DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 2

Chương 2: Sự Yên Tĩnh trước Cơn Bão Táp

Những tuần lễ sau buổi mít tinh lần đầu tiên, tôi bị mấy người bữa trước đến thẩm vấn nhiều lần. Nội dung cũng chẳng khác với lần thứ nhất là mấy. Khi thì họ bảo tôi cung cấp danh sách tên những người Mỹ và người Âu mà tôi quen biết cùng với chức vụ của họ. Khi thì họ yêu cầu tôi cho biết những hoạt động của văn phòng chúng tôi. Nhưng khi trao cho họ những trang giấy tôi đã viết, họ chỉ liếc sơ qua. Trong khi thúc đẩy tôi phải tố chủ nhân cũ của tôi, họ lại chẳng hỏi tôi một vấn đề cụ thể nào về công ty. Không khi nào họ vượt quá những lời nói bóng gió là hãng Shell đã làm một cái gì đó sai trái và rằng trong tất cả những tội ác ấy tôi đều có dự phần. Thật ra, tôi có cảm tưởng là họ trì hoãn để có thêm thời gian, xin chỉ thị của cấp trên, trước khi tiến xa hơn, sự trì trệ các hoạt động của chiến dịch là do cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nhà lãnh đạo của Đảng, một bí ẩn vượt quá tầm hiểu biết của tôi cũng như của dân tộc Trung Hoa. Điểm tranh luận là ai sẽ lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hoá: guồng máy của Đảng hay nhóm người đặc biệt theo Mao, được Mao chỉ định làm Chủ tịch ủy ban.
Về sau này mới được tiết lộ là vào khoảng đầu tháng 8, tại cuộc họp của Ủy ban Trung ương, Mao đã viết bích báo đại tự nhan đề là “Năm phát đạn thần công bắn vào Bộ tư lệnh”. Qua đó ông ta kịch liệt tố cáo guồng máy chính quyền (đứng đầu là Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước) và Ban Bí Thư Trung Ương Đảng (đứng đầu là Đặng Tiểu Bình, Tổng bí thư). Nội dung của các cáo giác ấy cho biết đó là những Bộ tư lệnh của giai cấp tư sản Trung Hoa bởi vì – theo lời ông ta – các bộ phận này đã thực thi những chính sách bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản. Đó là lời tố cáo nặng nề và gây xúc động nhằm chống lại guồng máy Đảng và tổ chức chính quyền của Trung Hoa cộng sản. Sở dĩ Mao có thể tố cáo chống lại Lưu và Đặng vì ông đã kiểm soát được quân lực thông qua người được ông ta bảo trợ là Lâm Bưu, Bộ trưởng Quốc phòng. Trong hoàn cảnh đó, nhằm cố gắng vớt vát lại địa vị của mình, Lưu Thiếu Kỳ đã đưa ra một bản tự phê có tính cách hình thức trong đó nói rằng chính sách kinh tế của ông ta cho phép người nông dân có một mảnh ruộng tư và một hình thức thị trường tự do là để đáp ứng nhu cầu của người dân thành thị. Chính sách đã khuyến khích sự phục hồi Chủ nghĩa Tư bản ở Trung Hoa và là bước thụt lùi trên đường xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Có lẽ Lưu Thiếu Kỳ tin rằng khi chấp nhận như vậy, ông ta đã giữ thể diện cho Mao. Sự thật thì chính sách kinh tế của Lưu đã cứu nước Trung Hoa khỏi sự sụp đổ về kinh tế sau sự thất bại thảm hại của Bước Nhảy Vọt vĩ đại của Mao năm 1958-60. Tuy nhiên, sự chấp nhận ấy của Lưu đã mau chóng tỏ ra là một chiến thuật sai lầm đã khiến ông ta ở vào thế rất bất lợi và mở đường cho những người theo Mao đẩy mạnh cuộc tấn công nhằm vào chính ông ta và những người theo ông ta trong guồng máy chính quyền.
Thắng lợi của Mao tại cuộc họp Ủy ban Trung Ương Đảng là quyền lãnh đạo của Cách mạng Văn hóa được trao cho một ủy ban đặc biệt gồm những người cánh tả theo Mao. Lần lần, cả guồng máy chính quyền lẫn guồng máy Đảng bị tê liệt vì sự tấn công của các Vệ binh đỏ và các người cách mạng. Và ủy ban này đã trở thành cơ quan chính quyền cao nhất. Các thành viên của ủy ban này – trong đó có bà vợ của Mao là Giang Thanh – hành xử những quyền đặc biệt. Và tất cả được bầu vào Bộ Chính Trị. Trong suốt những năm diễn ra cuộc Cách mạng Văn hoá. Giang Thanh đã dùng cái địa vị là vợ của Mao để trở thành người phát ngôn và đại diện cho Mao để truyền đạt các lệnh và ý kiến được coi là của Mao nhưng thật ra trong nhiều trường hợp chỉ là xuất phát từ chính bà ta. Là một người đàn bà đầy tham vọng và tàn nhẫn mà bị đứng chầu rìa bên ngoài đời sống chính trị của Trung Hoa cả mấy thập niên, nay nắm được quyền nên Giang Thanh không tha cho bất cứ sự chống đối nào dù là có thật hay tưởng tượng. Hàng trăm hàng ngàn các viên chức Đảng, văn nhân, nghệ sĩ, các nhà khoa học và ngay cả thường dân rơi vào trong cái bóng sự nghi ngờ của bà ta thì đều bị bà ta hành hạ tàn nhẫn. Một số rất lớn những người đó đã bỏ mạng bởi những tay chân thân tín của bà ta. Trong cuộc họp của Ủy Ban Trung Ương Đảng vào tháng 8 năm đó, Lâm Bưu đã nổi bật lên như một người tích cực nhiệt tình ủng hộ Mao. Lời tán tụng Mao qua bản thông báo kết thúc hội nghị đăng tải báo chí, Lâm Bưu đã gọi Mao là “người Mác-xít vĩ đại nhất đang sống trong thời đại chúng ta” và hàm cái ý đặt Mao lên trên các nhà lãnh đạo Liên Xô – kể cả Stalin – và là người kế tục chân chính của Lênin. Trong suốt mười năm diễn ra cuộc Cách mạng Văn hoá – kể cả khi Lâm Bưu bị thất sủng – danh hiệu ghê gớm ấy vẫn được những người theo Mao duy trì.
Một hôm, chỉ ít lâu sau khi bản thông báo kết thúc hội nghị của Ủy ban trung ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa được phổ biến, ông Hồ, một người bạn của nhà tôi – đã đến thăm tôi. Theo truyền thống Trung Hoa, tình bạn của người chồng không bao gồm người vợ trong đó. Bởi vậy khi người chồng chết thì bạn của chồng sẽ không đến nhà nữa. Cho nên kể từ khi nhà tôi mất thì bạn bè của anh ấy không lui tới nhà tôi như khi anh ấy còn sanh tiền. Chỉ riêng có ông Hồ thì hàng năm vào tết Nguyên Đán vẫn đến thăm xã giao gia đình tôi. Và ông ta cũng chỉ lưu lại giây lát, hỏi thăm con tôi và tôi, đồng thời chúc sức khỏe và hạnh phúc trong năm mới. Ông thường nhắc đến ông nhà tôi, nói rằng rất quý mến và lấy làm vinh hạnh được làm bạn với ông nhà tôi. Rồi ông ra về, để lại phong bì nhỏ đựng tiền “lì xì” cho đám gia nhân trong nhà. Đó là tục lệ cổ mà chỉ những người theo lối xưa mới còn giữ sau khi Cộng sản nắm chính quyền ở Trung Hoa. Tôi cũng lấy làm thích thú về sự viếng thăm của ông và nghĩ ông tuy nệ cổ một cách ngộ nghĩnh nhưng là người có tình cảm dễ thương.
Khi được lão bộc báo tin ông tới thăm – bất ngờ và không phải ngày tết – tôi ngạc nhiên. Nhưng vẫn bảo lão bộc mời ông ta vào phòng khách, rót nước mời.
Ông Hồ, trước giải phóng, là chủ nhân một hãng sơn. Sản phẩm của ông nổi tiếng trong nước, được xuất khẩu sang Hồng Kông và các nước Đông Nam Á. Sau khi quân đội tiếp quản Thượng Hải, ông vẫn tiếp tục sản xuất dưới sự giám sát của chính quyền Cộng sản. Năm 1956, trong cuộc vận động “xã hội hoá các xí nghiệp Tư bản” – theo đó tất cả các nhà tư sản hàng năm sẽ được hưởng bảy phần trăm định mức trị giá tài sản của họ và hưởng trong mười năm – trị giá tài sản theo sự đánh giá của nhà nước chỉ là một phần nhỏ giá trị thực sự của tài sản, nhưng các nhà tư bản không có sự lựa chọn nào khác hơn là chấp nhận. Nhờ có kỹ năng, tay nghề cao, ông Hồ vẫn được ở lại làm việc ngay tại xí nghiệp của mình với tư cách là kỹ sư trưởng và trợ lý Giám đốc cho viên chức Đảng tiếp quản xí nghiệp.
Là người thấm nhuần Nho học, ông Hồ không hề bị ảnh hưởng văn hoá phương Tây. Ông viết chữ Hán rất đẹp. Trong ngôn ngữ thông thường của ông vẫn còn đầy những trích cú trong văn chương cổ điển Trung Hoa. Ông chẳng thấy có gì phải buồn bực trước thái độ bài ngoại của Cộng sản. Bởi vì sự hiểu biết và sự quan tâm của ông chưa bao giờ vượt quá biên giới Trung Hoa. Nói chung là ông không khó khăn gì nhiều trong các chiến dịch chính trị. Bởi vì các viên chức Đảng ít nghi ngờ những người như ông Hồ – tức là những người không có mối liên hệ nào với người ngoại quốc – cho bằng những người đã du học ở nước ngoài. Cái thái độ “triết lý” của ông trước sự mất sản nghiệp và sự sẵn sàng chấp nhận một địa vị thấp kém ngay trong xí nghiệp của mình đã làm cho tôi phải kinh ngạc. Đã có lần ông nhà tôi nói với tôi là trong lúc hầu hết các nhà tư sản khác đã bị các viên chức Đảng tiếp quản xí nghiệp làm khó làm dễ đủ thứ thì ông Hồ lại tạo được một quan hệ thân hữu với Bí thư Đảng được chỉ định đứng đầu xí nghiệp của ông.
- Tôi nghe tin bà bị gặp rắc rối trong chiến dịch chính trị mới nhất này, tức là cuộc Cách mạng Văn hoá vô sản vĩ đại, tôi tự hỏi không biết bà tự đối phó như thế nào, - ông Hồ nói để giải thích lý do ông đến thăm tôi.
- Gay go lắm. Tôi sợ. Văn phòng hãng Shell chi nhánh Thượng Hải hiện đang bị điều tra. Và tôi cũng bị thẩm vấn. Tôi cũng đã phải tham dự một cuộc mít tinh đấu tố ông cựu trưởng ban kế toán của công ty. Những người thẩm vấn tôi có nói xa nói gần đến những hoạt động bất hợp qui nào đó của xí nghiệp. Nhưng họ chưa nói rõ là họ muốn nhắm cái gì. Tôi thật sự bối rối. Tôi chưa hề dính dáng đến một phong trào chính trị nào trước đây.
Lão bộc bưng vào phòng cho chúng tôi bộ đồ uống trà kiểu Trung Hoa đẹp nhất của tôi và một khay nhỏ đựng bánh mà tôi vẫn thường dành cho những ông bà bạn người Anh hoặc người Úc nào của tôi vẫn giữ được cái thú thưởng thức bữa trà buổi chiều. Dọn ra những món này là lão bộc có ý trọng đãi ông Hồ lắm lắm đấy. Khi lão vừa đặt khay lên bàn bên cạnh ghế tràng kỷ thì chuông điện thoại reo, lão đi nghe điện thoại và quay trở lại ngay lập tức và nói: “Cũng chính mấy cái nguời hôm nọ. Họ yêu cầu bà đến đó ngay lập tức để thẩm vấn”.
- Nói với họ tôi đang bận. Ngày mai tôi sẽ đến.
Lão bộc đi ra. Tôi nghe lão nói gì đó trong điện thoại và có vẻ như biện giải gì đó dữ lắm. Rồi lão lại trở lại và nói:
- Họ nhấn mạnh bà phải đến ngay lập tức. Họ nói là rất quan trọng.
Ông Hồ chen vào và nói với tôi:
- Xin lỗi bà, cho phép tôi hỏi: ai gọi điện thoại đó? Nếu đó là nhân vật quan trọng thì xin đừng vì tôi đang ở đây mà bà không tới đó.
- Thì cũng vẫn mấy cái ông viên chức Đảng đang thẩm vấn tôi đó, chứ ai!
- Ồ, thế thì bà phải đi ngay. Làm sao mà bà có thể từ chối, không đến khi họ đã gọi bà! Xin bà gấp gấp lại đó đi. Tôi sẽ ở lại đây chờ. Tôi muốn biết rõ hơn về tình hình của bà hiện nay. Chính vì cái mối thâm tình của ông nhà đối với tôi mà tôi muốn được giúp bà một vài ý kiến. Tôi coi đó là nghĩa vụ của tôi đối với ông nhà. Tôi biết, bà không có kinh nghiệm để đối phó với những người này. Chúng nó khốn nạn và hèn hạ lắm. Nhưng bà không nên chống lại bọn chúng – ông Hồ nói và tỏ ra hết sức lo lắng.
Tôi lấy làm sung sướng khi biết ông ta vui lòng chờ. Bởi vì, tôi rất muốn nghe những gì ông ta nói về cuộc Cách mạng Văn hóa và về cuộc họp của Ủy ban Trung ương Đảng vừa rồi. Tôi ra đi lúc mới hơn bốn giờ chiều một chút mà mãi đến tám giờ tối mới về đến nhà, ông Hồ vẫn còn đó chờ tôi. Khi tôi vào đến nhà, ông Hồ mới ra khỏi phòng khách đón chào tôi về. Trên khuôn mặt ông lộ vẻ vừa sung sướng vừa lo lắng.
- Xin lỗi, tôi để ông phải chờ lâu.
- Bà ngồi xuống và nghỉ đi rồi hãy nói cho tôi biết sự thể ra sao!
Lão bộc bưng vào cho tôi một ly trà nóng. Vừa nhấm nháp ly trà tôi vừa kể lại cho ông Hồ nghe cuộc thẩm vấn.
Thêm vào hai người cũ, có một người mới. Có lẽ là cấp trên của hai người kia. Có lẽ để gây ấn tượng cho người mới kia, hai người cũ tỏ ra “hắc” hơn mọi khi. Thoạt khi tôi vừa bước vào phòng, một trong hai người nghiêm giọng hỏi:
- Tại sao lúc nãy chị không muốn tới ?
- Tôi bận. Các ông mới gọi điện thoại cho tôi sáng nay mà!
Mấy lần trước, một trong hai người chỉ tay vào cái ghế và bảo tôi ngồi xuống. Nhưng hôm nay sao họ cứ để cho tôi đứng.
- Chúng tôi không tổ chức một bữa tiệc mà là đang tiến hành một cuộc thẩm vấn. Bởi vậy, bất cứ khi nào chúng tôi cần hỏi thì chị phải đến ngay. - Hắn nói vậy, kèm theo một cái nhếch mép khinh bỉ. Và tôi quyết định, họ không mời cũng cứ ngồi xuống.
- Nhìn vào cái danh sách mấy người bạn ngoại quốc của mày đây này! Sao mà nhiều bạn ngoại quốc quá vậy? Chắc mày phải khoái tụi nó lắm, mê văn hoá của tụi nó lắm?
Hắn nhìn tôi với cái kiểu cách như hạch tội. Rồi hắn tiếp:
- Mày nói bọn chúng đều thân thiện với nước và dân Trung Hoa. Một vài đứa trong số đó đã sinh đẻ ở đây hoặc hồi nhỏ đã sống ở đây. Và có đứa đã khâm phục văn hoá Trung Hoa và còn nói được cả tiếng Hoa nữa. Vậy là trong số này có đứa đã có tổ tiên làm giàu bằng buôn bán thuốc phiện. Chúng đã chiếm hữu các nhà máy, xí nghiệp, kho tàng, ghe tàu và mọi thứ khác nữa trên đất Trung Hoa này. Bây giờ chúng mất sạch những thứ đó. Vậy thì làm sao chúng cảm thấy thân hữu với chính quyền nhân dân Trung Hoa được kia chứ? Ờ, có thể là chúng khoái Trung Hoa khi bọn Quốc Dân Đảng còn ở đây kia, khi mà chúng còn tha hồ bóc lột nhân dân Trung Hoa, khi mà chúng còn được thả dàn thu góp của cải của nhân dân Trung Hoa. Nhưng bây giờ thì khỏi, vĩnh viễn chúng không thể “khoái” Trung Hoa được nữa. Mày nói là mấy thằng cha ngoại giao nước ngoài nó cảm thấy hữu nghị với Trung Hoa. Cái đó mới lại là kỳ quái hơn. Bọn ngoại giao chỉ là bọn gián điệp được chính quyền của tụi nó phái đến đây thu lượm tin tức chống lại ta, làm sao chúng lại thân hữu với ta được? Dù có sơn son thiếp vàng lên mặt chúng cũng không thể biến chúng thành Phật từ bi được. Dứt khoát chúng là kẻ thù của ta. Vậy mà chúng lại là bạn của mày. Như vậy, đã rõ là mày đứng về phía nào, chứ còn gì nữa?
- Tôi quen biết mấy người này chẳng phải vì tôi cố tình chạy theo làm quen, làm thân với họ. Tôi gặp và quen họ – hầu hết – là trong thời gian ông nhà tôi lúc còn sinh thời làm ở bộ ngoại giao.
- Văn phòng chi nhánh Bộ Ngoại Giao ở Thượng Hải dưới thời bọn Quốc Dân Đảng! Thằng chồng mày là viên chức cao cấp của chính quyền phản động Quốc Dân Đảng và về sau nó làm tổng quản lý cho một xí nghiệp tư bản ngoại quốc. - Hắn nói, giọng chế nhạo – cái nghề của thằng chồng có ra cái chó gì đâu mà tự hào.
- Ông nhà tôi làm tổng quản lý cho công ty Shell ở Thượng Hải là có sự thỏa thuận của Bộ Công – Thương nghiệp của chính quyền nhân dân chứ đâu phải khơi khơi. Còn về việc ông nhà tôi làm viên chức của chính quyền Quốc Dân Đảng, thì ông thấy đấy, năm 1949, nhà tôi đã ở lại Thượng Hải chứ đâu có chạy sang Đài Loan theo Quốc Dân Đảng. Vậy không đủ chứng tỏ ông nhà tôi ủng hộ cuộc Cách mạng của cộng sản và hoan nghênh chính quyền nhân dân hay sao?
- Có nhiều lý do khiến hắn ở lại. Ta sẽ xét đến vấn đề này sau. Bây giờ tao muốn là mày tố bọn đế quốc Anh và tự thú tất cả những gì mà mày đã làm cho hãng Shell với tư cách là một nhân viên trung thành của nó.
- Tất cả những gì tôi đã làm thì đều đúng luật pháp và quy định của chính quyền nhân dân, - tôi nói, giọng nhấn mạnh.
Người mới đến không nói một tiếng nào, cứ ngồi hút thuốc liên miên làm cho căn phòng sặc sụa mùi khói thuốc. Hắn ta vất mẩu thuốc xuống sàn và lấy gót chân nghiền ra. Hắn nhìn trừng trừng vào tôi mấy giây như để đe dọa tôi trước khi hắn cất tiếng nói:
- Chị đã sống hoàn toàn không có gì chê trách chứ? Cả đời sống chung đụng với bọn ngoại quốc, nhất là bọn Anh, chị có dám nói là chị không bao giờ làm hoặc nói điều gì không đúng chứ?
- Tôi có làm hoặc nói điều gì sai quấy hay không thì chưa biết. Nhưng điều tôi chắc chắn là tôi không làm điều gì chống lại chính quyền nhân dân – Tôi nói một cách mạnh dạn như vậy.
- Có hay không làm gì chống lại chính quyền nhân dân thì chúng tôi sẽ xét sau. Nhưng ít nhất chị cũng nhận là có thể chị đã làm hoặc nói điều gì sai quấy.
- Phi lý, tôi không hề nhận một điều như vậy.
Tôi thấy hình như người mới đến này tinh khôn xảo quyệt hơn hai người cũ. Hắn nói một cách điềm đạm chứ không la lối dọa nạt, nhưng tôi dám chắc là hắn tìm cơ hội để gài bẫy tôi. Bây giờ, hắn đổi đề tài bằng cách yêu cầu tôi viết bản tóm tắt các hoạt động văn phòng của tôi. Tôi đã nói vắn tắt về công việc của tôi ở văn phòng. Khi tôi nói xong, hắn nói:
- Những điều chị vừa nói với chúng tôi đúng y những gì chị đã viết.
Tôi tin là chị đã cố gắng nhớ lại những gì chị đã viết. Sao lại phải cẩn thận vậy?
- Thì những gì tôi nói và những gì tôi viết là giống nhau bởi vì đó là những sự kiện có thật, dù tôi có nói với các ông bao nhiêu cũng vậy thôi.
Cảm thấy cuộc thẩm vấn này còn kéo dài và tôi nghĩ đến ông Hồ đang đợi tôi ở nhà, nên tôi xem giờ ở đồng hồ đeo tay.
- Chị vội về hả. Có lẽ chị thấy cuộc nói chuyện này làm cho chị không dễ chịu? - Người mới đến khoái chí cố xoay lời nói và tình hình cho hợp với ý đồ của mình.
- Tôi nghĩ là các ông mất thì giờ thôi – tôi nói.
- Chị khỏi phải lo cho chúng tôi mất thì giờ. Chúng tôi có đủ kiên nhẫn. Chúng tôi, Đảng Cộng Sản, đã mất hai mươi hai năm để lật đổ bọn Quốc Dân Đảng mà. Nhưng, cuối cùng chúng tôi đã thành công. Khi mục tiêu đã đề ra, chúng tôi theo đuổi cho đến cùng.
Im lặng chết người đè nặng căn phòng. Chúng tôi cũng đi đến ngõ cụt.
Thình lình, cái người đã nói trong cuộc mít tinh đấu tố đã giở lại cái trò “cổ điển” của hắn là la lối, dọa nạt:
- Chúng tao đâu có để cho mày về như thế được, mày phải liệt kê những gì mày đã làm, đã nói đúng, sai, chứng tỏ mày đã thành thật thay đổi quan điểm. Nếu không, hậu quả dành cho mày sẽ nghiêm trọng. Chúng tao biết khá chắc mày là tên “gián điệp” của bọn Anh!
Từ đầu không có người nào trong bọn nói tới cái từ gián điệp. Cho đến lúc đó, họ chỉ nói bóng gió vậy thôi. Có lẽ là do nổi nóng nên hắn đã vượt quá chỉ thị. Vì vậy hai nguời kia liếc nhìn hắn một cách ngạc nhiên.
Tôi cười trước sự tức giận của hắn và bình thản nói:
- Ông lầm rồi. Nếu tôi có là “gián điệp” thì cũng không “gián điệp” nhiều hơn mấy ông đâu.
Người mới đến vội nói:
- Có lẽ có những điều chị đã làm hay đã nói mà chị không kịp nhớ ra ngay bây giờ. Chị cứ về nhà suy nghĩ thêm đi. Chị cứ viết tất cả những gì chị đã làm đã nói bất kể là tầm thường, nhỏ bé, vô nghĩa. Chúng tôi để cho chị có đủ thì giờ. Khoảng hai tuần lễ, liệu đủ không?
- Hai năm thì cũng vậy thôi. Tôi không có ý bịa đặt điều gì.
- Thôi được, cứ hai tuần đi. Phải nhìn nhận sự sai lầm thì kể ra cũng đau khổ thật đấy. Lãnh tụ vĩ đại của chúng ta đã so sánh sự tự thú như một cuộc giải phẫu. Giải phẫu thì hẳn phải bị đau rồi nhưng phải có vậy thì ta mới trở thành con người mới, lành bệnh, chắc chị muốn là một công dân tốt của một nước Xã hội Chủ nghĩa chứ, phải không? Nếu vậy thì chị không nên tụt lại đằng sau những người khác. Chúng tôi muốn chị tự thú không phải vì chúng tôi chưa biết những sự việc đâu, mà vì chúng tôi muốn dành cho chị một cơ may để tỏ ra thành thật.
Tôi muốn nói với hắn là hắn là một thằng điên. Nhưng tôi kịp nín và im lặng. Hi vọng để khỏi kéo dài cuộc đối thoại vô nghĩa lý này mãi.
Hắn coi sự im lặng của tôi như một dấu hiệu tôi sẵn lòng làm cái điều hắn muốn, vì vậy, hắn để tôi ra về, và nói;
- Thôi, đã trễ rồi. Chị về nhà suy nghĩ về những gì mà tôi vừa nói.
- Hai tuần sau, chúng tôi sẽ mời chị.
Tôi giận sôi lên và thấy căm phẫn. Tôi bước ra khỏi tòa nhà. Ngoài đường không còn một cái xích lô nào. Đứng đợi xe buýt thật lâu mà chẳng có. Tôi đi bộ về nhà.
Ông Hồ lặng im ngồi nghe tôi kể. Lão bộc bước vào và mời chúng tôi đi ăn cơm. Anh bếp đã nấu những món ăn Tàu thật ngon vì anh ta biết ông Hồ không thích món ăn Tây. Trong lúc ăn, chúng tôi không nói gì về cái đề tài khó chịu là cuộc Cách mạng Văn hóa mà chỉ đàm luận về công việc của đứa con gái tôi và của đám con cái ông Hồ. Cả tôi lẫn ông Hồ đều hãnh diện và hài lòng vì con cái mình cũng đã hòa hợp được với Trung Hoa Xã hội Chủ nghĩa mặc cái gốc gác gia đình của chúng.
Khi cả hai chúng tôi lại ngồi vào phòng khách, tôi hỏi ông Hồ về vấn đề vẫn canh cánh trong lòng trong lúc tôi bị thẩm vấn:
- Mấy người này đã khiến tôi có cái cảm tưởng là họ muốn tôi tự thú, kể cả việc tôi bịa đặt ra cũng được. Thế nghĩa là gì, để làm gì?
- À, vậy đó. Trong lúc họ thẩm vấn, họ muốn chị tự thú càng nhiều càng tốt và không quan tâm đến những điều chị thú nhận có đúng hay không. Sau này họ mới xét đến cái đó.
- Nhưng, làm thế để làm gì? Thế họ không rối tinh rối mù lên nếu ai ai cũng tự thú bịa đặt ra như vậy?
- Bắt người khác tự thú là công việc chủ yếu của họ. Nếu họ không bắt buộc người khác tự thú là họ sẽ bị coi là không tích cực với phong trào. Kết quả là hễ khi nào có một cuộc vận động chính trị diễn ra thì sẽ có nhiều người bị qui vào thành phần đối tượng của cuộc vận động, và do đó có nhiều lời tự thú. Sau đó, những náo động của phong trào sẽ lắng chìm khi đã “phân loại” xong. Sau đó, nếu có một vài sai lầm nào đó thì … sửa sai, phục hồi!
- Phải đợi bao lâu mới được phục hồi?
- Có thể là hai năm sau. Có thể là chẳng bao giờ. Cứ mỗi một chiến dịch như vậy thì mỗi cơ quan phải có từ ba đến năm phần trăm nhân viên bị coi là “kẻ thù” nghĩa là đối tượng của chiến dịch. Đó là con số mà Mao Chủ tịch đã nói tới trong một bài phát biểu của ông ta.
- Dễ sợ!
- Phải, quá tệ, đúng là quá tệ! Thật ra thì làm gì có một tỉ lệ người dân cao như vậy dám chống lại chính quyền nhân dân. Nhưng, phải đạt chỉ tiêu! Và ở mỗi cơ quan các viên chức Đảng thường đưa những người mà họ không ưa – vì những người này ưa “nhiều chuyện” ưa “bất bình” về những sai quấy của các vị này – vào danh sách “kẻ thù”. Nhưng chớ có bao giờ tự thú tầm bậy tầm bạ, tự thú “đại đi cho rồi”, dù có bị áp lực đến thế nào đi nữa cũng chớ có tự thú ẩu.
Ông Hồ nói điều này một cách hết sức nghiêm túc và nhấn mạnh. Ông ta nhìn đăm đăm vào tôi như thể muốn cho tôi lĩnh hội hết sức tầm quan trọng của điều mà ông ta vừa nói. Rồi, ông ta nói tiếp:
- Tôi luôn luôn theo đúng sách đó trong bất cứ cuộc vận động chính trị nào.
Tôi hiểu đây chính là lời khuyên chủ yếu mà ông muốn nói với tôi. Và ông ta không nói huỵch toẹt ra là “bà chớ có bao giờ tự thú ẩu, dù bị áp lực đến thế nào cũng vậy”, vì, trong những gia đình khá giả mà có lập gia nhân đầy tớ thì trong đám đó thế nào cũng có những đứa được “huấn luyện đặc biệt” để ghé tai lắng nghe, nhất là khi nhà có khách. Ông Hồ không muốn lão bộc nghe thấy ông nói với tôi là đừng có tự thú. Ông ta là người cẩn thận và không hoàn toàn tin một ai.
- Có những khi một người đã tới mức chịu đựng cuối cùng rồi, không chịu được nữa nên thôi đành, đồng thời bị khích, bị thúc đẩy phải viết đại ra một cái gì đó, dù là không có thể để làm thỏa mãn các người thẩm vấn “cho nó rồi đi” để khỏi bị hành hạ, tra tấn gây sức ép hơn nữa. Nhưng như thế là bắt đầu chui đầu vào thòng lọng đấy. Bởi vì những người thẩm vấn không bao giờ thỏa mãn với lời khai của mình hết. Một khi đã bắt đầu khai hoặc tự thú, họ sẽ tiếp tục làm tới, tới nữa, mình sẽ nhận tội thêm, thêm nữa kể cả những tội mình không có. Và những người thẩm vấn cứ làm tới nữa cho đến khi họ đạt được cái họ muốn. Cuối cùng nạn nhân sẽ bị rối mù lên và không còn phân biệt gì được là thực với hư, hư với thực nữa. Tôi đã thấy nhiều người bị như vậy.
Ông Hồ vẫn cứ nói theo cái kiểu “người ta” chứ ông vẫn không nói thẳng ra với tôi là “bà chớ có khai ẩu”.
Lời khuyên của ông thật đúng lúc và rất có giá trị. Tôi cám ơn ông đã không ngại khó, cất công tới nhà tôi. Và chỉ do cái lòng ông quí mến đối với chồng tôi mà ông đã đưa tay ra cứu vớt tôi. Khi ông nghĩ là tôi hiểu cái điều đã khiến ông phải đến để nói với tôi thì ông quay ra nói một cách chung chung các chiến dịch, các cuộc vận động chính trị. Ông nói ông là một tay “lọc lõi đầy kinh nghiệm” qua những chiến dịch vận động ấy và ông đã học được bài học ấy nhờ những kinh nghiệm cay đắng mới biết cách để đối phó.
- Thế ông nghĩ sao về bản thông cáo chung của cuộc họp Ủy ban trung ương vừa rồi?.
Ông Hồ lắc đầu, thở dài. Một lát sau ông mới nói:
- Chủ tịch Mao đã thắng. Điều đó cũng chẳng phải là bất ngờ gì. - Và ông nói tiếp: - giai đoạn mở đầu một cuộc vận động bao giờ cũng là một giai đoạn đáng sợ nhất. Cơn cuồng phong kéo dài vài tháng mới giảm xung lượng và thường phải mất một năm mới êm dịu trở lại.
- Một năm kia à? Một thời gian quá dài!
Ông Hồ mỉm cười vì sự bực tức của tôi và nói:
- Đối với người Trung Hoa chúng ta thì một năm nào có nghĩa lý gì. Nó chỉ là một cái nháy mắt của một lịch sử bao nhiêu ngàn năm của chúng ta mà thôi. Thời gian đối với chúng ta không mang cùng một ý nghĩa như đối với người Âu. Và người Âu thì bà biết quá rõ.
- Tôi bị tố là gián điệp bởi vì họ nghĩ là tôi biết người Anh nhiều.
- Họ kết bà vào cái tội làm gián điệp thật ra đó chỉ là một cái cớ, để lừa bịp đám quần chúng vậy thôi. Sớm muộn gì thì họ cũng sẽ “đụng” đến tất cả những ai mà họ không tin. Và bây giờ họ thấy là thời gian thuận tiện để “giải quyết” bà vậy thôi.
Ông Hồ đứng dậy để ra về và nói tôi cứ điện thoại cho ông ta bất cứ khi nào tôi muốn gặp để nói cho cặn kẽ hơn. Như một lời khuyên cuối cùng, ông nói với tôi:
- Hầu hết mọi viên chức Đảng ở cấp thấp đều có mặc cảm tự ti. Mặc dù họ có quyền hơn mình thật đấy nhưng tự trong đáy lòng, họ vẫn cảm thấy họ thấp kém. Ấy, tai họa là ở chỗ đó. Bởi chính vì vậy mà họ cảm thấy phải tự khẳng định bằng cách dùng quyền thế của họ, đặng làm cho cuộc đời mình khốn đốn hoặc làm nhục mình. Khi bị thẩm vấn, bà cứ vững tâm. Nhưng nói năng, cử chỉ phải lễ độ. Đừng có chống lại họ. Nhất là đừng có chọc giận họ. Họ rất đê tiện, hằn học và thù dai. Họ cũng rất độc ác, tàn nhẫn.
- Khổ nỗi, tính tôi lại không khúm núm, quỵ lụy được. Nhưng cám ơn ông đã cho tôi biết như vậy. Tôi sẽ nhớ kỹ điều này. - Tôi cứ mải mê với vấn đề của mình đến nỗi tới lúc đó tôi mới hỏi đến những vấn đề của ông ta. Ông Hồ đã nói một cách bình thản và nhẫn nhục:
- Tôi đã gia nhập hàng ngũ những người lao động. Một người khác đã được chỉ định thay thế vào chỗ cũ của tôi. Khi trình lá đơn từ chức cho ông bí thư chi bộ, tôi nói là với cái nguồn gốc tư sản của tôi, tôi cảm thấy không thích hợp với địa vị lãnh đạo xí nghiệp – Cái suy nghĩ phải trở thành một người lao động tạp dịch ngay trong xí nghiệp của chính mình đã làm cho tôi kinh hoảng. Nhưng, đối với ông thì đó chẳng phải là điều chua chát:
- Như thế cũng chưa phải là tệ lắm đâu, thưa bà. Bên Liên Xô, khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền thì hình như tất cả các nhà tư sản đều bị xử bắn hết ráo. Ấy vậy mà ở đây, tôi vẫn còn được sống để trông nom đám con cháu mình. Tôi đã xin ông bí thư chi bộ, cho tôi một chân lao động tạp dịch, không cần đến một tí chuyên môn nào. Ấy thế là tôi được làm cu li, đẩy xe chở nguyên liệu hoặc chở than, chẳng ai ghen ghét và tranh giành với một người làm cái công việc ấy. Bà biết không, khi tôi xin được công việc ấy, ông bí thư chi bộ đã hết sức ái ngại với tôi. Ấy chính vì vậy giữa ông ta và tôi vẫn thuận thảo, không có vấn đề gì.
Tôi nhớ lại ông nhà tôi đã có lần nói với tôi cái lý do ông Hồ và ông bí thư chi bộ thuận thảo với nhau được. Ấy là nhờ việc thì ông Hồ làm, mà thành tích công lao thì ông bí thư chi bộ hưởng. Xí nghiệp của họ mỗi năm đã được lãnh cờ khen thưởng thành tích quản lý tốt, năng suất cao.
- Có nghĩa là ông làm hết mọi việc cho ông ta?
- Phải, phải, tôi cho là tôi làm hết mọi việc. Tôi đã mất gần cả đời người để xây dựng cái xí nghiệp của tôi. Năm 1930 khi mới bắt đầu, tôi chỉ có vài ba người làm. Đến năm 1956, lúc tôi hiến cho nhà nước thì xí nghiệp có cả phòng thí nghiệm và cũng là trung tâm đào tạo các chuyên gia trẻ.
- Sao ông lại xin đi làm cu li như vậy? Với những hiểu biết và kinh nghiệm của ông thì chắc chắn là ông sẽ giúp ích nhiều hơn là ông làm cu li chứ?
- Làm cu li trong thời buổi này không phải là tệ đâu, thưa bà! Là cu li, mình ở ngoài nhà máy thì mình còn được yên thân trong cái chòi lá của mình. Nếu trong xí nghiệp có xảy ra cái gì thì cũng chẳng ai tố cáo mình là cố ý phá hoại nhà máy, thiết bị. Trong bất cứ một cuộc vận động chính trị hay chiến dịch nào thì cái anh cựu tư sản cũng là đứng đầu trong danh sách những người bị nghi ngờ. Và mọi người thì sợ tái xanh tái xám đi – Sau khi đưa ra nhận định khôn ngoan ấy, ông ta ra về. Khi bắt tay tôi, ông còn nói thêm:
- Ăn theo thuở, ở theo thì, thưa bà. Có thế mới sống được. Nếu trời cho còn sống, ta có thể thấy được sự thay đổi ở đất nước này.
Nhìn vào cái thái độ của đám gia nhân và những món ăn mà họ đã dọn ra mời ông Hồ, tôi hiểu là họ rất hoan nghênh cuộc viếng thăm của ông ta. Khi tôi lên lầu để vào phòng ngủ, bà vú đã làm giường sẵn cho tôi rồi. Bà đã nghe không sót một lời khuyên nào của ông Hồ mà – theo như lời bà vú – ông ta là một người bạn chân thành và là người đàng hoàng. Bà khuyên tôi nên nghe lời ông ta.
Được nói chuyện với người mà mình có cảm tình thì mình cũng cảm thấy thoải mái. Lúc này tôi lại càng cương quyết hơn bao giờ hết, nhất định không viết một điều gì bịa đặt để thỏa mãn yêu cầu của các ông đảng viên kia.
Được mấy ngày khỏi phải nghe mấy ông đảng viên hạch hỏi, tôi thấy nhẹ nhõm và lấy lại tinh thần. Sinh nhật của con gái tôi là ngày 18 tháng 8. Tôi quyết định làm một bữa tiệc nhỏ để mừng dịp này, đồng thời để xua tan cái bóng u ám đang bao phủ gia đình tôi. Tôi bảo con gái tôi mời một số ít bè bạn của nó. Tôi gọi điện thoại cho Lý Chân, một người bạn lâu năm của tôi và mời chị ấy đến tham dự.
Lần đầu tiên tôi gặp Lý Chân là vào mùa thu năm 1953, lúc tôi đến Luân Đôn với tư cách là một du học sinh. Chị ấy vừa tốt nghiệp ở Nhạc viện Hoàng gia. Ít lâu sau, chị lập gia đình với một viên chức trong chính quyền Trung Hoa và theo ông về nước. Chị lại dạy âm nhạc ở chính ngôi trường mà xưa kia chị đã theo học, tức là Nhạc viện Thượng Hải, và chị đã làm chủ nhiệm khoa dương cầm. Tô Lôi, chồng của chị, là con của một thương gia giàu có ở Hồng Kông. Ông ta đã theo học ở các trường trung và đại học có khuynh hướng tự do. Ông ta rất ghét cái không khí thuộc địa ở Hồng Kông, nơi ông ta sinh trưởng. Thêm vào đó, những sách báo với những bài vở nồng nhiệt tán dương một xã hội mới kiểu xô viết, do các ký giả và văn nhân nổi tiếng viết ra, lúc đó đang tràn ngập các đại học bên Anh đã tác động rất mạnh đến tâm trí Tô Lôi. Ông ta trở nên một người theo chủ nghĩa ái quốc cuồng nhiệt và đồng thời cũng tin vào chủ nghĩa Mác.
Khi quân đội tiến vào thành phố Thượng Hải, Tô Lôi đã hớn hở tuyên bố một thời đại mới đã mở ra, đất nước đã hồi sinh và một chính quyền lương hảo đã xuất hiện như bình minh của Trung Hoa. Ông ta không chịu đi theo Quốc Dân Đảng sang Đài Loan. Đồng thời còn khuyến dụ bạn bè đừng đi, và ông đã nồng nhiệt nghênh đón những người cộng sản đến tiếp quản thành phố Thượng Hải. Năm 1950, trong cuộc vận động cải tạo tư tưởng ở đại học, bà vợ của ông ta mất chức chủ nhiệm khoa dương cầm ở Nhạc viện. Tô Lôi ngạc nhiên khi thấy người thay thế vợ mình là một đảng viên nhưng chẳng biết tí gì về âm nhạc. Năm 1953, tai họa giáng xuống khi Mao Trạch Đông mở màn chiến dịch “Tam phản ngũ phản” nhằm chống tệ tham nhũng, hối lộ và đối tượng là những nhà công nghiệp và các viên chức, như Tô Lôi đã làm việc trong các địa hạt kinh tế của chính quyền Quốc Dân Đảng. Mặc dù là người rất trong sạch, Tô Lôi vẫn cứ bị là một mục tiêu của chiến dịch. Ông ta bị giam lỏng tại cơ quan và các viên chức đảng đã thay phiên nhau thẩm vấn ông ta. Và một cuộc mít tinh được tổ chức để đấu tố ông ta nữa.
Người như Tô Lôi thật không thể nào hiểu nổi đối với người Cộng sản Trung Hoa vốn là những người nghèo và bị áp bức. Tuy nhiên vì cuộc chiến tranh Triều Tiên và bị Hoa Kỳ “tẩy chay” nên chính quyền nhân dân phải tìm cách giao thương với Hồng Kông. Những thân nhân giàu có của Tô Lôi ở cái thuộc địa của Anh này đã lợi dụng cơ hội ấy để thương lượng với Bắc Kinh, đặng “vớt” ông khỏi Thượng Hải để đi Hồng Kông. Và Bắc Kinh đã chấp thuận yêu cầu của thân nhân ông ta.
Hụt không trừng phạt nặng nề ông con trai nhà giàu này – giàu nứt đố đổ vách mà lại dám chơi sang bằng cái vỏ mác xít – các viên chức cộng sản ở Thượng Hải bèn chơi khăm: cho ông chồng và hai đứa con đi, chị vợ ở lại, lấy cớ là “rất cần thiết cho Nhạc Viện Thượng Hải”. Thế là Lý Chân chẳng bao giờ được gặp lại chồng lúc ông ta còn sống. Mãi đến khi ông ta chết – năm 1957 – và nhờ sự tương đối nới lỏng hơn do Đại Hội 8 của Đảng vào năm 1956, nên Lý Chân đã được phép đi Hồng Kông cho đến năm 1960 thì chị được mời trở lại Nhạc viện Thượng Hải, một nơi chị rất quyến luyến. Trong khi hai đứa con của chị đi theo chú nó sang bên Úc.
Lý Chân trở về Thượng Hải khi thành phố này đang lâm vào tình trạng khan hiếm lương thực trầm trọng, một hậu quả thê thảm sự thất bại của “Bước Đại Nhảy Vọt” do Mao Trạch Đông phát động vào năm 1958. Từ lúc tờ mờ sáng, những hàng người nối dài chầu chực trước Ty Công An Thượng Hải để xin xuất cảnh. Tình hình đó làm cho nhà cầm quyền Thượng Hải bối rối. Cho nên, sự kiện Lý Chân rời bỏ đất Hồng Kông no ấm, giàu sang để trở về với Thượng Hải đang sắp chết đói đã là cơ hội bằng vàng để nhà cầm quyền tuyên truyền. Tôi đọc tin chị trở về đăng trên báo, một điều đặc biệt hiếm có. Thông thường, báo chí đăng tin những cuộc thăm viếng của các nhân vật quan trọng và cao cấp trong Đảng, hoặc của các chính khách ngoại quốc nổi tiếng. Nhà cầm quyền Thượng Hải đã “thổi” chị lên như một người yêu nước. Và chị được chỉ định làm ủy viên trong Hội đồng Tư vấn Chính trị của thành phố, một tổ chức gồm nhiều người được nhà cầm quyền Cộng sản chọn lựa trong đám các văn nhân nghệ sĩ, các lãnh đạo tôn giáo, các nhà doanh nghiệp nổi tiếng, các viên chức Quốc Dân Đảng vang bóng một thời. Đám người này chịu nhận làm cái loa lên tiếng ủng hộ tất cả các đường lối chính sách của Cộng sản. Đồng thời, trước mắt những người cùng giới và nhất là trước dư luận ngoại quốc, đó là điển hình cho sự ủng hộ và đoàn kết rộng rãi của mọi tầng lớp quần chúng đối với các đường lối chính sách của Đảng. Để đổi lại, nhà cầm quyền cũng thí cho đám người này chút ân huệ. Chẳng hạn như được cấp một căn nhà tương đối rộng rãi, được cấp phiếu để ăn ở các nhà hàng đặc biệt.
Nhà cầm quyền Cộng sản chỉ ưu đãi những người nào họ xét ra còn xài được – chẳng phải là xài cái tài năng của người ấy như họ vẫn thường rêu rao, mà chỉ vì tác dụng tuyên truyền của người đó. Sáu năm trước đó, Lý Chân đã từng bỏ Hồng Kông no ấm để trở về với Thượng Hải đang gặp khó khăn nghiêm trọng về kinh tế và đang thiếu lương thực trầm trọng, Lý Chân có tác dụng tuyên truyền, cho nên Lý Chân được đưa vào làm thành viên của Hội đồng Tư vấn Chính trị. Nhưng nay, tác dụng tuyên truyền của chị đã hết. Ngoài ra, Đảng chỉ thích “xài” những người chỉ biết mù quáng tuân phục và ca ngợi các đường lối chính sách – bất kể đường lối chính sách nào – của Đảng. Và, Lý Chân đã không đáp ứng được hai yêu cầu đó. Chị cảm thấy bực bội vì cứ phải tham dự các buổi họp nhàm chán. Người ta trông chờ chị lên tiếng ca ngợi chính sách giáo dục và âm nhạc của Mao thì chị lại im lặng! Chị chẳng thấy hứng khởi gì trong cái vai trò ủy viên của Hội đồng Tư vấn Chính trị. Tất cả những thái độ đó của chị đã làm cho các viên chức Đảng nổi giận.
Tất cả những ý nghĩ trên đây cuồn cuộn tuôn ra trong trí não tôi khi tôi điện thoại cho chị. Tôi lấy làm vui thích khi chị Lý Chân đã mau mắn nhận lời mời của tôi.
Sáng hôm kỷ niệm sinh nhật con gái tôi, tôi dậy sớm. Tuy vậy, bà vú cũng đã đi rồi. Là một phật tử sùng tín, hôm đó, bà đến chùa Thanh An để đặc biệt cầu nguyện cho Mai Bình mà bà rất thương mến. Nghĩ rằng, là một người theo đạo Tin lành nên tôi sẽ không thích cho bà đi lễ chùa, bà cũng “lén” tôi. Bà đi từ sáng sớm và lặng lẽ khi trở về, hy vọng tôi không biết bà vắng nhà. Thực ra tôi đâu có ngăn cản bà đi lễ chùa. Và tôi biết bà vắng nhà nhưng cứ làm như không biết.
Bà trở về lúc tôi đang cắm hoa trong phòng ăn. Tôi nghe bà nói gì với anh bếp bằng giọng xúc động khác thường. Khi bà đi vào phòng, tôi thấy bà lấy khăn lau nước mắt. Tôi hỏi:
- Cái gì vậy, bà vú?
Bà vú đi vào phòng ăn nhưng im lặng không trả lời. Tôi hỏi lại:
- Ở chùa xảy ra cái gì vậy, bà vú?
- Tụi nó đang phá chùa!
- Ai đang phá chùa? – Tôi hỏi tiếp – chắc chắn không phải nhà cầm quyền rồi à?
- Bọn thanh niên! Có lẽ bọn sinh viên! Chúng nó nói là Mao Chủ tịch bảo chúng phải ngăn chặn những trò mê tín. Chúng nó nói tăng ni là phản Cách mạng, chống Mao Chủ tịch.
- Thế các tăng ni đối phó như thế nào?
- Không dám làm gì hết. Chúng trói các vị lại. Có vài vị còn bị chúng đánh đập ngoài sân chùa. Có đông thật là đông người đứng coi. Một trong số những người đứng coi nói là chúng sắp phá chùa và đốt hết kinh kệ như chúng đã làm ở nhiều nơi khác. Chính mắt tôi đã thấy một vài đứa trèo lên mái chùa, lấy ngói ném xuống đất. - Bà vú vừa nói vừa nức nở khóc.
- Thôi, đừng lo lắng quá mà làm gì. Vú có thể thờ ph
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện