DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 4

Chương 4: Giam Lỏng

Tôi chợt thức giấc vì tiếng mưa nặng hột. Một lát sau, giọt mưa nhỏ đi nhưng trở thành rền rền đều đặn. Thửa vườn bừa bãi tro tàn và những cuốn sách cháy dở dang nom buồn thảm. Tôi đứng trên sân hiên nhìn cảnh não lòng này và tự hỏi phải làm gì.
Buổi sáng trôi qua chậm chạp, không có dấu hiệu nào của Vệ binh đỏ. Tôi đi lang thang qua nhà, không chủ đích, chẳng còn sách để đọc. Trên những giá sách kê kín tường thư phòng của tôi, nay chỉ còn bốn tập của bộ “Mao Trạch Đông toàn tập” một cuốn Mao tuyển “bìa đỏ” cũng của ông ta. Tôi cũng chẳng may vá, đan lát gì được, vì lũ Vệ binh đỏ đã vứt lung tung bừa bãi, đến nỗi chẳng còn biết kim, chỉ, len… ở đâu nữa. Tôi cũng không thể viết thư, hay là vẽ vời gì được, vì giấy má, bì thư bị xé nát hết, và cũng chẳng biết bút bị quăng nơi nào. Cũng chẳng thể nghe radio, vì cái “đài” được xếp chung vào những món đồ có “giá trị” được để trong phòng, niêm phong. Tôi chỉ còn có thể ngồi nhìn những đống thù lù các mảnh gẫy, bể, xé nát gom ở mỗi phòng mà tôi không dám dẹp bỏ.
Đến chiều, tạnh mưa. Mặt trời lại ló ra khỏi đám mây. Nhiều đám diễu hành đã đi qua đường phố ngang nhà tôi. Nhưng không có Vệ binh đỏ nào quay trở lại. Lão bộc đem cho tôi tờ nhật báo “Thượng Hải giải phóng” luôn luôn ra buổi chiều, mặc dù trên danh hiệu đó là báo sáng. Trên trang nhất, trang trong in lại bài xã luận chỉ đạo của tờ Nhân Dân nhật báo ở Bắc Kinh, cơ quan chính thức của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa. Mọi tờ báo ở Trung Hoa đều là chính quyền phát ngôn các chính sách của chính quyền, của Đảng, nhất là tờ Nhân Dân nhật báo. Tôi nhận thức được tầm quan trọng của bài xã luận và chăm chú đọc. Được viết bằng thứ ngôn ngữ cách mạng sôi nổi, bài xã luận nhằm chủ yếu kích động lòng căm thù đối với giai cấp tư sản và thúc đẩy quần chúng tích cực tham gia các hoạt động của cuộc Cách mạng Văn hóa. Nhưng tôi cũng lưu ý đến chỗ bài xã luận có nhắc đến việc một số các viên chức trong Đảng và chính quyền không nêu rõ tên – ở nhiều nơi trên đất Trung Hoa đã đi theo đường lối, chính sách tư bản chủ nghĩa và chống lại lời dạy của Mao Trạch Đông. Người viết đã gọi các viên chức không nêu tên ấy là những tên “cò mồi” của bọn tư sản.
“Quần chúng cách mạng – bài báo viết – phải vạch mặt chỉ tên những kẻ thù này“ bởi vì “lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch đã tin tưởng quần chúng cách mạng và Người đã nói “con mắt của quần chúng cách mạng sáng như sao, tâm hồn của quần chúng cách mạng trong trắng như tuyết”.
Bài báo cũng cảnh cáo trước cho “quần chúng cách mạng” hay rằng giai cấp tư sản vô cùng xảo quyệt và đã bí mật trữ sẵn vàng bạc, vũ khí trong nhà để khi có cuộc tấn công chống lại Trung Hoa từ bên ngoài vào thì chúng trở thành đạo quân thứ năm, cộng tác với kẻ thù. Bài báo đã ca ngợi những hành động Cách mạng của Vệ binh đỏ, gọi chúng là “tiểu tướng cách mạng ”, chống lại Vệ binh đỏ là chống lại cuộc Cách mạng Văn hóa. Bài xã luận nhắc nhở mọi người phải có cảnh giác trước trào lưu phản nghịch đó và tránh, đừng để trào lưu có ảnh hưởng. Những tên “cò mồi” cho tư sản sẽ bị “quần chúng cách mạng thẳng tay trừng trị, bị quét sạch và bị ném vào sọt rác lịch sử”.
Bài báo vô trách nhiệm dễ sợ, vì nó không đưa ra một định nghĩa rõ ràng ai là quần chúng cách mạng được quyền nhận diện và trừng trị kẻ thù, ai là “cò mồi” cho tư sản phải bị tiêu diệt và ném vào sọt rác lịch sử. Bài báo ấy đã khiến tôi tin chắc rằng Mao Trạch Đông và cái ủy ban được đặc biệt tuyển chọn để lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa đã có ý định mở rộng mục tiêu tấn công và gia tăng cường độ bạo lực chống lại những kẻ mà họ liệt vào hàng ngũ kẻ thù. Cũng không nên bỏ qua cái lạnh lùng tàn nhẫn của bài xã luận ấy. Tuy là một bài xã luận, nhưng cái ý nghĩa thực sự của nó là những chỉ thị chỉ đạo. Do đó, nó được lập tức tuân thủ và triển khai ngay: nhịp độ của cuộc Cách mạng Văn hóa ở Thượng Hải tăng nhanh, tăng mạnh thấy rõ. Ban Bí thư và chính quyền thành phố không thể thi hành nghị quyết mười điểm. Tôi biết các “ông” Vệ binh đỏ sắp quay lại nhà tôi. Và tôi cũng biết lần này thái độ của các “ông” sẽ không khoan nhượng và còn thù nghịch hơn. Tôi cho là nên hối thúc các gia nhân của tôi sớm rời khỏi nhà này và trở về nhà họ thì hay hơn.
Anh bếp nói là vì anh không ngủ lại tại nhà tôi, cho nên anh có thể đi hay đến tự do, cho đến khi các Vệ binh đỏ bảo không được đến nữa thì thôi. Lão bộc thì nói: “Tôi chả sợ gì mà không ở lại. Bà cũng cần có ai đi chợ cho bà chứ. Bây giờ mà bà đi ra ngoài là không có yên thân đâu. Tôi, gốc gác gia đình nghèo. Con trai tôi ở trong quân đội và là đảng viên. Chúng tôi đúng là vô sản thứ thiệt. Vệ binh đỏ phá phách và tịch thu hết rồi, chúng nó còn làm gì được nữa? Nếu chúng nó bắt tôi phải rời khỏi đây, ừ, thì lúc đó tôi đi. Nếu không, tôi cứ ở lại”. Bà vú khóc lóc và cứ đòi ở lại với con gái tôi.
Trong những lúc như thế này, lòng trung hậu của các gia nhân của tôi thật là một cái gì cao quí, khiến tôi hết sức cảm động. Tôi cũng không nhấn mạnh đòi họ phải đi ngay lập tức. Bởi vì, có họ trong nhà lúc này dầu sao cũng hơn là một mình chờ đợi các “ông” Vệ binh đỏ đến. Tuy nhiên khi anh bếp đi chợ về và mua cho tôi vài tờ giấy, tôi đã viết thư cho con gái của bà vú lúc đó đang sống trong thành phố khác, nói chị ta đến đón bà già về. Tôi cảm thấy có trách nhiệm lo cho bà vú hơn là lão bộc và anh bếp.
Con gái tôi về nhà và cho biết lúc đó trụ sở của chính quyền thành phố đang bị Vệ binh đỏ bao vây và đòi rút lại nghị quyết mười điểm, tố cáo nghị quyết ấy là một văn kiện nhằm bao che cho bọn tư sản. Tôi không lấy làm ngạc nhiên. Con gái tôi cho biết là một tay chân thân tín của Giang Thanh đã được chỉ định lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa ở Thượng Hải.
“Tên y là Trương Xuân Kiều. Vài người ở xưởng phim nói là trong những năm thập niên ba mươi, Giang Thanh là diễn viên thì y là nhà báo. Mấy người trong xưởng phim biết rõ hai người này đều rất lo sợ. Có người đã sẵn sàng khăn gói để vào tù. Dường như họ tin rằng Trương Xuân Kiều sẽ tống họ vào tù để bịt miệng những người này, để những người này không nói gì được về y và Giang Thanh trong những năm ba mươi. Má à, má có nghĩ là những nam nữ diễn viên vô tội này sẽ bị tống giam không, má?”
Con gái tôi vừa bối rối vừa xúc động vì những gì nó nghe được ở xưởng phim. Nó đâu biết gì về Thượng Hải vào thập niên ba mươi. Tôi cũng chẳng hiểu Giang Thanh và Trương Xuân Kiều sợ cái gì và cũng chẳng hiểu các nam nữ diễn viên kia đã biết những gì về họ đến nỗi phải nguy hiểm như vậy.
- Tối nay con có thể ngủ ở nhà được không? – tôi hỏi và hy vọng có được một buổi tối để trò chuyện cùng nó về tình hình.
- Con sợ là không được đâu má à! Thật ra, con phải lén về nhà chút xíu xem má làm sao và Vệ binh đỏ có quay trở lại không mà thôi. Tất cả những người khác đều ở lại xưởng phim, một cuộc họp khẩn được tổ chức để học tập bài báo quan trọng của tờ Nhân dân nhật báo. Con nghe nói là bài ấy là do một tay thân cận của Mao Chủ tịch viết, vì vậy rất quan trọng và phản ánh lập trường, quan điểm của Mao Chủ tịch.
Nó nói và vội nhìn đồng hồ: “Trời đất, thôi con phải đi ngay thôi”.
Lão bộc bưng vào một tô mì và nói: “Ăn chút đi đã, nguội rồi đó. Cô không ăn cái gì thì không đi được đâu!”
Con gái tôi cầm đũa và gắp vài sợi mì bỏ vào miệng, nhai rồi nói với lão: “Cám ơn lão nhiều lắm. Con phải đi ngay thôi”.
Nó hôn phớt tôi một cái rồi vọt ra cửa. Tôi có nhiều điều muốn nói với nó nhưng chẳng có thì giờ.
Lão bộc mang cho tôi cái radio của lão để tôi nghe bản tin buổi chiều. Trên tất cả các làn sóng, độc chỉ có phát thanh bài báo đăng trên tờ Nhân Dân nhật báo. Người xướng ngôn đã đọc bằng một giọng the thé, gay gắt mà có đến bao nhiêu năm sau tôi cũng có thể nhận ra. Tôi cứ mở radio, để dò sóng hi vọng may ra nghe được tin gì mới chăng. Nhưng cũng chẳng có gì khác, ngoài bài báo đó được đọc đi đọc lại mãi, tôi cảm thấy trằn trọc, khó ngủ. Tôi nghe đi nghe lại bài báo đó, nhiều lần đến nỗi gần như thuộc lòng.
Sáng hôm sau, anh bếp cho tôi biết ngoài chợ rất khan hiếm thực phẩm vì những người nhà quê quanh thành phố từ trước tới giờ vẫn đem rau, cá, tôm… ra bán nay đã hưởng ứng lời kêu gọi của Mao Chủ tịch về tham gia hàng ngũ “quần chúng cách mạng” để tiến hành cuộc “Cách mạng Văn hóa”. Họ ồ ạt kéo nhau vào thành phố, chiếm ngụ nhiều khách sạn ở những khu doanh nghiệp của Thượng Hải. Những người lãnh đạo của họ đã đòi hỏi – và đã được thỏa mãn – các quản lý khách sạn ấy phải lo cho họ ăn uống và dịch vụ miễn phí. Nghe tin là những tiện nghi sang trọng như vòi tắm nước nóng, giường nệm, lò xo, những căn phòng trải thảm được dùng thả dàn khỏi mất tiền nên đám nhà quê – kể cả đàn bà con nít – rần rần kéo nhau đi theo đám đàn ông thanh niên ra thành phố, lợi dụng mấy ngày để rong chơi cho thỏa thích và thỏa trí tò mò. Trong khi đó, các Vệ binh đỏ đáp xe lửa từ Bắc Kinh và từ các tỉnh phía Bắc kéo xuống Thượng Hải để “trao đổi kinh nghiệm cách mạng” với Vệ binh đỏ Thượng Hải. Cùng lúc đó thì Vệ binh đỏ Thượng Hải lại rần rần kéo nhau đáp tàu đi Bắc Kinh với hy vọng được Mao Chủ tịch tiếp kiến. Vệ binh đỏ chiếm và bắt buộc xe lửa, tàu thủy phải chở chúng. Hành khách thường bị đuổi xuống, đứng ngơ ngáo, sớ rớ chật ních sân ga, bến tàu, không ai dám phản đối các ông “Vệ binh đỏ”. Bị bài báo trên tờ Nhân Dân nhật báo ám chỉ là “cò mồi của tư sản”, các viên chức chính quyền thành phố “teo” hết và không dám làm gì ngăn cản, các “ông kẹ” Vệ binh đỏ mặc sức tự tung tự tác.
Bị thêm đòn lên án nghị quyết mười điểm nữa, thế là chính quyền thành phố Thượng Hải lâm vào thế tự vệ. Để khỏi bị lôi thôi, rắc rối, nguy hiểm rất có thể và dễ dàng xảy ra, chính quyền thành phố Thượng Hải đã cấp phát lương thực, thực phẩm miễn phí cho tất cả các Vệ binh đỏ tới và rời khỏi Trung Hoa. Các quầy thực phẩm được thiết lập dài dài trên khắp các nhà ga, bến tàu. Tất cả các cửa tiệm làm mì sợi và làm bánh mì đều được trưng dụng để sản xuất bánh mì và mì sợi để cung cấp cho Vệ binh đỏ. Cố ý moi ra cho được những “sai, lỗi” của chính quyền thành phố Thượng Hải, các “ông kẹ” Vệ binh đỏ đã tố cáo là các lò bánh mì sản xuất bánh mì theo kiểu phương Tây và coi đó là “thức ăn ngoại quốc” nên từ chối không ăn. Trong lúc đó thì công nhân các xí nghiệp cũng “hợp đồng” gia nhập “quần chúng cách mạng ” và tổ chức thành Vệ binh đỏ của công nhân. Để làm cho chính quyền thành phố Thượng Hải thêm bối rối, họ đưa ra những yêu sách kinh tế quá đáng. Vừa để thủ thân vừa tranh thủ sự ủng hộ của “Vệ binh đỏ công nhân”, các viên chức chính quyền thành phố đã tăng vô tôi vạ các khoản tiền thưởng và lợi ích cho công nhân. Chỉ sau vài ngày, ngân quỹ của thành phố sạch bách. Những yêu sách của công nhân không được thỏa mãn, thế là đám “Vệ binh đỏ công nhân” nổi giận và liên kết với Vệ binh đỏ “chính thống” tấn công chính quyền địa phương và các viên chức lãnh đạo chính quyền thành phố. Đằng sau các hoạt động của các Vệ binh đỏ “chính thống” và Vệ binh đỏ “công nhân” là bàn tay của Trương Xuân Kiều, y ngự trong khách sạn quan trọng là khách sạn Hoà Bình để lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa. Khách sạn này lúc đó biến thành tổng dinh của những người theo Mao khi bọn này đến Thượng Hải, mãi cho đến khi chính quyền và Ban Bí thư thành ủy Thượng Hải bị “những người cách mạng” lật nhào vào tháng giêng năm sau đó.
Một số ít bạn của con gái tôi là giáo viên trung học. Nhờ họ cũng mang băng tay đỏ nên thỉnh thoảng họ tạt qua ghé thăm tôi, mà không bị chú ý. Lão bộc cũng lợi dụng thời gian tạm lắng dịu – không có Vệ binh đỏ đến nhà tiến hành các “hoạt động cách mạng” – để đi thăm bạn bè của lão và để trà trộn vào đám đông ngoài đường phố. Con trai của anh bếp, một công nhân xí nghiệp cũng đến thăm ba nó tại nhà tôi và kể cho ba nó nghe về tình hình trong xí nghiệp của nó. Những chuyện nó kể lại thật đáng ngạc nhiên. Sự miễn cưỡng của Đảng ủy và của các viên chức chính quyền trong thành phố khi phải thi hành quyền lực của mình là một sự hết sức bất thường khiến tôi phải tự hỏi là phải chăng có một cái gì khác hơn cái mục tiêu của cuộc Cách mạng Văn hóa đã được công khai nói ra, tức là tiêu diệt tàn dư giai cấp tư sản và thanh lọc hàng ngũ viên chức chính quyền và trí thức?
Một hôm, anh Tiêu Tú một giáo viên bạn của Mai Bình đến nhà thăm nó nhưng nó lại ở xưởng phim, không có nhà. Anh đã cho tôi biết là Vệ binh đỏ đã cho phá hủy ngôi nhà thờ chính tòa công giáo. Ngôi nhà thờ có hai tháp cao và là một trong những tiêu điểm của thành phố. Ban đêm, Vệ binh đỏ đã đột nhập thư viện thành phố và phá hủy một số lớn sách quí hiếm. Đến viện bảo tàng lịch sử, chúng không phá được cửa sắt quá vững chắc của viện, chúng bèn đến nhà riêng ông giám đốc, ông già đang bệnh nằm liệt giường bị chúng dựng dậy để đấu tố.
“Ông ấy bây giờ phải vào nằm nhà thương. Có người nói ông bị chết rồi, Vệ binh đỏ thật quá dã man. Cháu nghĩ là bác nên cố gắng đem Mai Bình trốn qua Hồng Kông ngay đi.” Tiêu Tú nói với tôi như vậy.
- Cháu nghĩ là Mai Bình có chịu đi không? - Tôi hỏi như thế vì đã có lần, nó ở nhà tôi lúc đang sửa soạn đi Hồng Kông, con gái tôi nói là chúng không muốn sống như là một công dân hạng nhì ở cái xứ thuộc địa ấy.
- Tình hình bây giờ khác rồi. Sau cuộc Cách mạng Văn hóa thì đám con cái của gia đình có gốc gác không phải là giai cấp lao động sẽ chẳng có tương lai gì cả. Trước kia, chúng cháu – nghĩa là con cái các gia đình không phải là giai cấp lao động – đã phải nỗ lực làm việc gấp hai những đứa cùng tuổi thuộc gia đình lao động mà cũng chẳng tiến thân được, nhưng ít ra chúng cháu cũng có một đời sống riêng tư tương đối thoải mái. Nhưng mai đây, chúng cháu sẽ là một thứ tiện dân cùng mạt như bên Ấn Độ. Con, cháu, chắt, của tụi cháu rồi sẽ đau khổ như vậy thôi, chỉ còn có một đường trốn đi. Bác có nhiều bè bạn ở nước ngoài. Tại sao bác không đem Mai Bình đi? - Hắn thúc giục tôi vậy.
- Bác nghĩ bây giờ mà trốn đi là trễ rồi. Cháu biết hình phạt nào dành cho kẻ trốn sang Hồng Kông chứ? Nặng lắm, cháu ơi, mười lăm, hai mươi năm tù gì đó.
- Không quá trễ đâu. Cháu đã thăm dò rồi. Hệ thống đường sắt bây giờ lộn xộn, chẳng có ai mua vé hay là giấy phép đi đường gì nữa. Vệ binh đỏ ở khắp các nơi trên đất nước này cứ nhảy đại lên xe lửa. Chẳng ai hỏi han gì, cháu đã thăm dò cả ở nhà ga và bến tàu, không có người thu vé, bán vé gì cả. Chẳng ai có quyền gì ráo.
- Bác nghĩ là lúc ở trên tàu, bác sẽ bị nhận diện và bị hất xuống hay là bị đánh đập.
- Thì cả bác lẫn Mai Bình đều hóa trang làm Vệ binh đỏ. Cháu sẽ kiếm cho bác cái băng tay. Cháu đã làm như vậy cho mấy đứa bạn cháu.
- Bác nghĩ là bác già rồi, giả làm Vệ binh đỏ không được.
- Bác chỉ việc cắt tóc ngắn đi, tay cầm cuốn sổ đỏ giả bộ chăm chú đọc. Bác lấy cái nón chụp kín lên đầu. Có ai hỏi thì bác nói là giáo viên. Còn Mai Bình thì thành Vệ binh đỏ quá dễ. - Khi tôi lắc đầu nó nói:
- Cháu nói thật, có bác điên mới không nghĩ đến chuyện chạy trốn đi. Dù sao đi nữa, khi Mai Bình về, bác cứ dắt chị ấy đi.
(Năm 1980, tôi gặp lại Tiêu Tú tại Hồng Kông. Anh ta nói với tôi là anh đã quay trở lại bờ bên này khi anh ta cố gắng đi xe lửa để đến Hồng Kông. Về sau anh ta bơi qua Ma Cao. Ít năm sau anh qua Hồng Kông. Anh ta làm việc cật lực để dành tiền. Năm 1980 anh ta đã có cổ phần ở xí nghiệp sản xuất đồ chơi ở Cửu Long. Sản phẩm xí nghiệp của anh ta được xuất khẩu bán nhiều nơi trên thế giới. Sau khi Mao chết, tình hình ở lục địa Trung Hoa thay đổi khá hơn, anh ta có ý định làm một chuyến đi Thượng Hải để thăm bà mẹ còn ở đó).
Tôi đang ở trong nhà tắm thì nghe tiếng ngoài cổng đập rầm rầm giận dữ. Xuống được nửa cầu thang thì tôi đụng đầu với cô gái khoảng 15 tuổi. Cô ta bận đồng phục bằng vải kaiki, trên đầu có chiếc mũ đội ngay ngắn, nhưng cái “lưỡi trai” chụp xuống tận ngang mày khiến cho đôi mắt cô ta phải nhướng lên, cái áo của cô ta bị túm chặt trong dây lưng bằng da to bản, có khóa sáng loáng, tay cầm roi da.
- Mày là kẻ thù giai cấp trong nhà này phải không? Sao mày mập thế? Hai gò má mày núng nính, hai mắt mày híp. Mày mập ú vì mày đã hút máu và sức lực của công nhân, nông dân. Nhưng, cho mày hay, bây giờ mọi sự đã khác rồi. Mày sẽ phải đền các tội ác mà mày đã phạm. Đi theo tao!
Cứ theo giọng nói thì tôi biết cô bé này là Vệ binh đỏ từ Bắc Kinh xuống, cũng tương tự như cô bé kia đang đứng trong phòng khách, trước cửa phòng ăn. Cô bé đi vào phòng ăn, tôi đi theo. “Quỳ xuống”, một trong những “ông lỏi” Vệ binh đỏ thét lên. Đồng thời cây gậy của nó quất tới tấp vào lưng tôi. Một “ông lỏi” khác phang bể tấm kính của phòng tắm. Nó vung gậy quất lung tung và quất vào chỗ nhượng của tôi. Tôi đang lưỡng lự không biết có nên theo lệnh mà quỳ xuống hay không thì cú đập vào nhượng làm cho tôi khuỵu xuống.
- Tủ sắt ở đâu? - Một tên trong bọn hỏi.
- Những Vệ binh đỏ đã đến đây trước lấy đi rồi!
- Chúng lấy đi hết sao?
- Không, còn để lại cho tôi hai trăm đồng để sống.
- Hai trăm ấy đâu?
- Trong ngăn kéo trên bàn giấy của tôi ở trên lầu!
Một ông lỏi vệ binh đi ngang đá tôi một cái rồi chạy lên lầu cùng với những đứa khác, để cô bé có roi da ở lại canh chừng tôi. Cô bé nhứ roi vun vút trong không khí suýt chạm vào đầu tôi mấy lần. Mấy đứa kia ôm cả ngăn kéo xuống và thẩy tiền trên mặt bàn ăn. Chúng bảo tôi quay lại, đứng úp mặt vào tường. Tôi nghe thấy chúng đếm tiền.
Có tiếng động của nhiều người nữa đi vào. Tôi tự hỏi không hiểu có phải là cổng mở toang ra hay sao. Nhưng tôi nghe tiếng một người đàn ông ra lệnh cho lão bộc gọi bà vú và anh bếp đến. Rồi tiếng nói ấy với một người nào đó: “Đem chúng lên lầu để thẩm vấn”.
Những ông Vệ binh đỏ ấy đi vào trong nhà và tới phòng ăn. Có tiếng nói: “Con mụ ấy ở đây”.
Cũng cái tiếng nói đàn ông lúc nãy: “Bây giờ các đồng chí có thể đi được. Để mụ đó cho chúng tôi xử lý”.
Tôi nghe thấy các ông các bà Vệ binh đỏ đi ra, vừa đi vừa quất roi, quất gậy vào đồ đạc vào tường chan chát. Chúng xô mạnh cửa ra vào rầm rầm khiến cả nhà rung lên.
- “Đứng dậy! Lại đây!”, tiếng người đàn ông ra lệnh.
Tôi đứng dậy và quay mặt về phía những người mới đến. Người đàn ông vừa nói là một người tầm thước, hơi mảnh khảnh mang cặp kính râm có cả hai người đàn ông khác nữa và một người đàn bà trong phòng. Tất cả đều mặc quần vải, áo sơ mi rông thùng thình và chiếc áo ngoài của dân lao động. Họ nói năng thì nghe có vẻ có chút học thức. Băng tay của họ có chữ “Cách mạng”. Họ ngồi xuống thành hình vòng cung đối diện với tôi. Người đàn ông nói:
- Mày là kẻ thù giai cấp ở trong nhà này. Mày có tội âm mưu với ngoại bang như trên báo đại tự dán trước cổng nhà mày viết đó. Mày có phủ nhận điều đó không?
- Dĩ nhiên là tôi phủ nhận! Nhưng các ông là ai mới được chứ? Các ông muốn gì?
- Chúng ông là những người Cách mạng vô sản.
- Tôi chưa bao giờ nghe thấy cái danh hiệu ấy!
- Rồi sẽ nghe thôi, nghe nhiều nữa kìa! Chúng ông là những người cách mạng đại diện cho giai cấp công nhân, là giai cấp đang thống trị ở Trung Hoa. - Hắn nói và hất cái cằm lên, vênh váo.
- Chứ không phải là Đảng Cộng sản Trung Hoa đại diện cho giai cấp công nhân ở Trung Hoa sao? Tôi hỏi.
- Câm ngay! Chúng tao không thèm lý sự với mày. Mày là kẻ thù giai cấp công nhân ở Trung Hoa. Chúng tao hưởng ứng lời Mao Chủ tịch, tham gia cuộc Cách mạng Văn hóa vô sản vĩ đại. Bấy nhiêu là quá tốt rồi! - Mụ đàn bà áp đảo tôi bằng một tràng như vậy.
Người đàn ông nói tiếp:
- Mày là kẻ thù giai cấp và là chó săn đế quốc Anh, Mỹ. Mày đã theo học trường đại học do bọn Mỹ tài trợ ở Bắc Kinh, rồi theo học đại học ở Luân Đôn. Từ lúc còn bé mày đã được huấn luyện để phục vụ cho bọn đế quốc!
Tôi im lặng vì chẳng có gì phải nói với họ.
- Mày mắc cỡ quá, nói không được phải không? - Mụ đàn bà lên tiếng hỏi.
- Việc gì tôi phải mắc cỡ! Có thiếu gì người tốt nghiệp đại học Điêu Ninh (Yanjing) bây giờ cũng là lãnh tụ Đảng Cộng sản. Theo học ở đó không có nghĩa là chó săn cho bất cứ ai. Trường Đại Học Kinh Tế là một trường có khuynh hướng tả do tổ chức Xã hội Fabian – chi nhánh nước Anh thiết lập nên. Chính trường này lần đầu tiên tôi đọc Tuyên ngôn của người cộng sản do Marx - Engels viết đó.
- Ha, ha, ha diễu quá ta ơi! Kẻ thù giai cấp, con chó săn của bọn đế quốc mà lại đọc tuyên ngôn của người Cộng sản. Tiếp sau đây mày sẽ nói là mày muốn gia nhập Đảng Cộng sản nữa! - Người đàn ông mang kính râm cười và nói mỉa mai, chế diễu như vậy.
Người đàn bà nói:
- Lênin đã tố cáo bọn Fabian là bọn cơ hội, bọn cải lương. Chúng không phải là các nhà xã hội thứ thiệt bởi chúng không chủ trương cách mạng bằng bạo lực. Đừng hòng tranh thủ tình cảm chúng tao. Mày chỉ còn có một con đường là thú nhận tội lỗi.
- Tôi là một công dân tôn trọng luật pháp - tôi nói – tôi làm việc cho xí nghiệp ngoại quốc và không cơ hội nào để lui tới chỗ bí mật quốc gia. Tôi không biết một chính quyền ngoại quốc nào. Và cũng chẳng chính quyền nào biết tôi.
- Mày biết quá ấy chứ – một người đàn ông khác nói – mày giao du thân mật với nhiều quan chức ngoại quốc.
- Mày khỏi cần làm bộ tức tối – người đàn ông thứ ba nói chen vào – tất cả các công nhân cao cấp của xí nghiệp ngoại quốc đều là gián điệp chứ không chỉ riêng mày đâu!
- Làm sao mà các chính quyền ngoại quốc lại tin chúng tôi được – tôi hỏi vặn lại – họ nắm vào cái gì để sai khiến chúng tôi, những người sống trên đất Trung Hoa này?
- A, hầu hết tụi mày đều có tiền gởi ngân hàng ngoại quốc. Mày có chối là mày không có tiền gởi ngân hàng ở nước ngoài không nào?
- Đó, chúng nó nắm vào chỗ đó đó – mụ đàn bà nói – nắm vào cái chỗ tiền của tụi mày gởi ngân hàng ngoại quốc đó.
- Các vị chẳng hiểu gì cả. Chính phủ nước ngoài không xía vào chuyện làm ăn của một ngân hàng tư. Họ không được phép tịch thu tiền của ai gởi trong chương mục.
- Tại sao mày lại gởi tiền ở nước ngoài? Một người dân Trung Hoa sao lại phải gởi tiền ở ngân hàng nước ngoài?
- Tôi thường có những chuyến đi Hồng Kông để lo liệu công việc. Lúc ở đó, tôi phải trả tiền ăn, tiền khách sạn. Các vị cũng biết, qua đó, tôi đâu có được đem tiền từ trong nước đi. Phải qua ngoại hối. Mỗi lần đi ra khỏi nước, tôi chỉ được đổi năm đô. Ngoài ra, tôi phải có tiền để mua than, mua nhiều thứ khác nữa ở cửa hàng Trung Hoa Hải Ngoại. Ngay trên đất Trung Hoa, cửa hàng ấy lại chỉ bán hàng và thu bằng ngoại tệ. Tôi gởi tiền ở ngân hàng nước ngoài ít hơn gởi ngân hàng Thượng Hải. Tôi có nhà cửa ở đây. Tôi chỉ có một đứa con ở đây. Đối với tôi, con tôi là cái gì đáng quí hơn hết mọi sự trên đời này. Nó là Đoàn viên Thanh niên Cộng sản. Vậy thì tôi chống Đảng Cộng sản, chống chính quyền nhân dân để làm gì, để được gì?
- Dù con mày có là Đảng viên thì mày vẫn có thể chống lại Đảng Cộng sản như thường. Đó là bản năng giai cấp, - người mang kính râm nói. Dường như y là người lãnh đạo của nhóm này.
Thêm mấy người đàn ông và đàn bà khác đi vào trong phòng theo sau là mấy gia nhân của tôi. Người đàn ông mang kính nhìn họ. Những người mới đến lắc đầu. Hiển nhiên họ không đạt được điều họ muốn nơi các gia nhân của tôi.
Người đàn ông mang kính râm nghiêm giọng hỏi tôi:
- Mấy giấu vàng và vũ khí ở đâu?
- Vàng nào? Vũ khí nào?
Tôi ngạc nhiên vì câu hỏi. Nhưng tôi nhớ lại bài báo chỉ đạo của Nhân Dân nhật báo.
- Vàng nào? Vũ khí nào mày biết thừa đi rồi còn cứ vờ vĩnh mãi, khai ra đi.
- Tôi không có vàng mà cũng chẳng có vũ khí nào cả. Vệ binh đỏ đã đến đây. Trong nhà này, từ trên xuống dưới, không một xó xỉnh nào không bị lục xét. Họ chẳng tìm thấy vàng, thấy vũ khí nào hết.
- Bọn bay quái lắm chứ. Bọn bay dấu đi hết. Nhưng lãnh tụ vĩ đại của chúng ông đã dạy là giai cấp thù nghịch giấu vàng và vũ khí. Và người không thể sai lầm được. Chúng ông sẽ tìm ra – người đàn ông lãnh đạo nhóm hầm hè – Mày không khai, lúc đó mày sẽ biết. Chúng ông sẽ trừng trị mày đến nơi đến chốn. Nói đi! Giấu những thứ đó ở nơi nào trong nhà này.
Tôi tự hỏi không hiểu bọn này thực sự tin vào bài báo chỉ đạo hay chỉ làm bộ tin vậy thôi. Sau khi cộng sản nắm chính quyền vào năm 1949, sự sở hữu vũ khí bị coi là bất hợp pháp. Những ai có vũ khí phải giao nạp chính quyền và nhà cửa bị lục soát. Quân nhân và cảnh sát của chế độ Quốc Dân Đảng bị bắt và đưa vào các trại lao động cải tạo. Gia đình họ bị đuổi khỏi nhà. Bởi vậy, năm 1966 mà còn nói là có người thường dân Trung Hoa nào cất giấu vũ khí trong nhà là phi lý.
Tuy nhiên, các “ông cách mạng” đã dẫn tôi và các gia nhân đi lục khắp trong nhà. Họ rạch giường, nệm ghế, cạy gạch tường phòng tắm, ngoáy trong bếp, quậy lò sưởi, leo lên trần, cạy ván sàn, trèo lên mái nhà, khoắng thùng nước trên nóc trần, luồn xuống dưới sàn để xem các ống (dẫn nước, khí đốt). Trong khi họ lục soát như vậy, họ luôn luôn nhìn vào nét mặt tôi và nét mặt các gia nhân để dò phản ứng.
Tôi không còn biết giờ giấc lúc đó ra sao nữa. Nhưng trời tối lâu rồi. Vậy mà họ vẫn quyết định đào xới vườn. Bầu trời u ám. Trời tối đen. Họ bật đèn chỗ sân hiên lên và bảo lão bộc đưa cây đèn pin. Khi họ đến chỗ để than, họ bảo tôi và đám gia nhân dẹp than ra chỗ góc vườn mà họ đã lục soát. Bãi cỏ ẩm ướt dính đầy tro than, bị dẫm nát, biến thành đám bùn nhão nhoét. Các luống hoa bị đào tung lên. Họ nhấn xẻng xuống đất quanh các bụi cây. Cây cảnh bị nhổ khỏi chậu, không tìm thấy gì hết. Bởi vì có gì đâu mà tìm. Các “ông cách mạng”, các gia nhân của tôi lại lấp lại tất cả. Bùn, tro than và mồ hôi!
Sau cùng, sự mệt nhoài đã thắng được nhiệt tình cách mạng của các ông cách mạng. Họ giận sùi bọt mép, mất mặt và không tìm thấy gì hết. Tôi biết, nếu tôi không làm một cái gì để vớt vát thể diện của mấy ông thì chắc mấy ông sẽ trút cơn lôi đình lên đầu tôi. Nếu tôi chỉ cần hé ra một cái gì đó coi như là vàng vàng, chẳng hạn cái cà rá hay cái vòng đeo tay thì chắc tránh được sấm sét. Tôi nhớ lại đồ nữ trang của tôi bị niêm trong thư phòng của Mai Bình.
- Các Vệ binh đỏ đã gom cà rá, vòng tay, nữ trang của tôi và để trong phòng đã bị niêm phong kia kìa. Các ông có thể mở ra và lấy đi. Và nếu vậy thì xin làm ơn báo cho các ông Vệ binh đỏ biết kẻo các ông ấy lại nghi ngờ tôi. - Tôi nói với “bà cách mạng” như vậy.
- Đừng làm bộ khùng, chúng tao tìm vàng khối, vàng nén kia.
Chúng tôi đứng trong phòng khách. Ông mang kính râm đã chịu gỡ cặp kính ra, để lộ đôi mắt đỏ ngầu. Ông liếc đám gia nhân đứng co ro cóm róm ở cửa bếp. Ông nhìn các đồng sự cách mạng đứng quanh ông. Rồi trừng trừng nhìn vào tôi. Bỗng ông quát lớn “Mày dấu vàng và vũ khí ở đâu?”, ông bước một bước về phía tôi, dáng điệu hầm hè.
Tôi rất mệt mỏi, đến nỗi đứng không muốn vững nữa. Cố gắng lắm tôi mới nói được: “Giản dị là không có. Nếu có thì các ông đã tìm thấy”.
Sự kiện chứng tỏ ông sai lầm là điều ông không sao chịu được. Nhìn trừng trừng vào tôi, căm giận: “Khỏi cần, chúng ông chưa đập tường ra mà!”
Ông đứng rất gần tôi. Tôi nhìn rõ từng chi tiết trên khuôn mặt có vẻ chế nhạo của ông. Mặc dầu tôi thấy ông có vẻ giận dữ cực điểm và tôi muốn lùi lại một, hai bước, nhưng tôi vẫn không thèm nhúc nhích vì tôi không muốn ông nghĩ là tôi sợ. Tôi chỉ chậm rãi nói, bằng một giọng bình thường và có vẻ thân thiện nữa là khác:
- Ông nên bình tĩnh. Nếu tôi có dấu cái gì trong tường thì tôi cũng không thể tự làm được. Cũng cần có thợ hồ để tô lại mảnh tường đó. Tất cả các công nhân đều làm việc trong các xí nghiệp do nhà nước kiểm soát. Họ phải báo cáo cho ông bí thư chi bộ về loại công việc họ làm.
Tôi mệt quá đến nỗi tôi thật sự phải cố gắng lắm mới nói được.
Ông cách mạng giận phát điên lên bởi vì tôi hàm cái ý ông nói phi lý. Ông giận, mặt ông trắng nhợt ra, môi ông run run. Tôi thấy mạch máu trên thái dương ông giựt giựt. Ông giơ tay lên tính đánh tôi.
Ngay lúc đó con Fluffy – tên con mèo của Mai Bình – từ cửa bếp nhảy ra, nhảy lên phía sau chân ông cắn một miếng cắm ngập vào ngay bắp chân ông. Đau quá, ông thét lên, cuống cuồng nhảy lò cò và cố giẫy con mèo ra. Mấy người kia cố túm lấy con mèo, nhưng nhanh như một tia chớp, nó đã vượt qua cửa sổ để ngỏ và ra ngoài. Tất cả đều đổ xô chạy ra vượt theo. Nhưng con mèo đã tót lên cành cây mộc lan, ngoài tầm với của mọi người. Từ trên cành cao đó, mèo ta dòm xuống, kêu meo meo như chọc tức. “Ông cách mạng” bị thương tức gần như phát điên lên. Quần bị rách, máu chảy ròng ròng, ông nhào tới cái cây và ra sức rung. Còn mèo tót lên cành cao hơn và đảo đôi mắt khinh thị nhìn một vòng rồi tót sang mái nhà bên cạnh và mất hút trong bóng tối. Chúng tôi quay trở vào phòng khách. “Ông cách mạng” ngồi xuống ghế tràng kỷ mà các ông lỏi Vệ binh đỏ đã đập cho gẫy. Ông bảo bà vú đem thuốc hoặc iốt nhưng bà nói là các ông Vệ binh đỏ đã liệng đi hết ráo rồi.
Các “ông bà cách mạng” ấy tỏ ra rất bối rối khi thấy vị lãnh đạo của mình đã mất cái vẻ oai phong – ông lấy khăn tay ra chùi vết máu do mèo cắn – và “xìu” thấy rõ. Mấy gia nhân của tôi đã khôn khéo lợi dụng lúc ấy để chuồn êm vào bếp. Một “bà cách mạng” đã đẩy tôi vào một phòng bên cạnh và nói: “Chúng tao không thèm sự giúp đỡ và sự ái ngại của mày. Mày đã nuôi con mèo dại trong nhà để tấn công những người cách mạng. Mày sẽ bị trừng trị. Còn con mèo, chúng tao sẽ báo cho ban liên gia tìm cho ra và đập chết. Mày tưởng cho mèo cắn chúng tao, chúng tao sẽ rút lui thì mày lầm to. Chúng tao sẽ còn tìm gắt hơn nữa vàng và vũ khí của mày”. “Bà cách mạng” đẩy tôi vào phòng, khóa trái cửa lại. Thế là một lần nữa tôi bị biệt giam trong phòng ăn.
Có thật sự họ tin là tôi có vàng và vũ khí không? Tôi băn khoăn tự hỏi, hay họ chỉ tuân lệnh Mao mà đi lùng sục vậy thôi? Và nếu họ chỉ tuân lệnh Mao thì họ làm bấy nhiêu tưởng đã đủ.
Tôi nghe thấy lão bộc đứng ngoài vườn thì thào khẽ gọi tôi. Tôi ra mé cửa sổ: “Anh bếp đã đến xưởng phim nói Mimi tối nay đừng về nhà – lão thì thào với tôi – được không bà?”
- Cám ơn lão, nghĩ vậy rất đúng. Tối nay nó đừng có mặt ở nhà là hay nhất.
Thình lình tôi nghe thấy tiếng búa động rầm rầm vào cánh cổng. Lão vội chạy ra mở. Và lão quay lại cho tôi biết đám Vệ binh đỏ đã đến trước kia nay quay trở lại.
- Lão quay về phòng của lão đi. Và bảo cả bà vú nữa – tôi cũng thấy lo âu thêm.
Có tiếng nhiều người chạy lên chạy xuống cầu thang và tiếng quát tháo rầm rĩ. Những tiếng cãi cọ xen lẫn tiếng đánh lộn. Tôi chẳng thể làm gì khác hơn là cam chịu, nhìn nhà cửa của mình bị phá phách. Tôi kéo ba cái ghế kê sát lại và nằm lên. Tôi mệt nhừ, đến nỗi trong nhà đang ầm ầm như vậy mà tôi thiếp đi lúc nào không biết.
Tảng sáng, một Vệ binh đỏ, mấy vị cách mạng mở bật cửa ra. Dường như họ đã cãi cọ gì với nhau nhưng lúc này đã giải quyết êm rồi. Một đứa con gái quát lên “Dậy đi! Dậy đi”.
“Bà cách mạng” bảo tôi vào bếp kiếm cái gì ăn gấp đi rồi lên lầu “để làm việc cần thiết”. Tôi vào phòng tắm rửa tay. Nhìn vào tấm kính, tôi giật mình vì thấy tóc tai rối bù, mặt mũi sưng húp lên, lợt lạt, bơ phờ, bùn dính trên trán, trên má. Bước lùi lại, tôi thấy mình như cái xác chết của người đàn bà mà người ta moi lên được trong đống gạch vụn sau trận oanh tạc trong tời kỳ chiến tranh Trung – Nhật. Hình ảnh xác chết ấy đã ám ảnh tôi nhiều ngày. Cái xác ấy xuội lơ, không phác được một cử chỉ nhỏ để phản đối nỗi bất hạnh mà số mạng đã bắt mình phải chịu. Hình ảnh cái xác chết, bất lực và rũ rượi đó đã khiến tôi quyết phải sống. Tôi nghĩ cuộc Cách mạng Văn hóa sẽ là một cuộc chiến đấu để tôi giữ gìn thanh danh của tôi. Không những tôi phải sống, mà tôi còn phải cứng như đá tảng, để dù có bị đánh đập tơi bời tôi cũng không bị bể. Mặt tôi sưng húp lên vì lâu quá tôi không uống nước. Tôi chỉ còn có một quả thận mà nay lại không hoạt động được điều hòa. Tôi cần phải uống thuốc ngay.
Vào bếp, tôi uống liền một lúc hai ly nước trước khi ăn cơm với rau mà lão bộc dọn cho tôi. Thật kỳ lạ, sao mà bát cơm đã biến thành sinh lực mau lẹ đến thế và khiến tôi vững tinh thần. Tôi cảm thấy trong người đã dễ chịu hơn.
Một “ông” Vệ binh đỏ mở cửa bếp và quát lên: “Ăn tiệc hay sao mà lâu thế? Nhanh lên!”
Lão bộc và tôi theo “ông” Vệ binh đỏ lên lầu. Bà vú cũng đi theo. Thì ra các ông bà cách mạng và Vệ binh đỏ bảo chúng tôi giúp các vị gói đồ đạc của tôi để các vị … đem đi! Mong cho các vị ra khỏi nhà cho mau, nên tôi cũng mau mắn giúp. Sự có mặt của các ông bà cách mạng và Vệ binh đỏ làm cho tôi khó chịu hơn là sự mất của cải. Đối với tôi, họ như những sinh vật xa lạ từ một thế giới khác không nói cùng với ngôn ngữ với tôi.
Đối với ông bà cách mạng và Vệ binh đỏ thì lão bộc không phải là kẻ thù giai cấp mặc dù họ có thể cho là lão bị lầm lạc và không có sự giác ngộ Xã hội Chủ nghĩa nên đi làm cho tôi. Họ nói với lão một cách thoải mái. Tôi thấy lão còn có vẻ xăng xái để tỏ ra thân mật với họ. Trong khi chúng tôi đang ngồi trên sàn đóng gói đồ đạc vung vãi tứ tung trong phòng thì các “ông” Vệ binh đỏ tranh luận sôi nổi về cuộc hành trình đi Bắc Kinh sắp tới để diện kiến Mao Chủ tịch. Trong số ấy có mấy “ông” đã được diện kiến lãnh tụ vĩ đại tại quảng trường Thiên An Môn ngày 18 tháng 8 và đang hãnh diện nói lại những gì mình đã thấy đã nghe cho các đồng chí chưa được dự.
Họ nói tới vai trò của quân đội trong việc tổ chức đón tiếp, cung cấp các vật dụng như đồng phục kaki, tập luyện cách chào, cách trình diện. Chính các sĩ quan đã chọn các câu nói của Mao và các khẩu hiệu mà họ sẽ phải hô.
Tôi chăm chú nghe những gì họ nói. Vậy là hình như quân đội đứng trong hậu trường để ủng hộ và giật dây các hoạt động của Vệ binh đỏ.
Khi mọi thứ đã được đóng gói xong thì xe tải cũng tới. Nhưng, buồn hết sức: xe chở đồ đi mà Vệ binh đỏ vẫn ở lại. “Bà cách mạng” đã nói với tôi:
- Mày phải ở trong nhà. Cấm ra khỏi nhà. Vệ binh đỏ sẽ thay phiên nhau canh chừng mày.
Tôi ngạc nhiên và giận dữ hỏi chị ta: “Chị lấy quyền gì mà giam tôi trong nhà chứ?”
- Tao có quyền! Quyền của những người Cách mạng Vô sản!
- Mày đi ra ngoài làm gì? Mày đi đâu? Cái thứ mày đi ra đường ấy hả, cứ gọi là người ta xé xác ra. Giam lỏng mày trong nhà này là chúng tao làm ơn cho mày đó, biết chưa. Lão bộc được phép ở lại và chợ búa cho mày. Mày có biết bây giờ ở ngoài đường ra sao không? Cuộc cách mạng đang ở cao điểm, đang sôi sục.
- Tôi không muốn đi đến một nơi nào rõ rệt hết. Nhưng đó là vấn đề nguyên tắc.
- Nguyên tắc là gì? Không muốn đi ra ngoài thì mày giở lý sự ra với tao làm gì? Mày phải ở trong nhà cho đến khi chúng tao quyết định xử lý mày như thế nào. Đó là lệnh.
Nói xong “bà cách mạng” oai nghiêm đi ra khỏi nhà. Tôi giận tái người đi nhưng không biết phải làm sao.
Họ quăng cho tôi tấm nệm để ngủ. Những bộ quần áo sạch để thay đổi và quần áo lót treo trong tủ bây giờ rỗng tuếch. Hai va li đựng quần áo ấm và một bao bố đựng mùng mền xếp ở góc nhà. Ngoài bộ bàn ghế trong bếp, tôi còn được để lại cho hai cái ghế và một cái bàn nhỏ để uống café. Vệ binh đỏ được phân công ở lại canh chừng tôi đã lấy hai cái ghế này kê ngay ngoài cửa phòng tôi và ngồi đó. Thế là, ở trong phòng, nếu muốn ngồi, tôi chỉ còn có thể ngồi lên cái nệm ngủ. Thỉnh thoảng lại có một “ông lỏi” Vệ binh đỏ mở cửa dòm vào xem tôi đang làm gì trong phòng. Tôi chỉ còn có mỗi một chỗ riêng tư kín đáo, ấy là cái phòng tắm.
Con gái tôi vẫn được giữ phòng riêng của nó. Nhưng tôi không được đặt chân vào đó. Và nếu nó có về nhà – lúc đó, nó ít khi về nhà lắm v&igrav
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện