mở ngăn kéo, lấy ra mảnh giấy nhầu nát trao cho tôi. Tôi lau vội tay và theo mụ cai ngục ra khỏi phòng và ra khỏi tòa nhà.
Cuộc tiếp nhận tôi vào nhà tù số 1 được thực hiện một cách nhẹ nhàng thoải mái. Thái độ của người đàn ông và mụ cai ngục là một thái độ lạnh lùng thường lệ. Đối với họ, việc tôi vào tù cũng như hàng trăm hàng ngàn trường hợp khác. Thường quá. Còn đối với tôi qua ngưỡng cửa nhà tù là bước vào giai đoạn khác của cuộc đời, qua đó, nhờ đấu tranh để sống còn và giành lấy công lý, tôi đã mạnh dạn hơn về tinh thần và trưởng thành hơn về mặt chính trị. Tôi có những thời gian dài ngồi một mình để kiểm điểm lại chính cuộc đời mình và những gì đã diễn ra trên đất Trung Hoa mà tôi biết được – kể từ năm 1949, khi Đảng Cộng sản Trung Hoa nắm chính quyền, nhờ đó tôi hiểu rõ hơn chính mình và chế độ chính trị trong đó tôi đang sống. Mặc dù, vào đêm 27 tháng 9 năm 1966 tôi bị bắt giam trong nhà tù số 1, tôi không biết tương lai của mình rồi sẽ ra sao, nhưng lúc đó tôi cũng không thấy sợ hãi gì cả. Tôi tin nơi Đức Chúa Trời công chính và lân tuất và nghĩ rằng Người sẽ dẫn dắt tôi khỏi vực thẳm nguy hiểm.
Bên ngoài tòa nhà, trời tối đen như mực. Mặt đất gồ ghề. Theo mụ cai ngục đi ra khỏi tòa nhà, tôi hít thật sâu không khí mát mẻ ban đêm.
Chúng tôi đi qua tòa nhà chính, qua một chiếc cửa sơn đỏ đã bạc màu, có ngọn đèn yếu ớt lù mù soi đường. Vào đến sân trong, nhỏ hơn, tôi thấy một tòa nhà hai tầng khác. Đây là nơi giam giữ các tù nhân nữ.
Từ một phòng gần lối vào, một mụ cai ngục khác đi ra, vừa đi vừa ngáp dài. Hai mụ lặng lẽ trao và nhận tù.
“Theo đây”, mụ cai tù ngái ngủ nói. Mụ dẫn tôi qua một hành lang dài có những cánh cửa đóng kín, cài then và đóng kỹ. Tôi đã không bao giờ quên được cái hình ảnh đầu tiên mà tôi có được về cái nhà tù này. Những năm sau đó, dù trong lúc ngủ mơ hay trong cơn ác mộng tôi vẫn còn nhìn thấy hành lang, ánh sáng lờ mờ, hàng cửa đóng kín cài then khóa kỹ. Tôi cảm thấy mãi nỗi bất lực, vô vọng, vỡ mộng của những con người bị nhốt bên trong.
Đi đến cuối hành lang, mụ cai ngục mở cửa một xà lim còn trống.
- Đi vào – mụ nói – có đồ dùng cá nhân gì không?
Tôi lắc đầu.
- Để sáng mai sẽ báo cho gia đình gửi đồ dùng cá nhân vào cho. Giờ thì đi ngủ.
Tôi hỏi mụ chỗ đi vệ sinh, mụ chỉ cho một cái cầu tiêu đặt ở góc trái xà lim rồi nói: “Tao sẽ cho mượn ít giấy vệ sinh”.
Mụ cài then cửa rồi lịch kịch khóa lại. Tôi nghe tiếng chân mụ đi về phía cuối hành lang.
Tôi đưa mắt nhìn quanh phòng. Trái tim tôi muốn rụng. Mạng nhện giăng kín từ trên trần xuống. Bức tường trước kia quét vôi trắng nay vàng ệch, bám đầy bụi trắng và lù mù. Nền xi măng vá loang lổ và ẩm ướt, không khí nằng nặc mùi ẩm mốc. Tôi vội vã mở cánh cửa sổ độc nhất và nhỏ xíu với chấn song sắt han rỉ. Tôi phải kiễng chân lên mới mở được cánh cửa. Khi tôi đẩy được cái chốt và cánh cửa ra, những vụn sơn cũ tróc ra và bụi rơi xuống như mưa. Đồ đạc độc nhất trong phòng là ba chiếc giường gỗ hẹp. Vạt giường là những mảnh ván nhám, hai chiếc chồng lên nhau còn chiếc kia sát mé tường. Tôi chưa bao giờ cư ngụ và cũng chưa bao giờ tưởng tượng ra được một nơi cư ngụ có thể thô sơ, dơ dáy đến thế này.
Mụ cai ngục trở lại với mấy tờ giấy vệ sinh, thứ xấu nhất. Mụ tuồn mấy tờ giấy đó cho tôi qua khuôn gỗ vuông khoét ngay trên cánh cửa xà lim và nói:
- “Giấy vệ sinh đây. Khi nào được tiếp tế là phải trả lại nhà nước đủ số đấy. Thôi, ngủ đi. Nằm phải quay đầu ra phía cửa sổ. Đó là nội qui”. Tôi không dám đụng vào chiếc giường bụi đóng thành lớp đó. Nhưng tôi cần phải nằm xuống vì hai chân tôi đã sưng phù lên. Tôi kéo cái giường tách ra khỏi bức tường dơ bẩn và lấy giấy vệ sinh lau. Nhưng bụi bám đầy và dính cứng vào đến nỗi tôi chỉ phủi được bụi bên trên. Rồi tôi nằm đại xuống và nhắm mắt. Chiếc đèn treo lủng lẳng trên trần chiếu thẳng xuống đầu tôi. Mặc dù là đèn lù mù nhưng vẫn làm cho tôi khó chịu. Tôi nhìn quanh phòng nhưng không thấy công tắc đèn đâu cả.
Tôi lấy tay gõ mạnh vào cửa và nói lớn: “Xin vui lòng cho tôi hỏi”.
- Im ngay! Im ngay! - Mụ cai ngục vội vã chạy lại và hé cánh cửa sổ.
- Tôi không thấy chỗ công tắc đèn đâu cả.
- Buổi tối ở đây không tắt đèn. Từ nay về sau muốn nói với giám thị phải nói “xin báo cáo”. Không được gõ cửa. Không được nói cách khác.
- Làm ơn cho tôi mượn cái chổi để quét phòng này một chút được không? Dơ quá
- Khùng! Quá hai giờ đêm rồi đó! Ngủ đi!
Mụ đóng cửa lại nhưng vẫn đứng ở ngoài dòm qua khe cửa để biết chắc là tôi đã tuân lệnh.
Tôi đành nằm xuống giường và quay mặt về phía bức tường dơ bẩn để tránh ánh đèn. Tôi nhắm mắt lại để khỏi nhìn thấy bức tường. Nhưng tôi không thể tránh được cái mùi ẩm mốc khó chịu và bụi bậm. Xa xa tôi nghe văng vẳng tiếng ồn ào của đám đông ngoài phố. Đám đông ấy không còn đe dọa tôi nữa nhưng tôi lo lắng cho con gái tôi. Tôi hy vọng là nay tôi đã bị giam cầm thì người ta sẽ không còn áp lực để bắt con tôi phải tố tôi nữa. Nếu đúng như vậy thì nó cũng sẽ được đối xử như một thành phần quần chúng. Tôi chuẩn bị để chịu đựng bất cứ sự gì.
Thình lình một đàn muỗi đói bay sà đến tấn công tôi. Tôi ngồi dậy và cố gắng lấy tay quạt muỗi. Nhưng bầy muỗi gan lì đến nỗi tôi đành chịu thua. Muỗi cắn ngứa ngáy lại càng làm cho tôi khó chịu, bực bội.
Đến lúc tờ mờ sáng, điện tắt. Trong bóng tối, sự dơ bẩn và xấu xí của căn phòng cũng vụt biến mất, tôi có thể tưởng tượng ra mình đang ở một nơi nào đó. Đó là khoảnh khắc tôi cảm thấy được sống riêng tư và cảm thấy nguôi ngoai phần nào. Tôi cảm thấy như khúc dây cột chặt quanh người tôi đã được nới lỏng ra. Nhưng, chẳng được lâu. Mảnh trời qua khe cửa biến thành màu xám rồi màu trắng. Ánh nắng ban mai ùa vào xà lim làm cho cái vẻ xấu xí của xà lim lộ ra. Tuy nhiên suốt trong những năm bị giam cầm trong xà lim này, khoảnh khắc tối om sau khi tắt đèn và trước khi rạng đông luôn luôn là những giây phút tôi tìm lại được phẩm cách con người của tôi và cảm thấy như được đổi mới, chỉ vì tôi có được một khoảnh khắc quí báu tự do, không bị mấy vị cai ngục dòm chừng.
Tiếng bước chân người lại gần, “Dậy! Dậy! Dậy ngay!” cũng vẫn tiếng mụ cai ngục đó giục giã ở cửa mỗi xà lim. Tôi chỉ nghe tiếng động của những con người câm nín nổi lên ở khắp tòa nhà, những tiếng xì xào và tiếng của cái gì đó vận động ở những xà lim tầng trên.
Cánh cửa sổ nhỏ ở cửa xà lim được mở ra. Một phụ nữ trẻ lên tiếng gọi “Nước này”. Và cô ta đẩy ca nước qua cửa sổ đó.
Tôi nói với cô ta không có cái gì đựng nước. Cô ta rút cái ca nước ra và ghé cái mặt xanh xao tuy còn trẻ của cô ta để dòm vào mặt tôi. Ánh mắt chúng tôi chạm vào nhau, cô ta mỉm cười. Vài ngày sau tôi thoáng nhìn thấy trên vạt áo cô ta một mảnh vải trắng nhỏ viết chữ, đại khái cho biết cô cũng chỉ là một tù nhân phải lao động cải tạo. Sau đó, mỗi khi có dịp, chúng tôi đều mỉm cười với nhau thông cảm cái số phận khốn nạn, đau khổ mà chúng tôi cũng phải chịu đựng trong tư cách là những người bị nhà nước bắt tù. Sự tiếp xúc thầm lặng và nụ cười lén lút trên khuôn mặt xanh xao của cô ta đã có một ý nghĩa rất lớn đối với tôi trong những năm tôi bị giam giữ. Khi cô không còn xuất hiện nữa – có lẽ là cô đã mãn hạn tù – tôi cảm thấy sâu sắc một sự mất mát và buồn bã trong nhiều ngày.
Cánh cửa sổ nhỏ lại mở ra. Một cái cà men bằng nhôm hình chữ nhật xuất hiện. Tiếng người đàn bà nóng nảy nói: “Cầm lấy! Cầm lấy!”
Khi tôi cầm lấy chiếc cà men, chị ta nói: “Lần sau đến giờ ăn, thì phải đứng sẵn ở chỗ này, chờ!” Chị ta cũng đưa cho tôi một đôi đũa tre dùng nhiều đến nỗi đã tua cả ra.
Cái cà mèn méo mó đựng đầy đến ba phần tư thứ cháo tuy âm ấm nhưng lỏng với vài cọng dưa chua nổi lều bều. Tôi lấy giấy lau mép cà mèn và húp thử. Cháo mùi hôi khói và dưa vừa chua vừa mặn. Thức ăn tệ đến mức tôi không thể tưởng tượng được. Nhưng tôi cũng cố ăn được nửa. Khi người đàn bà kia lại mở cửa sổ ra, tôi trao trả lại chị ta cái cà mèn và đôi đũa.
Lát sau môt mụ cai ngục khác tới. Mụ hỏi tôi:
- Sao mày không ăn cháo?
- Có, tôi ăn một ít! Tôi có thể gặp nhà chức trách được không ?
Các quan chức cộng sản Trung Hoa không thích người ta gọi họ là “quan chức” trừ khi gọi đúng bằng danh hiệu chức vụ. Chẳng hạn “Bộ Trưởng Vương” hay “Giám đốc Chương”. Nói chung, các quan chức đều được gọi là “cán bộ”.
- Làm gì mà vội vậy, – mụ đáp – Mày mới nhập trại mà. Khi nào các điều tra viên sẵn sàng thì người ta sẽ gọi. Điều mà bây giờ mày phải lo làm đi là xét lại mình đã phạm những tội gì. Khi được gọi tới, mày phải tỏ ra ăn năn hối lỗi bằng cách thú thật hết các tội để được khoan hồng. Nếu mày tố thêm những người khác thì mày được kể như có thành tích.
- Tôi nào có phạm tội gì đâu!
- A, khối người lúc mới đến đây cũng nói như mày vậy. Nhưng, đó là thái độ ngu xuẩn. Nghĩ xem, thành phố này có cả chục triệu người. Sao những người kia không bị bắt mà mày lại bị. Như vậy, chắc chắn là mày có tội chứ còn gì nữa.
Lý sự với mụ già làm gì, vô ích. Nhưng qua lời mụ, tôi hiểu rằng tôi còn phải ở đây một thời gian. Bụi bặm, dơ bẩn trong phòng này thật không sao chịu nổi. Dù chỉ phải ở trong xà lim này một đêm nữa thôi thì tôi cũng phải quét dọn cho sạch. Ngoài ra, tôi cũng thấy là công việc tay chân sẽ làm cho thần kinh bớt căng thẳng. Vì tôi cảm thấy bứt rứt và bồn chồn lo lắng cho con gái tôi nên tôi thấy cần phải làm một cái gì đó. Tôi hỏi mụ cai ngục cho tôi mượn cây chổi để quét xà lim.
- Chỉ được mượn chổi quét vào ngày chủ nhật. Nhưng vì mày mới đến đây, cho nên hôm nay tao sẽ cho mày mượn.
Lát sau mụ quay trở lại với cây chổi cùn và mụ luồn qua cửa sổ đưa cho tôi. Tôi kéo lê cái giường quanh xà lim để quét cả mạng nhện trên trần nhà. Khi tôi quét tường thì cả xà lim bụi mịt mù.
Cửa sổ lại mở ra. Một mảnh giấy được luồn qua cửa sổ đưa cho tôi. Nhìn ra ngoài, tôi thấy người đàn ông hôm qua đang đứng đó. Ông ta nói:
- Số tiền chị mang theo hôm qua đã được gởi vào ngân hàng dùm chị. Đây là biên lai. Chị được phép dùng tiền đó để mua những yếu phẩm hàng ngày như giấy vệ sinh, xà bông, khăn rửa mặt.
- Đúng là tôi cần những thứ đó. Tôi có thể mua ngay bây giờ được không?
- Chị có thể mua tất cả những gì chị cần.
- Làm ơn mua dùm cho tôi một cái thau, hai cái ca tráng men để ăn và để uống, một ít kim chỉ, xà bông, khăn mặt, bàn chải và kem đánh răng, một ít giấy vệ sinh. Tôi có được mua kem ăn không?
- Không, chỉ những thứ cần thiết thôi.
Lát sau ông trở lại với cái thau tráng men in hình hai bông hồng, sáu cái khăn rửa mặt in sọc màu sặc sỡ, một xấp giấy vệ sinh, sáu cục xà bông giặt thứ rẻ tiền, hai cái ca tráng men có nắp đậy, bàn chải đánh răng, kem đánh răng, hai cuộn chỉ thô. Ông ta nói là tù nhân không được giữ kim trong xà lim nhưng ngày chủ nhật thì có thể nói cai ngục cho mượn.
Cai ngục mở cửa xà lim để trao cho tôi cái thau. Trong khi cửa còn đang mở thì cai ngục đàn ông đã mang đến cho tôi chăn, mền, quần áo mà các “ông bà” Vệ binh đỏ đã để lại cho tôi và cả bộ Mao Trạch Đông toàn tập và quyển Mao tuyển (tức là cuốn “sách đỏ”). Sau khi tôi ký nhận những thứ này, hai người khóa cửa lại và đi.
Tôi kiểm lại mọi thứ một cách cẩn thận, hy vọng con gái tôi có dấu vào đó được vài hàng chữ dặn dò gì không. Nhưng không có gì. Tôi ngồi bên mép giường, thất vọng và buồn. Tôi nóng lòng nghĩ đến con tôi và cầu nguyện cho nó được bình an. Một lát sau, tôi cảm thấy tâm hồn bình lặng. Tôi quyết định phải “giải quyết” cái xà lim bẩn thỉu. Cái mà tôi cần bây giờ là một ít nước. Tôi đi ra cửa và lớn tiếng gọi “Báo cáo”.
Một mụ cai ngục khác chạy tới đẩy cánh cửa sổ ra và nghiêm giọng nói:
- Mày không được la lớn lên như vậy! Mày muốn gì?
Qua giọng của mụ, tôi hiểu là mụ sẽ từ chối bất cứ điều gì tôi yêu cầu. Để ngăn ngừa sự từ chối ấy, tôi đã chặn họng mụ ngay bằng một câu trích của Mao Trạch Đông: “Sống vệ sinh là vinh quang. Sống dơ bẩn là đáng xấu hổ”. Rồi tôi mới hỏi mụ: “Chị cho tôi chút nước để lau xà lim này được không?”
Mụ quay đi mà không nói gì cả. Tôi chờ và chờ. Sau cùng cô gái tù lao động cải tạo đến và đổ nước đầy thau. Trước tiên, tôi lau chùi thật kỹ cái giường và lau chùi cái cửa sổ dính đầy mạng nhện và bụi bậm để trong xà lim sáng hơn một chút. Tôi lau rửa cầu tiêu ở góc phòng. Và còn đủ nước để tắm và giặt cái áo. Khi được phân phát nước nóng để uống, tôi đã ngồi trên cái giường được lau chùi sạch sẽ và uống một cách khoan khoái. Chỉ là nước đun sôi nhưng chưa bao giờ tôi lại cảm thấy mùi vị thơm ngon như thế.
Đến trưa là buổi cơm chính: cơm với vài cọng bắp cải luộc. Tôi lấy cơm làm hồ dán giấy vệ sinh dọc theo tường kế bên giường để quần áo và đồ ngủ của tôi không bị dính bẩn khi tôi ngủ, lỡ chạm phải. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Mụ cai tù đến và bảo tôi phải đi đi lại lại trong xà lim để vận động tập thể dục. Tôi nói: ”Chị làm ơn cho tôi trả lại cây chổi”.
Mụ mở cửa sổ nhỏ để dòm vào trong xà lim, thấy tôi dán giấy vệ sinh vào tường, mụ nói: “Làm thay đổi trong xà lim là trái nội qui”. Tôi lặng thinh và tự hỏi đối phó như thế nào nếu như mụ bắt xé đi. Nhưng mụ chỉ cầm cây chổi quay ra đóng cửa lại rồi đi. Lát sau, tôi thấy tiếng mụ eo éo trên lầu và gõ vào mỗi cửa xà lim “Tập thể dục! Tập thể dục!”
Tôi nghe tiếng bước chân người đi tới đi lui ở các phòng bên, ở trên lầu. Hết giờ tập thể dục, mụ cai ngục nói mọi người ngồi xuống, tôi nghe thấy nhiều tù nhân ngồi phịch ngay xuống sàn. Như vậy, rõ ràng là trong nhiều xà lim, không có giường ngủ gì cả. Bức tường ngăn xà lim của tôi với xà lim bên cạnh dày đến nỗi không thể nghe được tiếng động gì bên ấy. Nhưng những tiếng nói lớn lớn một chút ở tầng trên thì nghe rõ mồn một. Tiếng của những tù nhân đàn bà đi lại trên lầu và tiếng họ thì thào với nhau khi không có cai ngục ở gần. Tất cả những tiếng ấy cũng đã làm dịu được những cảm nghiệm sâu sắc về nỗi cô đơn, cách biệt của tôi.
Sự tương phản về màu sắc, hình dáng và những âm thanh xô bồ rất quen thuộc với các giác quan của ta trong đời sống bình thường thì trong nhà tù, thiếu hẳn những thứ này. Nhìn vào đâu tôi cũng chỉ thấy những hình dạng u ám, những bộ đồng phục nhàu nát, xám ngắt và dơ bẩn. Không có gì khác ngoài giọng nói lạnh lùng, tẻ nhạt và oai quyền của cai ngục phá tan bầu không khí lặng lẽ. Ngồi trong xà lim, tôi thấy mình thường đưa mắt nhìn lang thang ra phía cửa sổ. Tôi cũng thường đăm đăm nhìn dải trời qua khe cửa hẹp, qua chấn song sắt lâu có đến hàng tiếng đồng hồ. Xuyên qua cửa sổ hẹp này không phải chỉ có không khí và ánh sáng để giữ cho sự sống của tôi tồn tại mà qua đó tôi còn thấy mình có chút liên lạc với thế giới bên ngoài. Trong khi thân xác tôi bị giam hãm trong xà lim thì tinh thần tôi thường thoát qua khỏi cửa sổ để vươn tới tự do. Một trong những ký ức rõ nét và sống động nhất mà tôi còn giữ được về cái nhà tù ấy là nhìn bóng của những chấn song từ từ dời chỗ trên nền nhà. Qua sự chuyển dịch chậm chạp của những cái bóng ấy tôi chờ đợi, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, có đôi khi từ bữa ăn này đến bữa ăn khác, có khi từ cuộc thẩm vấn này đến cuộc thẩm vấn sau. Nhưng trên hết, tôi chờ đợi một biến động chính trị nào đó xoay chuyển được hay kiềm chế được quyền lực chính trị của “các ông bà cách mạng” theo Mao.
Ngày tàn, ngọn đèn điện vàng vọt lại được bật lên. Lại một bữa cơm nữa cũng vẫn với rau bắp cải luộc. Cai ngục đêm hôm sau là mụ khác. Mụ đưa cho tôi tờ báo. Ghé sát mặt vào cửa sổ, mụ nhìn vào trong xà lim và quát lên “Mày làm gì trong cái xà lim thế này?” Tôi đáp: “Tôi dọn sạch sẽ theo lời dạy của Mao Chủ tịch về vệ sinh”.
- Nếu mày chăm chú đến lời kêu gọi của Mao Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại như vậy thì tại sao mày lại bị tù? Chủ tịch đã chẳng nói là mày có tội sao?
- Tôi chưa bao giờ phạm tội hết. Bị bắt lầm. Rồi các cuộc thẩm vấn, điều tra sẽ làm sáng tỏ thôi.
- Tao thấy mày bẻm mép lắm. Vào đến đây mà mày cũng không bỏ được cái thói sống tư sản của mày. Tao khuyên mày nên bớt nghĩ đến lối sống dung dưỡng xác thịt của mày đi mà nên nghĩ nhiều đến những việc làm tội lỗi của mày thì hơn. Chớ có coi thường vấn đề. Khi được gọi thì hãy thành thật thú hết các tội ra thì có thể được khoan hồng – Nói rồi mụ đóng sập cửa lại không để cho tôi đối đáp được gì hết.
Tôi phát mệt cái chuyện tự thú, và làm thế nào để được khoan hồng. Tôi nghĩ có lẽ đúng là những người thật sự có tội nếu tự thú tội thì có thể được bản án khoan hồng. Nhưng tôi nào có tội gì đâu. Thật dễ giận khi cứ bị gán cho là có tội trong khi mình chẳng phạm tội gì.
Tôi lượm tờ báo lên và đứng ngay ở chỗ khe cửa để đọc. Cũng giống mọi tờ báo khác ở Trung Hoa, tờ nhật báo Trung Hoa Giải Phóng đã được chính quyền nhân dân in ấn, hoàn toàn tài trợ và kiểm soát. Các ký giả chỉ là những viên chức được cơ quan tuyên truyền của Đảng chỉ định. Công việc của họ chỉ là chọn lọc và thường là bóp méo, xuyên tạc tin tức, đặc biệt là tin ngoại quốc nhằm mục đích tuyên truyền và viết bài ca ngợi các chính sách của Đảng và chính quyền. Ở khắp mọi nơi trên đất Trung Hoa, kể cả trong nhà tù, báo chí được sử dụng như một tài liệu giáo dục chính trị cho nhân dân.
Từ lâu, nhân dân Trung Hoa đã học được cái cách đọc báo, nhất là đọc giữa hai hàng chữ và chú ý đến những tin bị cắt xén, đục bỏ như là những tin chính xác nhất. Thật ra báo chí không phải là nguồn tin của nhân dân Trung Hoa mà là những tin đồn, nhưng câu chuyện rỉ tai từ người này sang người khác thường được kể lại bằng thứ ngôn ngữ tượng trưng, bằng biểu tượng và không nêu rõ danh tính đối tượng nội dung. Những “tin tức” này thường được mệnh danh là “tin hậu trường”, tin bán chính thức, nghĩa là không công khai, do đường lối chính thức, do các viên chức nhà nước có thẩm quyền đưa ra. Trước kia, khi Cộng sản chưa nắm chính quyền, các tổ chức bí mật của họ đã vận dụng rất hữu hiệu lối tuyên truyền rỉ tai, tung tin đồn để xói mòn niềm tin của nhân dân Trung Hoa vào chế độ Quốc Dân Đảng. Và bây giờ thì gậy ông lại đập lưng ông. Khi nhân dân còn tin báo chí chính thức và không được tự do thông tin, (họ chỉ còn tin?) vào bất cứ thứ “tin tức” nào họ thu lượm được trong các câu chuyện ngồi lê đôi mách về chính trị.
Trong nhà tù thì tờ Thượng Hải Giải Phóng là nguồn tin duy nhất của tôi về những gì đang diễn ra bên ngoài bức tường nhà tù. Tôi đọc rất kỹ, rất cẩn thận, đôi khi đọc đi đọc lại hai ba lần một mẩu tin, một bài xã luận để theo dõi diễn biến của cuộc Cách mạng Văn hóa và đánh giá các biến chuyển chính trị đang diễn ra. Theo cái cách một tin được trình thuật, cái đề tài của một bài báo đặc biệt, cái giọng điệu của bài xã luận và các câu chỉ trích của Mao được sử dụng, tôi thường đoán được những người theo Mao muốn cái gì và cái gì không phù hợp với đường lối kế hoạch của họ. Tuy nhiên chỉ sau khi được thả ra tôi mới hiểu được các chi tiết của cuộc đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Hoa. Tôi cũng thu thập được một số sưu tập các ấn bản không bị kiểm duyệt của Hồng Vệ Binh và có cơ hội được hỏi chuyện những thanh niên đã tham gia các “hoạt động Cách mạng” trong thời kỳ cuộc Cách mạng Văn hóa.
Ngày chủ nhật, tôi mượn được của cai ngục cây kim để may vá lặt vặt. Chẳng hạn, lấy cái khăn tay may thành các băng che mắt để ngủ không bị ánh đèn rọi vào mắt. Tôi cũng mượn được cái kéo và cai ngục đứng ở cửa nhìn tôi làm. Khi làm xong, cai ngục lấy lại cây kéo liền. Được làm gì đó cho cuộc sống của tôi thêm “tiện nghi” khiến tôi thấy dễ chịu hơn. Đặc biệt, tôi thấy việc may vá là công việc làm cho tôi bớt căng thẳng hơn cả.
Nhiều ngày trôi qua, ngày nào tôi cũng yêu cầu được gặp các người thẩm vấn nhưng không có kết quả. Một buổi sáng trời nắng, các tù nhân được cho biết chuẩn bị để ra tập thể dục ngoài trời. Cai ngục đến từng xà lim và la lên “Fanfeng!”1
Nóng lòng muốn được tắm nắng và hít thở không khí thoáng đãng, tôi đặt ngay cuốn sách của Mao mà tôi đang đọc xuống, nhảy vội và chạy ra đứng trực sẵn. Nhưng tôi phải đợi một lúc thật lâu mới được dẫn ra. Nhà tù số 1 có một hệ thống quy định tỉ mỉ để ngăn ngừa các tù nhân trong các xà lim khác không được gặp nhau. Tôi phải đợi cho tù nhân xà lim bên cạnh tôi đi đến góc sân và không còn nhìn thấy được nữa lúc đó tôi mới được dẫn ra. Các cai ngục chia nhau đứng thành khoảng cách để canh chừng và dẫn họ đến sân tập thể dục.
Sân tập thể dục là một bãi đất trống nhưng không được chăm sóc, nên nom bê bối, bệ rạc. Bức tường bao xung quanh bị tróc lở để lộ cả gạch ra. Mặt đất trải đá sỏi đầy rác rến. Ở góc sân tôi thấy có cái gì đó xanh xanh. Nhìn kỹ mới thấy đó là một đám cỏ cố sức vươn lên khỏi sỏi đá để giành lấy sự sống. Nhìn thấy một cái gì đó đang mọc lên ở một nơi bất nhân này thì cũng đủ để cảm thấy ấm lòng. Bởi vậy, tôi bước lại gần và nhìn thật kỹ. Đó là một bụi hoa nho nhỏ. Những bông hoa màu hồng nhỏ xíu, mỗi bông là năm cánh hoa không lớn hơn một hạt lúa. Những cây nhỏ xíu ấy kiên nhẫn vươn lên khỏi rác rến và sỏi đá, để kiêu hãnh đứng dưới ánh mặt trời, chứng tỏ sức sống của mình ở nơi đất chết này. Nhìn những bông hoa nhỏ xíu đó tôi thấy nó đẹp vô cùng và thấy mình lên tinh thần.
- “Đi! Không được vừa đi vừa cúi mặt xuống! Không được đứng dừng lại!” Tiếng quát tháo của cai ngục đứng trên bục cao ở giữa sân để giám sát tù nhân đi dạo. Hôm nay đẹp trời. Tôi bắt đầu đi dạo trong sân và cảm thấy dần dần ngực bớt nặng đi, và tôi thở dễ dàng hơn. Không khí mùa thu khô và mát mẻ. Mặt trời rọi nắng ấm trên mặt. Trong xà lim, thời gian trôi đi sao mà chậm thế. Một ngày mà tưởng như dài vô tận nhưng thời gian tập thể dục ngoài trời thì sao lại trôi mau thế. Ngay cả trong mùa đông, áo quần không đủ che ấm cho cái xác ve của tôi, cơn gió bấc làm cho tôi run rẩy, nhưng tôi vẫn thấy thời gian tập thể dục ngoài trời trôi qua quá mau lẹ.
Gã cai ngục dẫn tôi trở lại xà lim. Hắn không tìm được ngay đúng cái chìa khóa nên cứ loay hoay thử hết chìa này đến chìa kia. Tôi lợi dụng dịp này để hỏi xem chừng nào tôi sẽ được thẩm vấn. Tôi nói với hắn:
- Tôi ở đây đã quá lâu rồi? – Hắn dằn giọng rồi quay về phía tôi – mày nói phi lý, tao biết là mày ở đây mới chưa được một tháng. Một tháng chưa phải là lâu. Có người ở đây cả năm rồi mà trường hợp của họ cũng chưa được giải quyết nữa là. Sao mà mày nóng ruột quá vậy? Lúc nào cũng thấy mày đợi xin gặp điều tra viên. Gặp họ, mày sẽ nói năng những gì, khai báo những gì? Mày đã sẵn sàng thú hết mọi tội lỗi chưa?
- Tôi xin gặp các điều tra viên để họ điều tra và làm sáng tỏ sự hiểu lầm về tôi.
Hắn tỏ ra thật sự bối rối. Hắn hỏi:
- Hiểu lầm gì?
- Thì vì hiểu lầm nên mới bắt tôi giam vào đây!
- Mày bị giam ở đây là vì mày đã phạm tội chống lại chính quyền nhân dân. Không có chuyện hiểu lầm. Mày đứng có ăn nói dấm dớ.
- Cả đời tôi chưa bao hề phạm tội gì chống lại chính quyền nhân dân!
- Xí, nếu mày không bị phạm tội thì sao mày lại bị tù? Mày đã bị tù, vậy là chứng tỏ mày đã bị tội.
Lập luận của hắn làm cho tôi kinh hoàng. Lập luận ấy đặt cơ sở trên sự khẳng định rằng Đảng và chính quyền không bao giờ sai lầm, không thể nào biện giải với hắn mà tránh khỏi xúc phạm với Đảng và chính quyền nhân dân. Bởi vậy, tôi chỉ nói đơn giản là tôi chưa hề phạm tội ác nào, bắt giam tôi là do hiểu lầm mà thôi.
- Chắc chắn là mày đã phạm một tội gì đó mà mày không nhớ hay là chưa nhớ ra – hắn nói, giọng cả quyết – các tù nhân thường được sự giúp đỡ và hướng dẫn của các điều tra viên mới biết đường để thú nhận tội lỗi.
- Tôi không tin là mình đã phạm một tội gì mà nay đã quên đi. - Tôi nói với hắn như vậy. Tôi nhớ lại đã có lần được nghe trường hợp các điều tra viên mớm cung để tội nhân nhận những tội mà điều tra viên muốn họ nhận. Bản cung đó được viết ra giấy và sẽ được dùng lại để chống lại chính tù nhân.
- Có lẽ lúc này mày chưa nhận ra tội mày đã phạm. Mày hãy còn quá u mê. - Gã cai ngục nói với một vẻ rất chân thành.
Có thể nào một hành vi mà tôi coi là vô hại và vô tội lại bị người khác coi là những hành vi tội ác chống lại nhà nước được nhỉ? Mặc dù tôi đã theo dõi sự phát triển, sự diễn biến ở Trung Hoa về mặt kinh tế, chính trị một cách rất cẩn thận nhưng tôi có cái sơ sót là chưa nghiên cứu bộ luật hình của chính quyền cộng sản. Tôi quyết định phải gấp rút sửa chữa và bổ khuyết thiếu sót ấy. Bởi vậy, tôi nói với gã cai ngục:
- Trong trường hợp đó, tôi sẽ nghiên cứu sách luật để xem xét có đúng là tôi đã vô tình phạm tội ác mà không biết chăng. Ông vui lòng cho tôi mượn sách về luật của các ông được không?
- Sách luật nào? Thật, mày giống y như lũ trí thức bị tố cáo trong Cách mạng Văn hóa. Mở miệng ra là chúng mày nói luật lệ với chả quy định, quy tắc. Chúng tao, giai cấp vô sản, chẳng thèm có những thứ ấy.
Hắn có vẻ hết sức bực bội. Cứ như thể bảo rằng Cộng sản thì cũng phải có luật, có lẽ là một điều sỉ nhục hắn không bằng.
- Nếu không có luật pháp thì các ông xét xử làm sao, căn cứ vào đâu mà xét xử người nào có tội hay không có tội?
- Căn cứ vào lời dạy của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại. Lời dạy của Người là tiêu chuẩn. Nếu người dạy một hạng người nào đó là có tội và mày thuộc về hạng người đó thì đúng là mày có tội. Như vậy, giản tiện hơn là luật này nọ rắc rối – Đối với hắn thật là quá tốt và quá hợp lý khi chỉ căn cứ vào lời dạy của Mao để quyết
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện