DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

 
Mục lục truyện
Chương 1

1

Bà mẹ trẻ ấn vào bụng dưới của đứa bé rồi đưa cái chim ở ngay dưới đó vào miệng mút. Nó bé hơn một chút so với điếu thuốc lá có vị bạc hà của Mỹ mà cô ta thường hút và có vị cá tươi ngai ngái. Cô nhìn xem nó có khóc lên không, nhưng chẳng thấy chân tay cựa quậy gì nên mới gỡ mảnh băng dán mỏng dính trên mặt nó xuống. Cô trải 2 tấm khăn tắm làm 2 lớp lót xuống đáy hộp cáttông, đặt đứa bé vào trong, quấn băng dính rồi lấy dây buộc lại. Cô viết đậm nét một cái tên và địa chỉ vớ vẩn lên phía trước và bên cạnh cái hộp. Hoàn tất việc trang điểm đang dở dang từ nãy, cô xỏ chân vào cái váy liền thân hoa văn hình chấm thủy. Bầu ngực vẫn còn sưng tức chợt nhói đau nên cô cứ đứng nguyên thế đưa tay phải lên để day ấn. Cũng chẳng thèm lau những giọt sữa trắng tứa ra rơi xuống tấm thảm, cứ thế cô xỏ chân vào dép, cắp cái hộp có đựng thằng bé rồi đi ra ngoài. Trong khi đợi tắc-xi, sực nhớ đến tấm ren trải bàn đan sắp xong, cô tính đặt lên nó cái chậu cảnh trồng cây phong lữ. Ban nãy, đứng trong nắng xiên khoai, lại nóng bức ngột ngạt nên cô thấy chuếnh choáng. Cái radio của xe tắc-xi đưa tin là đợt nắng nóng kỉ lục đã làm cho 6 người bệnh và người già bị chết. Đến nhà ga, cô ta đẩy cái hộp có đựng thằng bé vào trong cái ngăn tủ cuối cùng, gói chìa khóa vào mảnh băng vệ sinh rồi vứt vào bồn cầu. Ra khỏi cái nhà ga bỏng rộp vì bụi và nóng, cô vào một trung tâm thương mại, ngồi hút thuốc lá và đợi cho đến lúc ráo mồ hôi. Cô mua một cái quần tất, thuốc tẩy, thuốc sơn móng tay, và uống nước cam, cổ khô rát tưởng như không chịu nổi. Rồi cô dùng cái lọ thuốc vừa mua ngồi tỉ mẩn sơn chuốt lại từng chiếc móng tay trong phòng vệ sinh.
Vào lúc cô ta sắp sơn xong chiếc móng tay cái của bàn tay trái thì trong cái hộp tối, thằng bé trong trạng thái ngoắc ngoải bắt đầu túa mồ hôi ướt đẫm toàn thân. Lúc đầu mồ hôi chỉ ra ở trán, ngực và nách nhưng dần dần nó túa khắp người làm thằng bé lạnh. Nó cựa tay và há miệng ra. Rồi bỗng nhiên nó bật khóc gào lên. Chắc bởi nóng quá. Không khí ẩm nặng nề, cái hộp lại bị bịt kín 2 lớp làm nó không thể nào ngủ yên được. Cái nóng với cường độ gấp mấy lần bình thường làm máu chạy dồn lên và mắt nó mở ra. Lần thứ hai, đứa bé đã được sinh ra trong cái hộp nhỏ mùa hè tối và khó chịu cùng cực do nóng bức. Từ khi nó chui ra khỏi cơ thể người phụ nữ, tiếp xúc với không khí đến giờ là sau 76 tiếng đồng hồ. Đứa bé đã gào khóc liên tục cho đến khi nó được phát hiện ra.
Trung chuyển qua bệnh viện của cảnh sát, rồi được đưa về nuôi dưỡng tại Cô nhi viện, một tháng sau đứa bé được đặt tên là Sekiguchi Kikuyuki. Sekiguchi là cái họ được lấy theo chữ mà bà mẹ của nó viết bừa lên vỏ hộp cát tông, còn Kikuyuki là tên ở số thứ tự thứ 18 được đặt cho đứa trẻ bị bỏ rơi theo qui định tại Phòng Phúc lợi của Quận Kita tỉnh Yokohama. Chả là Sekiguchi Kikuyuki được phát hiện ra đúng vào ngày 18 tháng 7 năm 1972.
Sekiguchi Kikuyuki được nuôi dưỡng tại một Cô nhi viện ngăn cách với một con đường có hàng rào thép bao quanh và từ đó có thể nhìn thấy một khu nghĩa địa. Con đường đó có hàng cây anh đào nên nó được gọi là Cô nhi viện Thánh mẫu Anh đào. Có rất nhiều trẻ con cùng lứa được nuôi dưỡng ở đó. Sekiguchi Kikuyuki được gọi là Kiku. Khi cậu bắt đầu học nói thì luôn nghe được những điều các xơ nói đi nói lại hàng ngày để cầu nguyện cho cậu. "Hãy tin rằng Cha đang hàng ngày ở trên trời theo dõi che chở cho chúng ta". Người cha mà các xơ nhắc đến ở trong một bức tranh treo trên tường Nhà nguyện. Cha có bộ râu dài, trên vách đá dựng đứng trông ra biển, Cha kính dâng Trời con cừu mới sinh. Kiku cũng luôn nhắc đi nhắc lại câu hỏi của mình: "Thế con ở đâu trong bức tranh này ? Cha là người ngoại quốc cơ mà". Các bà xơ thì trả lời thế này: "Đây là tranh vẽ lại hình Cha khi con còn chưa sinh ra cơ. Người không chỉ sinh ra con mà còn cho ra đời nhiều sinh linh khác nữa. Điều đó chẳng liên quan gì đến màu mắt hay màu tóc cả".
Bọn trẻ con trong Cô nhi viện Thánh mẫu Anh đào tùy theo gương mặt dễ thương của chúng mà lần lượt sớm được các gia đình nhận về làm con nuôi. Ngày chủ nhật, sau buổi lễ cầu nguyện có mấy cặp vợ chồng đến để xem bọn Kiku chơi đùa với nhau ở ngoài sân. Kiku không phải là đứa bé xấu xí. Nhưng những đứa trẻ có bố mẹ chết do tai nạn giao thông thường dễ được nhận nuôi hơn cả, còn những đứa trẻ bị bỏ rơi nếu trông không thật dễ thương thì chẳng có ai nhận cho. Cho đến khi Kiku biết chạy, chẳng có ai đón nhận nó về.
Cũng vào khoảng thời gian này, Kiku vẫn chưa biết mình là đứa trẻ bị bỏ rơi trong tủ gửi đồ. Một cậu bé có tên là Hashi bảo cho nó biết được điều đó. Mizouchi Hashio cũng là đứa bé không có người nhận nuôi nên thuộc nhóm ở lại Cô nhi viện. Tại bãi cát, Hashi nói với Kiku: "Này, chỉ có 2 đứa mình là còn sống đấy. Những đứa khác chết hết cả rồi. Những đứa bé trong tủ gửi đồ mà còn sống sót lại được là chỉ còn cậu với tớ, 2 đứa mình mà thôi đấy". Hashi thuộc tạng ốm yếu, gầy còm. Cậu ta có đôi mắt trông ướt át hình như lúc nào cũng nhìn đến một nơi xa xăm nào đó và Kiku, khi nghe thế, tự cảm thấy mình như là người vô hình. Từ người của Hashi luôn tỏa ra mùi thuốc. Khác với Kiku là đứa bé trong hộp tối và nóng, gào khóc liên tục, khiến cho cảnh sát quay lại với mình thì Hashi sống sót được là nhờ vào cái thể trạng ốm yếu của cậu ta. Người đàn bà bỏ rơi cậu chẳng thèm lau người cho cậu, cứ để trần truồng như thế, nhét vào túi giấy, ấn vào tủ gửi đồ. Vì cả người phát ban do dị ứng, toàn thân cậu thấm đẫm phấn rôm, cậu ho và nôn mửa liên tục. Mùi thuốc và mùi bệnh tật lọt qua khe hở của cái hộp bay ra ngoài khiến con chó dẫn đường ngẫu nhiên đi qua đấy phải dừng lại sủa lên. "Này, nghe bảo đó là con chó mực to lắm. Vì thế mà tớ rất quí chó, tớ yêu chó lắm đấy".
Lần đầu tiên Kiku nhìn thấy cái tủ gửi đồ là ở một công viên vui chơi trong lần đi dã ngoại ở ngoại thành. Nó nằm ngay ở lối vào của một bãi trượt pa-tanh và Hashi chỉ cho cậu thấy. Có một anh chàng treo lủng lẳng một đôi giày trượt có gắn bánh xe, mở cái cánh cửa nhỏ rồi cho áo khoác và túi vào đấy. "A, thế ra nó chỉ là một cái giá chứa đồ", Kiku thoạt nghĩ vậy. Cậu lại gần và ngó vào xem. Bụi bám đầy làm dính bẩn tay cậu. "Này, chẳng phải nó giống cái tổ ong hay sao ?". Hashi nói thế. "Chẳng phải bọn mình đã có lúc nhìn thấy trên ti vi rồi sao ? Tổ ong cũng thế chứ còn gì nữa ? Ong cũng đẻ trứng vào trong từng cái hộp như vầy. Nhưng tớ và Kiku thì không phải là ong nên tụi mình chắc là trứng người rồi. Tụi ong cũng thế chứ lị. Chúng đẻ ra thật nhiều trứng nhưng rồi cái số chết đi là nhiều hơn ấy nhỉ ?".
Kiku tưởng tượng đến cái cảnh người Cha để râu dài trong bức ảnh treo ở nhà nguyện đang đặt từng cái trứng người trơn và ẩm ướt vào trong các ngăn tủ gửi đồ. Nhưng cậu vẫn thấy có cái gì đó khang khác. Cậu cảm giác rằng người để các quả trứng vào các ngăn phải là phụ nữ, rồi cha mới là người dâng những đứa trẻ được sinh ra trong đó lên Trời. "Này, trông kìa". Hashi chợt gọi.
Một phụ nữ tóc nhuộm đỏ, đeo kính râm, tay cầm chìa khóa, đang đi tìm ngăn tủ của mình. "A, cái người đẻ trứng ra, rồi để đấy mà đi chắc chắn là loại đàn bà mông to như cô ta. Chắc chắn cô ta là người đẻ trứng đấy". Cô gái dừng lại trước ngăn tủ của mình và cắm chìa khóa vào. Cửa mở ra, có những vật tròn màu đỏ lăn ra ngoài và rơi xuống làm Kiku và Hashi chợt kêu lên. Người phụ nữ vội vàng xoè hai tay ra định đón lấy chúng, nhưng những cái vật tròn đỏ cứ nối nhau lăn xuống và có một quả lăn đến chân của hai đứa. Không phải là trứng mà là cà chua. Kiku xoạc chân ra dẫm nghiến lên một trái. Chỉ có nước cà chua trong một túa ra làm bẩn giày, còn trong cái trứng màu đỏ ấy không thấy em trai hay em gái nào cả.
Hễ khi nào Hashi bị bắt nạt thì Kiku đều giúp cả. Cũng tại Hashi có thể trạng yếu ớt hay sao mà ngoài Kiku ra, cậu rất ngại chơi với người khác. Đặc biệt, cậu sợ con trai, nhất đó lại là người lớn. Kiku tưởng như người Hashi tích đầy nước mắt. Cái anh chàng thường mang bánh mì đến cho Cô nhi viện, chỉ cần vỗ nhẹ vào vai của Hashi mà nói: "Nhóc này sao lúc nào cũng oặt oẹo thế hả" là Hashi đã khóc òa lên rồi. Những lúc như thế, Kiku không lên tiếng dỗ dành gì cả, cậu chỉ đứng yên bên cạnh Hashi. Khi Hashi khóc to, khi cậu ta run rẩy sợ hãi, cả khi không bị mắng gì cả mà cậu ta vẫn cứ xin lỗi. Những lúc như thế, Kiku với bộ mặt không thay đổi, lặng lẽ chờ cho đến khi cậu ta bình tâm trở lại. Vì thế mà Hashi cứ theo sau Kiku, cả khi Kiku đi nhà vệ sinh, cậu ta cũng cứ đòi theo nhưng Kiku không hề phản đối. Vả lại, Hashi cũng cần cho cả Kiku. Kiku và Hashi gắn bó với nhau cả về thể xác lẫn bệnh tật. Quan hệ thể xác lẫn vào trong bệnh tật vào những lúc bị nguy hiểm tấn công mà không thể nào giải quyết nổi.
Hàng năm, cứ vào độ hoa anh đào nở rộ là cổ họng Hashi lại phát ra tiếng gió khò khè và cậu ta khổ sở vì bệnh ho, nhưng năm đó bệnh cậu nặng hơn rất nhiều. Cơn hen xuyễn làm cậu hâm hấp sốt và nhiệt độ cứ không hạ xuống làm cậu ta không ra ngoài chơi được với Kiku; có lẽ vì thế mà Hashi càng trở nên lầm lũi. Cậu mải mê với trò bắt chước người lớn rất kì lạ. Những bộ đồ chơi để nấu ăn bằng nhựa, nồi, chảo, máy giặt, tủ lạnh, tất cả đều đưực bày ra dưới sàn theo một dự định rất qui củ, ngăn nắp. Cách bày biện ấy khi thì thành một sơ đồ, khi thì thành một mô hình nhà bếp rất tiện dụng, và dù theo cách nào đi nữa, có một điểm chung là khi cậu đã sắp xếp hoàn chỉnh các vật dụng thu nhỏ trong nhà và bố trí xong nhà bếp thì Hashi không cho phép ai được quyền thay đổi chúng nữa. Một ai đó thay đổi vị trí các đồ chơi, hoặc giả có nhỡ sờ vào và làm xô lệch chúng thì đều khiến Hashi nổi giận lôi đình. Cậu lao vào đồng bạn hoặc các bà xơ với vẻ mặt dữ dằn không thể tưởng tượng nổi. Buổi tối, cậu ngủ ngay bên cạnh mô hình của mình, sáng ra, thức dậy, ngó qua một lượt xem có gì thay đổi không rồi mãn nguyện ngắm nhìn chúng. Ngay lập tức, mặt cậu biến sắc. Thế rồi, đột nhiên, cậu lẩm bẩm điều gì và cuống cuồng đập phá nhà bếp đi. Cậu không hài lòng với cái nhà bếp và phòng khách. Những đoạn vải vụn, những cuộn chỉ thừa, những cái đinh ốc, những bộ phận của xe đạp, đá, cát, các mảnh kính vỡ đều được sử dụng để mở rộng lãnh địa của mình. Có đứa con gái đi ngang qua bị ngã làm đổ cái tháp của cuộn chỉ, thế là Hashi lao đến định bóp cổ nó, nhưng cậu chẳng đủ sức để làm việc ấy, chỉ bừng bừng tức tối rồi tối đó lên cơn ho liên tục, phát sốt li bì.
Hashi sung sướng đón Kiku đến tham quan mô hình của mình. "Đây là cửa hàng bán bánh mì, đây là bồn chứa ga, đây là nghĩa địa". Kiku im lặng nghe và chờ Hashi thuyết minh xong mới lên tiếng. 'Thế, tủ gửi đồ ở đâu ?". Hashi chỉ tay vào chiếc đèn hậu xe đạp hình vuông: "Nó kia kìa", ở trong cùng của một tấm đan bằng nhựa màu vàng có một cái bóng điện nhỏ. Các mành sắt xung quanh đấy được chùi đánh sáng bóng, chẳng có cái nào bị han gỉ cả và những cái dây điện xanh đỏ đều được quấn tròn lại rất khéo. Trong cái không gian ấy, cái bóng điện sáng lẳp lánh nổi bật hẳn lên. Trong khi dẫn đi xem mô hình, Hashi rất hoạt bát, làm Kiku nhớ lại cảm giác kì lạ trước đây. Khi Hashi dễ khóc hoặc run bắn lên vì những cái không đâu, Kiku có cảm giác như cậu là người bệnh nhìn vào tấm phim X-quang chụp vùng bệnh của mình. Những nỗi sợ hãi, cảm giác bất an đang có trong mình được khoác y phục hiện hình cho xem. Kiku chỉ biết đợi cho cái vết thương đang khóc thay cho mình được chữa trị cho lành mà thôi. Hashi như đang ngủ bên cạnh cái mô hình của mình. Hashi cứ khóc, cứ run cho cái vật thu nhỏ chẳng có quan hệ gì với Kiku cả. Cái vết thương đó đã thoát xác và trở thành một thứ độc lập. Cái vết thương đó có thể thu mình lại bên trong. Nhưng cái cơ thể vừa mới khỏi vết thương đó lại có nhu cầu tìm kiếm một vết thương mới.
Vào một ngày, sau khi được một cô xơ dẫn đến trạm y tế để uống vắc xin phòng bệnh bại liệt, trên đường về, Kiku bỏ trốn mất. Cậu được giữ lại ở bến xe buýt của thành phố. Theo lời người lái xe thì cậu lên chuyến đầu tiên tại cửa Tây của ga Yokohama rồi cứ thế ngồi mãi cho đến bến cuối cùng tại bãi thuyền Negishi của tỉnh, không xuống bến lần nào và cứ đi như vậy suốt 4 vòng liên tục. Khi hỏi là đi đến đâu cũng chẳng thấy cậu ta trả lời gì cả, cứ ngồi dán mắt qua cửa sổ nhìn mãi ra ngoài nên mới bị đưa về đây. Đấy là lần đầu tiên. Sau đó ba ngày, quá trưa cậu trốn ra khỏi Cô nhi viện, một mình bắt tắc-xi đi. Cậu ho và chỉ nói: "đến Shiryuku". Khi người lái xe đưa cậu đến Shiryuku, cậu lại nói "đi tiếp đến Shibuya". Thấy lạ, người lái xe dẫn cậu đến điểm khởi hành trước nhà ga Shibuya và lần này cậu lại được đưa về. Lần khác, cậu leo lên thùng xe chở hàng của cửa hàng rượu chở hàng đến cho Cô nhi viện nhưng chưa kịp trốn đi đã bị giữ lại. Cậu còn lừa cả đôi vợ chồng đi viếng mộ ở nghĩa địa rồi đi đến tận Kamakura. Khi sắp bị lạc, cậu còn bảo là "Cháu từ Kamakura đến đây rồi bị lạc mất đường".
Thế là Kiku bị giám sát rất nghiêm ngặt. Có một cô xơ trẻ suốt ngày canh chừng cậu. Cô xơ trẻ không mắng mỏ mà chỉ muốn tìm cách hiểu được cậu. Cô mượn cả xe của bố rồi trong khoảng thời gian cho phép, đưa Kiku đi chơi và cố bắt chuyện với cậu. "Sao Kiku lại thích đi xe thế ? Có vẻ như cháu thích xe ôtô hay xe buýt lắm nhỉ ?". Kiku trả lời: "Tại quả đất cứ xoay tròn ấy mà". "Quả địa cầu này luôn chuyển động phải không ? Vì thế, cứ ở mãi một chỗ thì thật là kì". Nhưng thật ra, đấy đâu phải là vì quả đất quay. Chính Kiku cũng không hiểu nổi nữa, nhưng cậu cũng không thể đứng yên. Cậu cứ cảm thấy không thể nào chịu được nếu cứ đứng yên một chỗ. Có một cái gì đấy ngay bên cạnh mình cứ xoay tròn nhanh khủng khiếp. Với tốc độ hoa cả mắt, nó lóe sáng và cứ luôn ở trạng thái phải bay đến một chỗ nào đó. Do tiếng động đó mà mặt đất cứ luôn khẽ khàng run rẩy, chao đảo. Cứ một khoảng cách nhất định, nó lại rời khỏi mặt đất, bỏ Kiku lại rồi đi mất. Lúc đó, Kiku rơi vào cảm giác thất vọng. Rồi ngay sau đó, nó lại chuẩn bị cho một chuyến đi mới. Cậu cảm thấy có mùi của nhiên liệu, nghe thấy tiếng nổ và sự quay chuyển, những chấn động của không khí và mặt đất. Cậu có cảm giác như nó đang phủ trùm lên toàn bộ không trung nơi mình, như cảm nhận được ngay sau tai mình là dấu hiệu nó sẽ bay vù đi mất, và sâu dưới lòng đất là những chấn động truyền đi. Dù gì đi nữa thì trong cái không khí ấy cậu cũng không thể nào đứng yên được. Chuẩn bị cho việc rời khỏi mặt đất, những chấn động và tiếng nổ to lên, và cùng với nó là nỗi khắc khoải và sự sợ hãi cũng mạnh lên. Vì thế, Kiku phải làm một cái gì đó. Cậu nhất quyết phải leo lên một thứ du hành trôi nổi thật lớn gì đó mới thôi.
Vào một ngày, Kiku được lên xe ô tô đi chơi công viên. Cậu cứ ngồi mãi trên đoàn tàu trượt, không chịu xuống. Khác với những đứa trẻ khác cứ la hét vui sướng cậu không biểu lộ gì cả mà cứ ngồi lì trên khoang lái như vậy. Người trông tàu bảo với cô xơ trẻ là hãy đưa cậu xuống. Kiku xanh cả mặt, toàn thân nổi gai và túa mồ hôi ra rồi cứ thế bám chặt lấy ghế ngồi. Cô xơ trẻ phải gỡ từng ngón tay của cậu ra. Cậu gồng căng cứng người ra để chống đỡ. Vào lúc này, cô xơ trẻ mới hiểu rằng cậu không chỉ đơn giản là đứa bé thích các loại tàu xe mà đó là những biểu hiện của một loại bệnh. Còn với Hashi, do lâu nay hay xảy ra chuyện trải đồ chơi, giấu các vật bỏ đi, để cát sỏi đầy ra trên sàn phòng ngủ, rồi hễ có ai động đến cái lãnh địa mô hình của mình thì dù đang trong lúc tiêm để điều trị cậu cũng vùng lên, bẻ gãy cả kim tiêm; thế là giờ đây, với cả Kiku như thế, các bà xơ liền dẫn cả Hashi và Kiku đến gặp bác sĩ thần kinh.
Bác sĩ thần kinh vừa ngắm cái bức ảnh chụp vương quốc mô hình do Hashi dựng lên đầy cả mặt sàn ngủ vừa nói: "Chắc các cô đã quen với các trường hợp các cháu bé không có cha mẹ và chúng thèm khát tình mẫu tử nên thường co mình lại", và ông bắt đầu câu chuyện:
"Trừ trường hợp có bệnh thần kinh di truyền, còn bệnh thần kinh của trẻ nhỏ và nhi đồng là do 2 nguyên nhân: quan hệ với bố mẹ và do môi trường bên ngoài tác động vào. Các cô là người nuôi dạy trẻ nên chắc hiểu rõ, ở một nghĩa nào đó thì tất cả bọn trẻ con đều mang đặc tính có bệnh thần kinh, thần kinh của trẻ cũng phát triển tuần tự giống như thể chất của chúng, và để phát triển được bình thường thì chúng rất cần đến những loại kích thích, nâng đỡ và cung cấp nhất định. Tuy vậy, những điều này không thể đem đến một cách lí tưởng được, hơn nữa, phía đứa trẻ, năng lực tiếp nhận cũng có hạn, vì thế, trong quá trình phát triển của trẻ, chúng luôn có những vấn đề không thể giải quyết nổi.
Thế còn với 2 đứa trẻ này, chúng là biểu hiện sớm của bệnh phân liệt ở trẻ con hay chăng ? Và nếu đúng là như vậy, thì chúng có một sự thiếu hụt về khí chất, có vấn đề ở não hay có sự phát triển không bình thường của quá trình trao đổi chất ? Hoặc giả chúng bị bệnh di truyền ? Đáng tiếc là lúc này chưa nói được điều gì cả. Khi chẩn đoán 2 đứa trẻ này bị bệnh tự kỷ thì đó cũng là loại bệnh tự kỷ rất đặc biệt. Tôi nghĩ khả năng này rất cao. Người ta cho rằng đây là loại bệnh thần kinh của trẻ mang tính cộng sinh, còn tại sao lại nói là 2 đứa trẻ này là đặc biệt là vì chúng không chịu nổi sự chia lìa với mẹ mà phát bệnh. Từ khi được sinh ra đến sau 6 tháng, khi chúng phân biệt được mình với người khác, đứa trẻ mới mất cảm giác gắn liền với cơ thể mẹ. Như vậy, cái cảm giác toàn năng yên ổn gắn liền với cơ thể bà mẹ trước 6 tháng đó thường cố chạy trốn vào trong ảo tưởng đó. Đứa trẻ không chống đỡ được thế giới bên ngoài và thế giới đó được phản ánh như một thứ đầy tính thù địch đã phân lìa nó với mẹ nó và nó muốn phá hoại cái thế giới đó đi. Như thế, nó khép mình vào trong thế giới của ảo giác, trong cảm giác có được cái toàn năng yên ổn. Với 2 đứa trẻ này, trước hết là với Mizouchi Hashio, nó hầu như phủ nhận hoàn toàn mối quan hệ với người khác, tự tạo nên một cái hộp thế giới thu nhỏ kì lạ của mình. Trong căn bệnh tự kỷ, có 2 loại "tự kỷ phong phú" và "tự kỷ nghèo nàn". Trong trường hợp người bệnh cắt đứt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, tình trạng tinh thần của anh ta trở nên trống rỗng thì đó thuộc loại tự kỷ nghèo nàn, còn khi người bệnh có một thế giới tinh thần phong phú thì người ta gọi đó là loại tự kỷ phong phú. Cậu bé Mizouchi Hashio đương nhiên là thuộc loại bệnh tự kỷ phong phú vì cậu đã tạo ra được một tác phẩm giàu tính tưởng tượng như thế này. Tiếp đó là trường hợp của Sekiguchi Kikuyuki thì mặc dù cậu bé này luôn nói về nỗi sợ hãi phải đứng yên một chỗ và khao khát được di chuyển trong không gian với tốc lực nhanh mạnh, nhưng điều đó không chứng tỏ được sự can thiệp chủ động của cậu đến thế giới bên ngoài. Đúng hơn, tôi cho đó là từ việc di chuyển tốc lực đó, cậu thử đi vào trong bản ngã của mình. Cái ý định bám riết trong đầu cậu là cứ có ai đó ngay cạnh mình, tạo ra tiếng động và đang sắp bay đi, thực chất, đó là việc cậu sợ chính bản thân mình. Cái làm cho Mizouchi Hashio say sưa xây dựng mô hình nhà cửa và cái mà Sekiguchi Kikuyuki sợ hãi là một mà thôi. Cô có biết đó là cái gì không ? Đó chính là năng lượng. Từ sau khi nhận được điện thoại của các cô, tôi tò mò tìm hiểu về các trường hợp trẻ được phát hiện ra trong tủ gửi đồ và thấy là từ năm 1969 đến năm 1975, cả nước có 68 trẻ được tìm thấy; nhưng hầu như chúng đã chết hết cả. Đại bộ phận chúng đã chết rồi mới bị vứt bỏ, số còn lại thì bị chết ngay trong tủ, trường hợp hiếm hoi thì có đứa được phát hiện khi đang còn thở, nhưng rồi sau đó cũng chết luôn trong bệnh viện. Tức là số sống sót được chỉ còn lại 2 cậu bé này mà thôi. Trẻ sơ sinh thì đương nhiên là không nhớ được cái gì một cách có ý thức cả. Còn 2 đứa bé này thì chỉ sau khi sinh mấy chục tiếng đồng hồ đã phải đối diện với cái chết nên có thể là chúng vẫn nhớ được. Nỗi sợ hãi vô thức cùng với việc cơ thể đã chống chọi quyết liệt để chiến thắng cái chết và sống sót đã được gắn vào trong vòng quay của kí ức ở đâu đó trong bộ não chung. Thứ năng lượng khổng lồ đã làm cho 2 cậu bé này sống sót đã được gắn vào đâu đó, rồi đến một lúc, nó cản trở lại hoạt động tổng hợp của đại não. Tức là năng lượng của 2 đứa bé này mạnh đến mức mà chính chúng cũng không kiềm chế nổi. Chắc chúng phải mất đến mấy năm để đem lại định hướng cho nguồn năng lượng này".
"Vậy thì phải làm thế nào ?". Các bà xơ hỏi lại. "Hai đứa rồi sẽ đi học. Chúng cũng có thể được nhận làm con nuôi. Nhưng nếu cứ bệnh tự kỷ thế này thì liệu chúng có phát triển bình thường được không ?"
"Có cách chữa trị có hiệu quả đấy. Cho thứ năng lượng này ngủ yên. Trong một khoảng thời gian nhất định, cho đến lúc có khả năng điều chỉnh được nó thì vùi sâu nó vào trong vỏ não rồi để yên đấy. Phải làm đông cứng các tế bào thần kinh đã bộc phát và các vật chất cấu tạo nó. Ở Mỹ, phương pháp chữa trị này đã được tìm ra và ứng dụng vào việc chữa trị bệnh tâm thần phân liệt cấp tính nhờ uống một loại thuốc ảo giác. Đó là đưa đứa bé trở về trong cơ thể mẹ nó một lần nữa, đem đến cho nó cái trật tự và sự bình yên tuyệt đối. Cho nó lắng nghe âm thanh. Đó là tiếng nhịp đập của tim người được điều khiển băng điện. Đó là nhịp tim của bà mẹ mà đứa bé nghe được khi còn là thai nhi. Con tim trong cơ thể người vang lên với một âm lượng rất kì vĩ. Nó truyền đi không phải trong không trung mà là trong sự chấn động của chất dịch trong cơ thể Nó không đơn giản chỉ là tiếng động mà do phải làm rung lên được các chất dịch, máu và các cơ quan trong cơ thể mà truyền đến được đứa bé, nỏ phải là loại âm thanh phức tạp và cảm nhận được âm độ của nó. Cái âm lượng và âm sắc này, năm ngoái, khi nó được phát biểu ra tại Hội nghị y khoa thần kinh của Mỹ, bác sĩ Michel Gold Smith là giáo sư ngành kĩ thuật ở trường Massachusetts đang nghiên cứu về thần kinh có nêu ra một ý kiến rất thú vị. Người này đã viết một quyển tiểu thuyết khoa học viễn tưởng theo lối nghiệp dư, trong đó ông cho rằng tiếng nhịp đập cùa tim rất giống với tiếng các sinh vật trao đổi tín hiệu cho nhau do vệ tinh nhân tạo của Hãng Hàng không vũ trụ Mỹ bắn lên không trung phát ra. Điều này cũng thật là ngẫu nhiên nhỉ ? Tôi cũng thử thí nghiệm lắng nghe tiếng tim đập này rồi và thấy nó tuyệt lắm. Khi ở trong tâm trạng nửa tỉnh nửa mê mà nghe thì sẽ có cảm giác bình yên và hạnh phúc cực điểm. Nếu nói điều này thì thật là thất lễ với các nhà giảng đạo, nhưng tôi cho rằng đó giống như cái cảm giác cực lạc mà ngày xưa đạo Cơ-đốc đem đến cho con người".
Bắt đầu từ ngày hôm sau, Kiku và Hashi hàng ngày đến bệnh viện để điều trị, chúng uống một liều thuốc gây ngủ vừa độ từ một đến hai tiếng rồi được cho nghe nhịp tim mà đứa trẻ thường nghe trong bụng mẹ.
Phòng điều trị rộng khoảng 20 mét, nền nhà và tường được dán bằng loại nhựa dẻo để người bệnh có phát cuồng lên vập phải đi nữa cũng không bị thương được. Âm thanh được phát ra từ 2 cái loa được gắn vào tường và trần nhà nhưng được phủ bằng lớp vải thô nên không nhìn thấy. Có những nguồn sáng nhỏ nằm giữa các khe của trần nhà và vách tường, lượng ánh sáng luôn có thể điều chỉnh được và được lắp đặt để sao cho tỏa đều khắp nhà. Trong phòng chỉ đặt có một cái ghế dài và giữa 2 bức tường đối diện có một màn hình thu phát âm thanh và hình ảnh rộng 72 inch được đặt trên một bệ kính dày ở phía đối diện. Trước tiên, Kiku và Hashi uống nước ổi ép có pha lẫn thuốc ngủ rồi sau đó được bác sĩ dẫn đến ngồi ở cái ghế dài. Lúc đó, căn phòng dần trở nên tối đi và nó biến chuyển nhẹ đến mức khó nhận ra được. Trên màn hình của máy phát dần hiện lên những cảnh phim thật nhẹ nhàng, lãng mạn như cảnh bãi biển phía nam Thái Bình Dương với những ngọn sóng cứ đến rồi đi, cảnh trượt băng trên tuyết trắng, hay là cảnh những đàn hươu cao cổ chạy trên nền của trời chiều, hoặc cảnh những đoàn thuyền dong buồm trắng rẽ sóng ra khơi, hàng vạn con cá nhiệt đới lội tung tăng giữa đám san hô, cảnh những con chim hay tàu lượn chao liệng, các vũ nữ ba lê lướt nhẹ hay cảnh tung bay của trượt xích đu trong không trung...Tất cả các phong cảnh và nền cảnh dần thay đổi theo độ lớn nhỏ của ngọn sóng, ánh sáng đậm hoặc nhạt của trời chiều hay đáy biển và tốc độ của những cánh buồm. Những sự thay đổi ấy diễn ra từng tí một cho đến lúc ý thức nhạt nhòa dần và căn phòng tối hẳn đi. Còn tiếng đập của tim thì từ khi hai đứa bước vào vẫn phát ra nhưng được vặn nhỏ âm lượng đến mức tai người bình thường không nghe thể thấy, được chỉnh dần lên cho đến khi cả hai rơi vào trạng thái buồn ngủ thì to đến cực đại. Khoảng từ 50 đến 80 phút thì cả hai từ trạng thái ngủ dần mở mắt ra, nhưng cái băng cứ quay đi quay lại mãi không ngừng những cái cảnh ấy nên chúng đều đã không nhận thấy là thời gian đã trôi qua. Việc điều trị bắt đầu từ 10 giờ rưỡi sáng và đây là lúc mà mặt trời đã thôi đổi hướng sáng nên khi cả 2 bước vào phòng và ra khỏi đó thì không có được cảm giác là thời gian đã thay đổi. Cho dù có những lúc khi cả 2 vào phòng thì trời nắng đẹp nhưng trong lúc điều trị thì trời mưa thì ngay trước lúc cả 2 nhận thấy trời mưa thì người ta đã cho nghe tiếng mưa rơi và điều chỉnh ánh sáng làm sao để cuối cùng thì nó ăn nhập được với cảnh mưa rơi bên ngoài. Cả Kiku và Hashi đều không được cho biết cách điều trị này. Cả bác sĩ và cô xơ đều chỉ nói là đang cho cả 2 xem phim trong bệnh viện mà thôi.
Sau một tuần thì có kết quả. Cả 2 đều đã tự đến được phòng điều trị, không cần phải có cô xơ dẫn đi nữa. Sau một tháng thì bác sĩ thần kinh không dùng thuốc ngủ nữa mà dùng thuốc thôi miên để tìm hiểu sự thay đổi của việc bộc phát ra nguồn năng lượng trong sự vô thức của 2 đứa. Khi cả 2 vừa nghe các âm thanh và đưực hỏi: "Các cậu đang nhìn thấy gì đấy ?" thì lập tức chúng đều nói như nhau: Biển ! Kiku nói là nhìn thấy ông Cha đạo có bộ râu dài trong tranh của tường nhà nguyện Cô nhi viện đang đứng trên vách đá dựng đứng trông ra biển để dâng cậu lên Đức chúa trời. Cậu được bọc bằng một vật mềm mại và có gió mát thổi đến, biển thì ôn hòa và rực rỡ chói lòa. Sau khoảng độ 100 ngày điều trị, bác sĩ nói với cô xơ: "Việc điều trị hầu như đã hoàn tất. Điều quan trọng là đừng để cho các cậu ấy biết sự thay đổi của chúng. Không được nói cho chúng biết việc chúng đã được nghe tiếng đập của tim hay gì đó khác".
Kiku và Hashi đợi cô xơ ở hành lang bệnh viện. Một nửa vuông cửa sổ sáng lóa màu vàng còn nửa kia thì màu xanh phản chiếu dãy cây dẻ đang lay động trước gió. Cánh cửa thang máy mở ra, nghe thấy có tiếng người và cả 2 vội ngoảnh lại nhìn. Một cụ già gầy gò ngực cuốn băng và một bên cánh mũi có cắm dây truyền một lọ thuốc đang đi qua trước mặt 2 đứa. Một cô gái nhỏ cầm một bó hoa bách hợp to bắt chuyện với cô y tá đẩy cái giường chở ông cụ đi. Kiku và Hashi tiến lại gần cụ già gầy gò đó thì thấy da cụ xanh lợt có những mạch máu vằn lên, chỉ có môi là thấm đẫm màu đỏ. Cổ chân cụ bị buộc vào giường bằng một cái đai da, hai cánh tay có gắn kim truyền và máu hơi tứa ra. Cụ già mở mắt. Khi thấy Hashi và Kiku đang nhìn mình cụ mở miệng méo xệch cười với chúng. Hai đứa cũng cười lại. Cô xơ từ phòng cuối sảnh hiện ra, nhẩm đi nhẩm lại lời dặn của bác sĩ thần kinh "Không được để cho 2 đứa bé ấy biết là mình đã thay đổi. Chỉ nên để chúng nghĩ rằng thế giới bên ngoài chúng đã thay đổi mà thôi".
 
Đang tải bình luận,....
 
Mục lục truyện