DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Chương 2

2.

Vào mùa hè cái năm mà Kiku và Hashi sắp bước vào tiểu học, bọn trẻ nuôi được phân vào các nhóm. Các cô xơ giới thiệu Kiku và Hashi cho một người đề nghị nhận nuôi một cặp sinh đôi.
Đề nghị này là của một người ở một hòn đảo cách biệt ở phía Tây tỉnh Kyushu đã được Hội Thánh mẫu thông qua. Hai đứa lúc đầu từ chối việc phải xa Cô nhi viện, nhưng khi nhìn thấy ảnh của một cặp vợ chồng sẽ thành bố mẹ nuôi của mình thì đều đồng ý.
Đó là bởi chúng thấy có cảnh biển ở phía sau bức ảnh này.
Buổi tối trước hôm ra đi, các cô nuôi và bọn trẻ mở tiệc chia tay. Bọn trẻ cử người đại diện đưa quà lưu niệm. Đó là cái khăn thêu hình hoa anh đào và tên của tất cả bọn trẻ ở Cô nhi viện, Hashi bật khóc. Còn Kiku thì cố giấu cảm xúc bằng cách chạy ra khỏi phòng rồi trốn vào nhà nguyện, ở đó đầy bụi bặm và ẩm mốc. Cậu nhìn lên bức tranh treo tường đang nhấp nháy. Chúa Jesu tay đang nâng một con cừu hướng lên trời. "Chỉ lát nữa thôi mình cũng sẽ vào trong bức ảnh này, có mặt trên vách đá cao dựng đứng nhìn xuống biển như trong ảnh"... Cậu cứ tiếp tục nhìn bức tranh ấy cho đến khi cô xơ đến tìm rồi cùng cầu nguyện.
Chúng lên tàu siêu tốc shinkansen đi đến Hakata. Đến đó, cô xơ đi cùng giao chúng cho một người đàn ông mặc bộ complê màu đen. Đó là người của một quĩ phúc lợi thuộc tỉnh Nagasaki. Người đàn ông dẫn hai đứa đổi sang tàu thường, xuống một cái ga nhỏ, rồi lại lên xe buýt đi tiếp. Trong xe buýt nóng nực, ngay cả ở trần mà mồ hôi vẫn đổ đẫm, Kiku cứ nhìn người đàn ông mặc bộ đồ complê mà thấy kì. Khi cậu nói ra điều đó với Hashi, Hashi chẳng nói gì mà lại chỉ tay vào mu bàn tay của người đàn ông. ở đó có một cái sẹo do bị bỏng. "Cái người đó, chắc là từ xa xưa đã hay có những ý nghĩ nóng bỏng và chắc là đã quen với cái nóng lắm rồi".
Đi hết một con đường thẳng dài tít tắp thì bỗng thấy biển. Những con tàu có thân màu đỏ han ri, ở phía trái mũi đất và hòn đảo, mây tụ thành đám nơi đường chân trời đang bị mặt trời thiêu đốt. Kiku và Hashi chạy ra phía biển, leo lên một bờ đê làm bằng bê tông. "Kiku này, lạ chưa ! Có thể nhìn ra xa tít tắp cơ đấy". Cả một vùng bị bao bọc trong biển căng phồng lên và mờ đi vì nóng. Thấy Hashi cứ nhìn lom lom mãi vào cái giỏ cá, người câu cá liền cho cậu một con. Con cá có mắt to như lồi ra, bụng căng phồng, mình lấm láp, bật nhảy lên một lúc và rồi nhanh chóng chết khô đi. Kiku sờ vào cái đuôi nhọn của nó, thấy tanh nên bỏ đi.
Nhân viên quĩ phúc lợi gọi chúng, ông đợi chúng với 2 cây kem và tấm vé lên tàu. Khi 2 đứa vừa bước lên, đứng đối diện nhau trên tàu thì từ sau các vách đá sừng sững bao bọc cảng biển một chiếc máy bay bỗng hiện ra. Chiếc máy bay màu bạc hình ống tròn lừ lừ gập thu 2 bánh lái của chúng vào trong cánh, bay ngay trên đầu 2 đứa. Cả 2 mắt mở tròn xoe nhìn xoáy vào chiếc máy bay. Nó bay thấp đến nỗi cả 2 có cảm giác như mình cũng sắp bay đi mất. Cái bóng to lớn khổng lồ của chiếc máy bay với cái cánh xoè rộng trong chốc lát gần như phủ khắp cả cảng biển và làm cho cơ thể bé nhỏ của 2 đứa trẻ từ nãy đến giờ bị bọc trong nắng nóng được mát đi một chút.
Trên con tàu, mùi dầu ma-zut phả ra, cả 2 đứa gần như không chịu nổi cái nóng bức nên thấy thật ngột ngạt. Quầy bán hàng lại bị đóng cửa, một tờ giấy có ghi "Máy đang hỏng" được dán lên cái máy bán hàng tự động có bày bán nước ngọt, cả trên cái ti vi và cả cái quạt treo tường ! Nhân viên quĩ phúc lợi trao cho mỗi đứa một que kem đang chảy nước. Lớp ni lon mỏng bọc ngoài ghế ngồi của phòng dành cho khách trên tàu bị rách ra, từ bên trong các miếng mút màu vàng cứ tòi ra, các mẩu vụn của nó cứ rơi lả tả xuống sàn. Cái quần đen của nhân viên quĩ phúc lợi bị kem nhỏ xuống làm ướt bẩn. Ông ta cau mặt, lấy khăn mùi soa lau đẩy chúng thẳng xuống sàn lạo xạo toàn cát. "Có mệt lắm không ?", ông ta hỏi Kiku và Hashi. Hai đứa đều mệt nhoài. Mùi dầu ma-zut, lại thêm tàu bị lắc lư làm chúng thấy buồn nôn. Chúng liên tục liếm que kem để xua đi mùi dầu khó chịu dồn từ mũi đến họng làm chúng nghẹt thở. "Các cháu có mệt không ? Không trả lời được sao ?" Nhân viên quĩ phúc lợi to tiếng. Hashi kinh ngạc dừng mút kem. Cậu trả lời với giọng nhỏ và đều như đang đọc sách. "Chúng cháu từ Cô nhi viện Thánh mẫu Anh đào ở Yokohama đang trên đường đến nhà bố mẹ mới của mình". Nước kem tan chảy qua tay phải cậu rơi thẳng xuống sàn. "Tôi không hỏi thế. Tôi hỏi các cháu có mệt không thôi. Có mệt không ?". Hashi hơi run lên. Từ trước cậu đã sợ loại đàn ông khổ người to lớn. Cậu méo mặt gần như sắp khóc, trả lời một lần nữa. "Chúng cháu từ Cô nhi viện Thánh mẫu Anh đào ở Yokohama đang trên đường đến nhà bố mẹ mới của mình”. Nhân viên quĩ phúc lợi liếm nước kem chảy lên mu bàn tay phải có vết sẹo bỏng rồi cười phá lên. "Chỉ nói được có thế thôi à ? À, các cháu là bọn trẻ trong tủ gửi đồ mà !" Kiku quệt cái que kem ăn dở đang nắm chặt trong tay lên áo khoác của người đàn ông rồi bỏ chạy. Cậu định chạy qua boong tàu rồi lao xuống biển, ông ta với cái áo comple đen bị dính kem đuổi theo rồi đẩy cậu ngã xuống. "Nhóc này, mày phải xin lỗi tao đi", ông ta quát vào tai Kiku. Hơi thở bốc mùi. Mùi của con cá chết trên bờ đê xi măng ban nãy. Kiku nhìn ông ta rồi cười, ông ta tát nhẹ vào má Kiku. "Cười gì hả ? Hãy xin lỗi đi". Hashi xin lỗi thay cho Kiku. Hashi nắm lấy vạt áo comple của người đàn ông, nói mãi câu "Xin lỗi chú ! Kiku không hay nói vậy và cô xơ đã dặn cháu nói thay cho anh ấy". Nhân viên quĩ phúc lợi thả Kiku ra, cởi áo và dùng nước vòi của nhà vệ sinh để rửa chỗ bẩn. Kiku và Hashi nằm lên ghế cứng. Để cố xua đi mùi dầu mazut, chúng cứ hít mãi cái hương vani còn đọng lại trong lòng bàn tay trước khi chìm vào giấc ngủ.
Hòn đảo có hình như một con thú. Khi sắp vào cảng, mặt trời xuống thấp, đảo chỉ còn là một viền tròn đen sẫm, trông nó giống như hình nửa trên của một con hổ đang uống từng chùm ánh sáng.
Bố mẹ mới ở đảo ra tận cầu cảng để đón. Cũng có thể vì trời đã tối chăng, Hashi cứ nghĩ rằng cái ông bố này chắc đã phải có con của mình chứ. Ông bố mới tên là Kuwayama Shu-ichi và có dáng người thấp. Trong khi nhân viên quĩ phúc lợi giới thiệu 2 đứa bé thì Kiku quan sát ông và thấy thất vọng, ông không những chỉ thấp. Tay chân ông trắng và nhỏ, thịt ở vai, ngực, vế và mông đều chảy xệ, không để râu mà tóc cũng thưa, không hề có gì giống với chúa Trời trong ảnh treo ở nhà nguyện, ông đứng nghiêng trên nền đất, nhợt nhạt. Nhưng bù lại nếu là phẳng các nếp nhăn trên mặt của ông ra, nhét mụn cưa vào rồi khâu lại thì cũng thành ra được một cái túi gối còn dùng được đấy nhỉ ?. Cậu nghĩ thế. "Cứ đứng đây mà nói chuyện thì không hay nên ta đến chỗ nhà ăn đi". Trước cái giọng oang oang của ông, Hashi bấu vào bụng của Kiku rồi cười. "Kiku này, cứ như là con rôbốt để làm các con tính phức tạp trên tàu vũ trụ ấy nhỉ ?". Trong cái nhà ăn của cảng biển, Hashi và Kiku ăn món trứng bọc cơm còn bố mẹ và tay nhân viên quĩ phúc lợi ăn mì phở và uống rượu sake.
Lúc được ông bố tiếp rượu, nhân viên quĩ phúc lợi bắt đầu câu chuyện về cái áo comple bị Kiku làm bẩn. "ông phải dạy dỗ chúng thật nghiêm khắc. Trẻ con mà được chiều thì dễ bị hư hỏng lúc nào không hay !". Bà mẹ mới thì từ cổ trở lên mặt trát đầy phấn trắng. Mồ hôi làm trôi lớp phấn xuống khiến chúng đọng lại trên phần xương nhô ra khoảng giữa ngực và cổ. Bà mẹ mới của 2 đứa tên là Kuwayama Kazuyo, nhiều hơn chồng đến 6 tuổi, và đã vượt qua cái ngưỡng tuổi 40 rồi.
Bà Kazuyo, vào lúc cái đảo này còn khai thác mỏ than dưới đáy biển rất nhộn nhịp, đã chia tay với người chồng trước rồi nhờ một ông chú đưa đến đây. Chú của bà cũng là một công nhân mỏ. Hồi đó có hơn 5 nghìn công nhân mỏ sống ở đây, và một nửa trong số đó là thợ độc thân. Vào thời đó, bà bắt đầu học nghề làm đầu và ngày ngày qua đi thật là vui vẻ. Tuy vóc dáng lực lưỡng, mắt nhỏ, và mũi quá to, nhưng không có ngày nào là bà không được các thợ mỏ mời mọc. Nhưng bà tuyệt nhiên không chịu nhận lời ai. Không phải vì đã một lần thất bại trong tình duyên rồi nên bà ác cảm gì với đàn ông mà vì có quá nhiều người mời mọc, bà đâm ra quá tự tin, cứ tin tưởng để chờ đợi gặp được một ai đó hợp với mình hơn nữa. Bọn đàn ông cứ khen bà đẹp. Lúc đầu bà không tin. Vì từ thuở cha sinh mẹ đẻ, trước khi đến cái đảo này, chưa hề có một ai nói với bà rằng bà là người đẹp cả. Thế rồi, xong việc ở hiệu làm đầu, bà chọn một ai đó, cùng đi ăn tối với họ, rồi hoặc là đi chơi trò bắn bi ăn tiền pachinko, hoặc đi xem phim, hoặc đi nhảy ở đâu đó rồi về nhà, cho đến lúc đi ngủ, bà cứ ngắm mãi mình ở trong gương mất một lúc khá lâu. Bà nhớ lại những lời bọn đàn ông đã nói, ngắm lại trong gương tìm xem mình đẹp cái gì. Quả là không dễ mà tìm ngay được. Nhưng rồi bà nghĩ có thể đó là do cặp môi chăng ? Rồi cả nước da trắng mịn nữa. Mãi mà bà chưa quyết định chọn được ai làm người yêu cho mình là vì, xung quanh bà lúc nào cũng có đến 3 người đàn ông mà theo suy nghĩ cảm tính của bà như hồi trước đây, khi chưa đến đảo thì đều là người rất được.
Người đàn ông mà Kazuyo lên giường cùng đầu tiên sau khi li dị không phải là thợ mỏ, mà là một tay huấn luyện bowling đã có vợ. Bà quen ông ta khi đi cùng 2 tay thợ mỏ trẻ đến một sàn nhảy. Tay huấn luyện viên này có xe hơi, và họ đã cùng đi thuyền đến tận đất liền ở Nagasaki hay Sasebo để vui chơi. Khi bị bà vợ của ông ta phát giác, bị bà ta chửi "Cái mặt thế mà cũng dám rủ rê chồng người" bà rất đỗi kinh ngạc ! Quả là bà vợ của tay huấn luyện viên xinh đẹp hơn bà, nhưng khi bị nói là "Cá mặt thế" bà vẫn không thể tin nổi trong một thời gian dài. Và từ dạo đó, bà bắt đầu nhiễm thói quen ngắm gương thật lâu. Cái bờ môi, nước da trắng và mịn...là thế.
Sau hai năm làm ở hiệu làm đầu, bà nghỉ việc rồi đi làm tại quán bar ở phổ buôn bán. Bà dùng phấn trắng đánh cho da trắng thêm dùng son hồng quết cho môi đẫm thêm. Bà nhớ lại xem mình đã ngủ với anh chàng huấn luyện viên đến mấy lần. 18 lần! Bà cũng nhớ cả lại chuyện đến lần thứ mấy thì bà bắt đầu thích đàn ông. 'Từ lần thứ tư thì phải". Đó là cái khách sạn ở Nagasaki có giường tròn tại cái phòng có gắn gương trên trần. Tay huấn luyện viên dạy bà biết uống loại cốc-tai có vị cà phê. Vào ngày thứ tư đi làm ờ quán bar, có một tay thợ mỏ đãi bà món đó. Trào lên cái cảm giác nhớ nhung về ngày đó, bà đã bật khóc lên trong quầy hàng, rồi cùng tay thợ mỏ đó đến ngủ ở một lữ quán kiểu Nhật. Một tháng sau đó, mỗi tối với một tay thợ mỏ, ngày ngày bà ta lại làm chuyện đó. Mà cũng chẳng cần gì đến món cốc-tai có vị cà phê nữa cả.
Thế nhưng, những buổi tối hạnh phúc được nghe bọn đàn ông khen đẹp sau lúc làm tình, rồi ngắm mình một lúc lâu trong gương của bà rồi cũng kết thúc khi mỏ bị đóng cửa. Sau khi hầm mỏ đóng cửa, công nhân mỏ vẫn tiếp tục kháng nghị trong ba tháng, nhưng chẳng có ma nào đến quầy bar nữa, rồi sau đó, thợ trẻ kéo nhau đi khỏi đảo, dân cư ờ đảo giảm xuống còn khoảng một phần mười. Lúc đó bà Kazuyo mới ba mươi tuổi. Bà cùng với gia đình ông chú chuyển đến một cảng đóng thuyền ở Shikoku và tiếp tục làm ở quầy bar nơi đó, nhưng đó là một hòn đảo xa biển, không phải chỉ trong 2 tiếng đồng hồ mà đi thuyền đến được nên chẳng còn ai đến để nói với bà rằng bà rất đẹp nữa. Với thói quen vừa ngắm mình trong gương, vừa nhớ lại mặt mũi và của quí của các anh chàng đã ngủ với mình tại đảo, một đêm, bà chợt nhận ra một nốt thâm dưới lớp da đã thoa phấn trắng. Trong khi đếm các nốt thâm có ở dưới mắt, má, ngực, bà chợt nhận ra làn môi đã khô héo của mình và biết rằng da đã nhăn, thịt đã chùng. Gia đình ông chú cũng bận rộn chạy đuổi với cuộc sống kiếm ăn mới, cũng chẳng ai có ai có được thời gian để nghe chuyện của bà với cái nỗi lo quyện mùi phấn trắng sau khi tắm xong.
Bà lại rời cảng mới ở Shikoku đến Osaka làm việc trong 2 năm, Fukuoka một năm, khi mệt mỏi khốn cùng lại quay về đảo cũ. Trong khi làm nhân viên phục vụ trong một cái lữ quán duy nhất trơ trụi còn lại ở đảo, bà gặp lại Kuvvayama. Đỏ chính là một trong số những người thợ mỏ đã mời bà món cốc-tai có vj cà phê. ông đã nghỉ nghề thợ mỏ, đến làm thợ rèn tại một xưởng rèn ở Sasebo, kiếm được ít tiền rồi lại quay về đảo để mờ một phân xường nhỏ. Kuvvayama nói thế rồi dẫn bà đến một căn nhà nhỏ lợp tôn, ở đó có một cái máy cũ han rỉ đặt trên nền đất. Kazuyo quyết định sẽ sống cùng ông. Chả là tối đó, Kuwayama đã phải nặn cho ra từ "đẹp" từ cặp môi của ông ta để khen bà. Kuvvayama làm các hộp xốp nhựa đựng cơm bằng máy dập. Nhu cầu của khách tăng lên, ông mua thêm máy móc mới, làm thêm các loại hộp khác nhau, ông đã phải vay nợ để mua cho bà một cái hiệu làm đầu. Và khi món nợ đó trả được một nửa cũng là lúc họ nhận con nuôi về.
Kiku và Hashi được cho mặc hai bộ đồ ngủ có tranh vẽ hình một đoàn tàu hoả. Vừa nằm xuống sàn để ngủ thì có lẽ do mệt nên Hashi bị sốt. Bà Kazuyo làm một cái gối chườm bằng đá và lấy quạt nan để quạt cho cậu. Còn Kuvvayama thì khi nhân viên quĩ phúc lợi vừa ra về là đã quay lại ngay với công việc. Từ ngoài cửa sổ, các con sâu bướm màu da mà Kiku chưa thấy bao giờ bay đến. Kiku cứ nhìn mãi ra bên ngoài cái cửa sổ tối om chẳng nhln thấy rõ gì. Lúc này, cậu mới thấy cái cảnh bên ngoài cửa sổ của Cô nhi viện với ánh đèn phố nhấp nháy và những ngọn đèn pha phía đầu các ô tô chạy trên đường ngày trước mới đẹp làm sao! Trời tuy tối đặc nhưng nhìn kĩ thì thấy các chiếc lá to đang đánh vào nhau phần phật trong gió ấm. Kuvvayama bật điện chiếc máy dập, lập tức tiếng côn trùng biến mất. "Hơi ồn tí nhưng không thế thì ông ắy không ngủ được". Kazuyo nói thế. Kiku lấy chân gí nát các con bọ cánh bay đến trước chân cậu. "Không được giết các sinh vật". Bà Kazuyo lại nói. Cậu nhìn thấy một ngọn đèn nhỏ ở phía xa. Cậu tường đó là một ngôi sao nhưng hoá ra không phải. "Đó là ngọn hải đăng đấy. Nó chiếu sáng như thế để các tàu thuyền buổi tối đi qua không bị đâm vào đá tảng đấy". Bà Kazuyo bảo cho cậu biết. Khi ngọn đèn đó quay tròn, ánh sáng hắt về phía cậu và cả mặt biển rung rinh chợt bừng hiện lên. "Thôi, ngủ đi. Chắc con cũng mệt lắm rồi. Ngủ đi con!". Kiku đột nhiên muốn gào lên thật to. Cậu bỗng dưng muốn biến thành một chiếc máy bay khổng lồ, với một tiếng nổ gầm lên, thổi tung tất cả từ các con bọ đến các chiếc lá, cả cái cửa sổ và cả các cỗ máy của ông Kuvvayama và cả ngọn hải đăng nữa. Các bụi cây bị mặt trời thiêu đốt giờ lạnh đi trong đêm mùa hạ và cái mùi của nó không tài nào chịu nổi nữa. Kiku dồn hết can đảm cố bật lên đẻ nói: "Tên cháu là Kikuyuki. Trước đây Hashi và các cô xơ vẫn gọi cháu là Kiku". Giọng cậu rất bé. Mới nói được đến đấy nước mắt cậu đã tuôn trào. Cậu rất lấy làm lạ là tại sao mỉnh lại khỏe. Bà Kazuyo không nói gì tay vẫn quạt đều. Kiku một mình chui vào chăn. Cái ga trải giường mới lập tức thấm đẫm mồ hôi cậu.
Sáng hôm sau khi 2 đứa mở mắt ra thi Kuvvayama đã đang cho chạy cái máy dập kêu ầm ĩ. Bà Kazuyo đưa cho chúng 2 bộ áo sơ mi, quần lửng và giầy thể thao mới rồi đi đến hiệu làm đầu. "Buổi trưa, cả mẹ và bố con cùng về nên các con ở nhà cứ xem ti vi hay làm gì đó cũng được". Kiku và Hashi ăn cơm với trứng tươi và chan canh mixô rồi cùng nhau đếm thử xem có bao nhiêu chiếc thuyền buồm được in lên trên cái áo. Chúng có bật ti vi nhưng thấy đó là chương trình dạy nấu ăn nên lại tắt ngay, rồi chúng vật nhau một lát trên chiếu, lấy cái dùi nhọn trên bàn ném chọc thủng giấy dán tường, cuối cùng, chúng lao ra khỏi nhà. Ngoài mảnh sân hẹp có trồng cà chua và cà tím. Chúng nhìn thấy tấm lưng của Kuvvayama đang làm việc ở phân xưởng phía xa. ông cúi khom lưng, mồ hôi ướt đẫm cái áo lót đang mặc trên người và cứ nâng lên hạ xuống một cái gậy to đùng bằng sắt. "Này, Kiku, cậu có thấy ông ta trông giống như một con rôbốt không nhỉ?".
Con đường dốc nhỏ và dài ngay trước cửa nhà, ờ đoạn giữa giao nhau với một con đường lớn chạy ngang qua, rồi lại cứ thế mà xuyên ra phía biển. Hai bên đường hoa chuối dại mọc dày đặc. Ở dưới một gốc cây to có 3 đứa trẻ rám nắng đang bắt ve. Khi Kiku và Hashi lại gần, bọn trẻ nhìn bộ quần áo mới của cả 2 đầy ngưỡng mộ. Các cậu đang làm gì đấy? Hashi hỏi. Một đứa nâng cái giỏ đựng đầy ve lên. Hashi cầm lấy cái giỏ ầm ào như cái radio hỏng, xem chừng có được bao nhiêu con. Bọn trẻ con buộc cái nhựa dính cho vào trong cái vỏ sò vào phía trước cái sào rất điệu nghệ. Theo tay chỉ của bọn trẻ con Kiku và Hashi nhìn lên cái thân cây nhưng giữa khoảng trống giữa các cành cây ánh mặt trời chói lóa nên chúng không phân biệt được đâu là vỏ cây và đâu là các chú ve. Bởi vậy mà khi đầu mũi sào khẽ chạm vào thân cây, đột nhiên, tiếng ve kêu vang lên và bọn trẻ tóm được con ve đang dang cảnh ra giống như con chim đồ chơi bằng nhựa thì 2 đứa háo hức cứ như nhìn các nhà ảo thuật đang diễn trò. Hình như ở trên các cây cao cỏ các chú ve dầu. Một đứa trẻ trao cái sào cho Kiku vì cậu cao nhất ở đó. Kiku vừa bảo: "Tớ chẳng nhìn thấy gì cả" thì cái cậu đưa sào đã đưa tay chỉ. ở phía đầu ngón tay chỉ bẩn thỉu của nó, cậu nhìn thấy một con ve dầu to tướng trông giống như cái bướu của cành cây. Kiku nín thở tiến lại. Con ve lấy hết sức khuỳnh cọng chân của nó ra và réo lên hết cỡ. Kiku trèo lên một góc vỡ của toà nhà. Bọn trẻ bảo cậu hãy đưa cái sào lại từ phía con ve không nhìn thấy được. Các mảnh vỡ xiêu vẹo và Kiku bị chao đảo. Hashi kêu lên thất vọng. Kiku cứ trong tình trạng chao đảo đó nâng cái sào lên cỡ gần dính vào đít con ve. Một đầu sào chạm vào cánh con ve và nó cố giằng ra để bay đi làm cho cái sào bật nảy lên vẽ một đường parabol trong không trung rồi mới nhẹ nhàng rơi xuống sau khi Kiku ngã xuống. Bọn trẻ reo lên tán thưởng. Bọn trẻ cùng nhau nắm lấy cái sào bắt con ve đang nhổm lên khỏi mặt đất giãy giụa, phùi nhựa cây rồi đưa cho Kiku xem. Hashi hỏi bọn trẻ con xem để ra biển thì có phải đi theo con đường dốc này không? "Phía trước đây là vách đá, không thể xuống được bờ biển đâu". Bọn trẻ bảo cho chúng biết là cứ đi bộ một lúc theo lối đi của xe buýt ờ đằng kia, đến chỗ rẽ thứ 2 thì đi xuống là có thẻ ra được bãi biển.
Đi hết con đường lớn thì gặp cửa hàng làm đầu của Kazuyo ờ trên bến xe. Kazuyo nhìn thấy 2 đứa, liền bước ra, quát: "Hai đứa đi đâu?". Kiku không nói gì mà chỉ tay ra phía biển. "Nhưng không được đi đến chỗ cũ của hầm mỏ đâu đấy". Đó là lần đầu tiên Kiku và Hashi nghe đến từ "hầm mỏ".
Cái lối rẽ thứ 2 mà bọn trẻ con bảo cho Kiku và Hashi bị cây cỏ phủ nên 2 đứa đã bỏ qua mất. Vừa nghĩ: "Chắc là đây đây" rồi bước vào một lối nhỏ được một lúc thì con đường lại tách ra thành 2 lối làm 2 đứa mất mấy lần đi vào lối cụt, không thể lần ra được cái lối về chỗ xe buýt cũ được nữa. Chúng bị muỗi truy đuổi, bị cỏ cứa vào chân, đâm ra rất lo lắng. Chúng cũng định kêu ai đỏ đến cứu nhưng hình như có gọi cũng chẳng có ai. Rồi đường lại rẽ tiếp ra làm 2 lối. Bên phải thì có một đường hầm tối, nên chúng rẽ sang trái nhưng vừa đi được mấy bước thì lại có một con rắn nằm ngang đường. Hai đứa kêu lên sợ hãi rồi bỏ chạy theo lối đường hầm. Con đường hầm hơi uốn lượn một chút nên nhìn thấy cái lối ra ở phía đằng trước như một cái ống sáng nhỏ và dài. Nó lạnh và ở dưới lại lầy lội. Từ trên trần, các giọt nước cứ rơi xuống gáy. Hashi gào váng lên như làm vỡ tung cả đường hầm, chạy và bị vấp ngã. Hashi cứ nằm thế, mặt méo xệch, sắp khóc khiến Kiku phát cáu lên: "Không được khóc. Đứng dậy và đi đi nào. Sắp ra đến cửa rồi". Kiku tránh vũng nước và chỉ tay ra lối cửa. Nước đọng vũng bốc mùi. Khi chúng ra khỏi đường hầm lầy lội mới biết là con đường đã bị phong toả bời hàng rào dây thép gai và cỏ dại. Nhưng ở một góc bên phải có một cái lỗ vừa cho đứa bé 5 tuổi chui qua được. Hai đứa không muốn quay trở lại đường hầm nữa. Cái hàng rào dây thép gai rỉ đã làm rách cái hình thuyền buồm trên áo. Kiku thấy Hashi mãi không tiến lên được bèn doạ: "Phía sau có rắn đấy". Hai đứa ép bụng bò ra, dùng khuỷ tay để tiến. Một lúc thì cái khuỷ tay chạm phải nền ximăng, không còn thấy cỏ mọc nữa. Khi chúng đứng lên được thì cái khung cảnh hiện lên trước mắt giống hệt như cái mô hình mà Hashi đã làm một năm trước đây.
Cái vương quốc hồi đó với những đồ phế thải, các đồ chơi cùng với các mảnh gạch ngói trước đây chợt phình to ra và hiển hiện trước mắt chủng. Đó là một thành phố không người và hoang phế. Nếu không nhìn thấy những khu nhà tập thể cho dân mỏ màu tro nằm sát nhau ngay ngắn, từ các khung cửa sổ vỡ kính cỏ mọc lấp đầy, thì sẽ rơi vào cảm giác như mình đang ờ trong một khung cảnh mà sau một tiếng còi rú lên, tất cả mọi người đều đã đi sơ tán hết cả rồi, chỉ còn lại một mình mình bị bỏ rơi lại chờ đợi bị hành hình làm vật tế thần. Trên các tấm bảng thông báo, các tấm áp phích vẫn treo dính lại: "Buổi biểu diền của ban nhạc kèn đội tự vệ hàng hải tỉnh Kyushu", "Cuộc diễu hành ừên sông Kuvvai, hãy nhổ neo và hãy để lá cờ Mỹ mãi mãi bay cao". Hai đứa run rẩy vì biết rằng không thể có đưực tiếng người nói trong khung cảnh này nên ù té chạy. Chúng chạy trong khoảng giữa các ngôi nhà. Chỉ có tiếng bước chân chúng vẳng lại. Đến khi nhìn thấy một cái xe ba bánh 2 đứa mới dừng lại. Các cọng cỏ non nhú tràn lên trên cả cái yên xe bằng nhựa đã phai hết cả màu. Cả Hashi và Kiku đều có cảm giác hình như bọn trẻ con bắt ve ban nãy sắp ló mặt ra ở một chỗ nào đấy. Hashi vịn vào cái ghi-đông. Cái khung gẫy gục với tiếng kêu như tiếng con lợn bị đóng đinh vào đầu. Từ vết nứt của nó một loại nước hỗn hựp giữa gỉ sắt và dầu nhỏ xuống. Cái xe ba bánh bị nghiêng về phía trước làm 2 đứa rất sợ hãi. Chúng đi qua khu nhà ờ. Hết lối đi bằng xi măng chúng leo lên cái bậc thang có sỏi và cây bao phủ. Cảnh sắc trong tầm nhìn bị nhuộm đỏ. Mặt trời chiếu tới qua các kẽ hở của bức tường gạch. Bức tường chạy dài, và nhòm qua kẽ hở của nó, thấy những công trình kiến trúc mà chúng chưa gặp bao giờ chen chúc với nhau. Một cái tháp hình phễu, một cái ao bằng bê tông được xây vuông vức, ngay ngắn, nối giữa ao và tháp là một con mương ừòn, rồi những lõi sắt bê tông phơi hết cả ruột, cái ống hình tròn bằng gạch, và quấn quanh cái ống đó là các dây leo chằng chịt. Hashi thấy hình như nó trông giống với một cái gì đó và đang định nói thế với Kiku thì bỗng ngừng bặt. Cậu thấy mặt Kiku bỗng trắng bệch ra. Nó trông giống cái mô hình về bộ phận tiêu hoá của người được dán lên bức tường của phòng đợi tại bệnh viện trước đây khi Kiku và Hashi được điều trị bằng phương pháp cho nghe âm thanh. Kiku thấy sởn cả da gà. Khung cảnh một di tích không người chỉ có nhiệt độ của không gian ngự trị ấy thôi là khung cảnh còn sót lại sau khi một vật thể xoay chuyển khổng lồ luồn làm cho cậu sợ hãi đã bay ngang qua.
Chúng đi qua cái khung bê tông thì lại gặp một trường học đã bị phá lửng tự bao giờ. Một cái đài phun nước đã cạn cả nước giờ đang khô nứt nẻ trong đó có những cái cây lá dày chĩa các đầu lá nhọn ra ngoài. Các chiếc lá nhọn đó không phải là lá cây thật mà được tạo ra bằng sắt thép. Trông chúng cứ có cảm giác như sắp chạm đến cái đường hầm nơi đáy đại dương. Xung quanh cái vòi phun nước có một luống hoa còn sót lại, những hạt giống hoa bị gió thổi bay từ dạo nào rơi vào chỗ đất ít ỏi nơi đáy của một cái bồn vệ sinh giờ đã nở hoa. Một nửa của trường học được che phủ bằng bạt nilông. Trong mấy sợi thừng buộc neo chúng có mấy cái bị đứt dở, cùng với mảnh bạt bị thủng lỗ chỗ mỗi khi gió thổi tới lại vẫy bay phần phật. Trên nóc nhà có mấy trăm con quạ đứng đợi mồi, cứ mỗi lần nghe tiếng phần phật ấy lại nhảy lên, làm cả toà nhà trông cứ như có một phần bị xé rách ra.
Hashi từ nãy cứ tự hỏi đây là đâu. Cậu còn nhớ cả cảnh bị ngã trong đường hầm. Cái áo bị lấm lem bùn đất giờ đã khô bẩn đến mức không còn phân biệt được đâu là da với áo, từ các vết bẩn ấy, mùi dầu và nước thối cứ bốc mùi lên, làm cho cậu chỉ nhớ lại được mỗi cảnh chui vào trong đường hầm mà thôi. Kiku thì nhận ra là trời đã xế tà. Nếu mà tối hẳn thì chỗ bỏ hoang này chắc chẳng phải là cái công viên lí thú để dạo chơi đâu. Phải nhanh chóng tìm lối ra đến chỗ bọn trẻ con bắt ve ban nãy thôi.
Chúng đi ngang qua sân vận động của trường. Mấy cây gậy sắt bị bẻ cong queo cắm xuống đất. Nơi bãi cát bụi xương rồng mọc rậm rịt, các gai của chúng nổi bồng bềnh trong cái bể bơi đầy nước màu lục. Có 3 cái cột điện bị gãy ở giữa, ở chỗ gãy có loài kiến trắng đã làm tổ, hàng trăm cái cánh mỏng trong suốt của chúng tạo nên cái ảo ảnh muôn hình vạn trạng, ở phía bên kia cái màn che gần như trong suốt, có các dãy phố. Phố buôn bán và phố vui chơi đối diện nhau qua một con đường có những phiến đá mòn.
"Nhìn kìa, đẹp không". Hashi kêu lên. Có những phiến vỡ của một cái đèn nêông được uốn theo hình tên của một quán ba hay nhà hàng gì đó được tập trung lại trong một cái hố, gió thổi làm nó lung lay và phát ra ánh sáng như một tấm thảm phát quang. Hướng bay và tốc độ gió khác nhau tạo ra các loại mảnh vỡ nhỏ phát quang theo các kiểu khác nhau và đảo vị trí của chúng, màu ánh sáng hoà vào nhau, cả cái hố như một cái bảng đèn nêông được bố trí rất điệu nghệ. Kiku tiến lại gần nhặt một mảnh vỡ lên. Nó rất nhẹ và khi sờ thì tạo ra cảm giác khác nhau giữa mặt trong và mặt ngoài. Mặt ngoài thì màu hồng và trơn, mặt trong thì thô ráp và màu vàng. Cậu ném mảnh vỡ đó đi. Nó không rơi vào trong cái hố mà lại rơi vào một bụi đất. Nhìn vào chỗ đất nó vừa rơi xuống, mặt Kiku bỗng biến sắc. Cậu chống đầu gối vừa bò vừa nhìn theo cái gì đó trên mặt đất. "Sao thế ? Kiku ?". Hashi cầm chặt cái ống nêông hình chữ s hầu như chưa bị gãy nứt tí nào đi theo. Chả là có dấu vết của một cái lốp xe. "Mặt đất mềm và khô nên đây không phải là cái dấu cách đây đã lâu. Lại chỉ có một vệt thôi cho nên đó chắc là đường hằn của một cái xe máy đi qua". Có ai đã đi qua đây. Có ai sống ở cái thành phố này đây ? Cái vết bánh xe đó chạy đến trước cửa rạp chiếu bóng thì biến mất. Cái rạp có một cái biển đề Piccadilly bị đổ nghiêng nằm ở bên ngoài phố vui chơi. Kiku thăm dò xung quanh vùng đó. Cái vệt bánh xe qua không còn tìm thấy bất cứ nơi nào khác nữa. Cũng không thấy vết nó đã quay đầu trở lại. Hashi thì nhìn lom lom vào cái tấm áp phích còn sót lại một nửa dưới dòng chữ "tuần sau công diễn" và mấy tập ảnh rơi xuống giữa khoảng trống của các tấm ván trải. Cái tấm áp phích là hình cô gái bị rách mất phần mắt, có mũi, lưỡi và cằm và phía dưới các bộ phận đó là phần ngực không hiểu sao lại bị tách ra biệt lập. Còn trong mấy bức ảnh thì có ảnh một người đàn ông ngoại quốc cầm lăm lăm khẩu súng lục và một cô gái tóc vàng bị chảy máu và ngã xuống, có ảnh về cảnh hôn nhau, ảnh một quí bà đang cưỡi một con ngựa hai đầu trong cảnh hoàng hôn. Hashi nhẹ phủi những hạt cát bám lên các bức ảnh và ngắm chúng. Nếu không lấy ống tay áo mà phủi nhẹ thì chúng sẽ bị rách mất. Sau mấy bức thì có một bức ảnh của một cô gái trần truồng, cậu định cho vào túi thì nó lại rách mất. Kiku thì cứ ngó nghiêng từng cái cửa sổ một của rạp chiếu bóng. Tất cả chúng đều được đóng đinh niêm phong.
Hashi chợt ngước nhìn lên rồi thất sắc. Cậu định hét to lên nhưng cổ họng bị tắc nghẹt không kêu ra tiếng. Chả là ở tầng 2 của rạp chiếu bóng có một người bằng xương bằng thịt đang ngó xuống dưới này. Đó là một thanh niên trẻ. Anh ta cởi trần, mặc độc cái quần da. Lúc này Kiku cũng đã nhận ra. Anh thanh niên nhìn hết Kiku lại quay sang nhìn Hashi, anh ta hất hàm ra ý bảo hai đứa hãy đi ra chỗ khác. Khi thấy bọn Kiku sợ run bắn lên, không đi nổi anh ta mới cất tiếng với giọng trầm "Về đi". Hashi định chạy ra xa nhưng thấy Kiku vẫn đứng yên chưa nhúc nhích gì cả, không biết làm thế nào cậu bèn cất tiếng gọi to: "Kiku ơi !". Kiku thì cứ nhìn mãi vào người thanh niên gầy gò tóc dài và để râu vừa lầm bầm: "Cuối cùng thì cũng tìm thấy rồi. Hoá ra anh ta ở chỗ này đây. Cái người đàn ông nâng tớ bay lên trời hoá ra lại sống tại cái phố có cái vật thể bay khổng lồ tàn phá này đây". Người thanh niên bỏ vào trong. Có tiếng cửa đóng. Kiku dồn hết sức kêu lên: "Cái xe máy của anh bị làm sao đấy ?". Nhưng không có tiếng trả lời. Hashi nước mắt lưng tròng, tiến lại gần, "Thôi, về thôi", cậu giật tay áo của Kiku. Kiku cũng ngán ngẩm bước đi. Khi 2 đứa vừa rẽ qua góc của rạp chiếu bóng, thì nghe thấy tiếng tấm bảng sắt và cây gỗ choảng vào nhau. Cả 2 ngoảnh lại. Từ trên tầng 2 của rạp chiếu bóng, các tấm sắt mỏng hình lượn sóng rơi loảng xoảng xuống mặt đất. Gần như cùng lúc với tiếng máy nổ là một cái khung xe màu bạc xuất hiện và với một tốc độ nhanh khủng khiếp xới tung cả bụi đất, chui qua các tấm sắt, chàng thanh niên bay lướt qua đứa trong chốc lát. Kiku có cảm giác như khi lướt qua, anh ta có mỉm cười với mình. Tiếng xe máy bỗng chốc rồ xa.
Khi bị tra hỏi đến cùng lí do cái áo bị lấm lem bùn đất Hashi đã phải thú nhận chuyện đến khu mỏ bỏ hoang. Hai đứa bị rầy la dữ. Kazuyo giải thích cho 2 đứa về chuyện khu mỏ bị phá bỏ và chưa được dọn dẹp cho ra hồn nguy hiểm đến thế nào, rằng có 2 thợ mỏ lang thang định vào một phòng trống để ăn cắp ống nước thì bị rắn hổ mang cắn, rằng có cả bọn trẻ bị rơi vào đường ngầm, rằng những cái cây lấp đường ngầm gần như đã bị mục nát trong các hố chứa đầy khí gas, nếu rơi xuống đó thì sẽ bị lăn một mạch đến hơn 3 nghìn mét đến tận đáy biển rồi làm mồi cho rắn rết, rằng ở các chỗ cất giữ nguyên liệu ở dưới đất vẫn còn sót lại các loại thuốc độc hại, nếu sờ phải chúng thì chỉ chốc lát là cả xương thịt cũng bị tan rữa, trong các phòng bỏ hoang bây giờ vẫn còn có kẻ lang thang sống chui nhủi và có bé gái bị chúng tấn công, rằng kể cả khi có xảy ra sự cố thì có kêu cứu cũng chẳng có ai đến cứu giúp, rằng có kêu thét lên cũng chẳng có ai ở gần mà nghe thấy được, v.v... Bà nói thế và bắt 2 đứa hứa là từ nay trở đi không bén mảng tới đó nữa.
Kuwayama và Kazuyo thảo luận với nhau và quyết        định đóng cửa hiệu làm đầu để Kazuyo chăm sóc lũ trẻ cho đến khi chúng quen với cuộc sống ở đảo. Bà dẫn 2 đứa lần lượt đi hết các nhà trong khu để chào hỏi và giới thiệu. Bà mua quần áo bơi và dẫn chúng ra biển.
Khi ngửi thấy hương vị của sóng biển bay đến tận trên bãi cỏ, cả 2 đứa đã reo lên và chạy đến mép nước. Khi chúng vừa chạm đôi chân trần xuống nền cát cháy nắng, thì các ngọn sóng đã chồm lên bắn ra những hạt nước li ti để đón chào. Trong các lỗ nhỏ trên bãi cát ẩm mịn, có các con dã tràng đang ẩn nẩp. Trong các vũng nước nhỏ đọng lại trên các hốc đá sau khi thuỷ triều rút đi, các con cá nhỏ không kịp quay về biển nấp tạm vào đó.
Hai đứa quyết không bắt các con cá bé hơn đầu ngón tay của chúng. Chúng cũng biết ra rằng nếu thọc sâu các ngón tay vào giữa các xúc tu của con Hải quì và bóp phần cổ của chúng lại thì sẽ có được cảm giác rất khoan khoái khi được mút chặt vào. Từng cái xúc tu một đều có hình dáng và màu sắc sặc sỡ khác nhau. Chúng bắt các con cá nhỏ tập hợp thành đàn đến nhặt thức ăn thừa của bữa trưa, đuổi lũ cá chạy toán loạn ra phía biển. Bọn trẻ con cho bắt ve ban nãy cũng đến. Hashi vẫy tay chào chúng. Bọn trẻ mang theo kính bơi và cái chĩa để chọc bắt cá rồi lặn xuống.
Một lúc sau cái chĩa trồi lên và đầu phía trước treo một cái khối tròn tròn như túi nilôn. "A, Bạch tuộc !". Bọn trẻ reo lên và chạy lên bờ. Kiku và Hashi cũng vội vã chạy theo để xem. Con bạch tuộc có cái màu rất khó phân biệt được với màu sắc của bãi đá và bị mắc kẹt vào trong răng của cái chĩa, từ người nó có một dòng chất lỏng màu đen nhỏ xuống tong tỏng. Cái con bạch tuộc mà 2 đứa xem thấy ở Bảo tàng sinh vật biển hồi còn ở Cô nhi viện có màu đỏ hơn, đầu, chân, mắt đều có hình thù rõ ràng. Còn con này thì nó cứ bầy nhầy như một tấm giẻ lùng nhùng ẩm ướt. Khi nó tuột khỏi cái chĩa, bọn trẻ lỡ tay, thế là tấm giẻ bùng nhùng ấy trốn ra phía biển. Nó chạy về phía Hashi và Kiku đang đến. Nó di chuyển như là đang trượt sát trên các tảng đá. "Bắt lấy nó !". Bọn trẻ hét lên với 2 đứa.
Hashi vừa chìa tay ra thì tấm giẻ đó đã quấn vào tay. Hashi bị cái đống giẻ bầy nhầy không ra hình thù gì lại trơn nhẫy như thế bò từ cánh tay chuyển lên mặt, nên sợ hết hồn không thể kêu lên được nữa. Cậu dùng tay kia cố hết sức để gỡ ra, nhưng con bạch tuộc lại chuyển sang cánh tay đó. Con bạch tuột vừa quấn chặt lấy tay cậu vừa vươn một cái vòi ra phía vai. Cảnh Hashi vẫy vùng để chống lại con bạch tuộc trông từ xa cứ như đang nhảy múa.
Khi nghe tiếng kêu thảm thiết, bà Kazuyo vội chạy đến, thì thấy con bạch tuộc đang cố phủ khắp hết mặt Hashi đang nằm vật ra, còn Kiku và bọn trẻ thì đang cố hết sức để gỡ nó ra, nhưng con bạch tuộc cứ quấn chặt lấy Hashi như một phần da thịt của cậu không tài nào gỡ ra nổi. Bà Kazuyo vội cởi áo bật tung các khuy ra. Bà xé phần bị thấm mồ hôi ướt vứt đi, còn phần khô thì quấn quanh tay, dùng nó gỡ từng cái vòi của con bạch tuộc. Vừa nắm được nó bà liền để nguyên cả vải quấn ở tay quật nó liên tiếp xuống đá tảng, cổ và vai Hashi sưng đỏ, vẫn còn hằn vết bám của con bạch tuộc. Hashi ngồi dậy, cậu hết nhìn con bạch tuộc không còn động đậy nữa lại nhìn bà Kazuyo rồi cuối cùng bật khóc. Bà Kazuyo ôm cậu vào lòng. Cái đầu ti của bà chạm vào bên sườn làm cậu thấy nhột. Cậu vùi mặt vào vai bà và liếm làn da mặn mòi mùi muối biển của bà.
Hoa dong riềng dại hai bên con đường dốc đang kì đổ rụng. Cánh hoa nở tung màu đất, khi giẫm lên thì vỡ bung hết cả ra. Vào lúc các cơn bão nổi lên, thổi giật những cành hoa mùa hè lìa thân la đà bên gốc, hay thổi bật tung hết các loại quả mùa hè chín nẫu trĩu trên cành, bà Kazuyo bắt đầu dạy cho Kiku và Hashi cách lấy nhân các hạt dẻ nhặt được ở trên núi. Khi giẫm vỡ chúng, tách các vỏ gai ra sẽ thấy có 3 nhân không đều nhau nằm ở trong đó. Cái bị kẹp ở chính giữa là cái to nhất, có cả những cái hạt dẻ mà cái nhân chính giữa này sẽ lấy hết cả chất dinh dưỡng để lớn hẳn hẳn lên, làm cho 2 cái còn lại bị teo đi. Kazuyo cho Kiku và Hashi xem 1 hạt như vậy và nói: "Gạt bỏ đồng loại để mà lớn lên một mình và chỉ có một mình thì sẽ thật là cô đơn phải không". Chính Kiku lại tìm thấy 1 cái hạt dẻ bên trong có 2 cái nhân. 2 cái nhân này áp lưng tựa vào nhau, cùng to đều như nhau. "Kỳ lạ quá nhỉ. Cái hạt dẻ này chắc là giống như 2 con đấy. Thường thì vỏ của những hạt dẻ đôi sẽ bị nứt ra và nhân bên trong sẽ thối đi". 2 đứa mỗi đứa bỏ vào túi 1 cái nhân của cái hạt dẻ đôi ấy.
Cứ một tháng 2 lần Kuwayama lại thuê một chiếc thuyền nhỏ đi câu cá. Ông thường lên đường trước lúc bình minh. Những lúc trời rét, dù ngại ông cũng vẫn dẫn Kiku và Hashi đi. Tại quán trọ cho khách câu, ba bố con uống trà nóng có pha muối, ngắm cảnh biển lúc bình minh lên, tận hưởng cảm giác biết bầu không khí đang nóng dần lên, nhìn cái sắc lạnh của các vây lưng màu xanh của các con cá quẫy, xem màu máu của các con cá từ màu đỏ trong chuyển thành màu sẫm, ngửi mùi vảy cá khô, nghe tiếng sóng đánh lên bờ nhuốm màu vàng, và nghe tiếng tuyết khẽ tan trên mặt biển.
Vào khi hàng ngàn con ấu trùng bướm trắng nở thành con trên ruộng cải bắp, Kazuyo đặt trước mặt Hashi và Kiku một cái hộp có buộc dải đăng ten. Mở ra, thì đó là 2 cái cặp để đến trường.
 
 
 
 

 
 
 
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện