DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 16

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẢO MÁLE VÀ ĐẢO FEMELLE

Từ vương quốc Kesmacoran nằm trong đất liền đi ra biển về hướng Nam độ 500 dặm, chúng ta gặp hai đảo Mále và Femelle (người ta xác định chúng ở phía Nam Ả Rập, gần đảo Socotra của Anh), đảo này cách đảo kia chừng 30 dặm. Dân hai đảo đều là Ki tô giáo được rửa tội và giữ lề luật của Cựu Ước, vì khi phụ nữ mang bầu, họ không bao giờ đụng chạm đến bằng bất cứ giá nào, và khi họ sinh con gái, họ không gần vợ trong bốn mươi ngày.
Tất cả những người đàn ông đều sống trên đảo gọi là đảo Mále. Khi tháng Ba đến, tất cả bọn họ đều sang đảo khác ba tháng mỗi năm, đó là tháng Ba, tháng Tư và tháng Năm. Trong ba tháng này, họ tận hưởng lạc thú cùng với vợ họ. Sau ba tháng này, họ quay về đảo trở lại để lo gieo giống, cày cấy và buôn bán trong 9 tháng còn lại,
Trên đảo này còn có nhiều hổ phách tốt. Người dân trên đảo sống bằng thịt, gạo và sữa. Họ là những người đánh cá rất giỏi, họ bắt những con cá rất lớn và rất ngon; họ bắt cá thật nhiều và phơi khô để đủ ăn trong suốt năm; họ còn bán lại cho các nhà buôn đi ngang qua. Họ không có bất cứ lãnh chúa nào, nhưng có một giám mục được đặt dưới quyền của một tổng giám mục của một đảo khác mà chúng tôi sẽ nói đến sau. Đảo đó có tên là Scotra. Đối với con cái do vợ họ sinh ra, nếu là con gái, chúng ở lại với mẹ; nếu là con trai, người mẹ sẽ nuôi nấng chúng cho đến khi chúng được 14 tuổi, rồi sau đó gởi trả về cho bố của chúng. Đó là phong tục của hai đảo này. Đàn bà không làm gì khác hơn là nuôi con và thu lượm một vài thứ trái có trên đảo, vì những người đàn ông đã cung cấp cho họ đầy đủ những gì họ cần.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẢO SCOTRA

Từ hai hòn đảo đi về hướng Nam chừng 500 dặm, chúng ta tìm thấy đảo Scotra (đảo lớn ở cửa ra vịnh Aden). Dân cư đều là tín đồ Ki tô giáo được chịu phép rửa tội và có một tổng giám mục cai quản, Họ có nhiều hổ phách, vải bông và những hàng hóa khác, đặc biệt còn có nhiều loại cá muối to và ngon. Họ sống bằng gạo, thịt và sữa vì họ không có lúa mì; họ sống khỏa thân theo kiểu như của những người Ấn khác.
Họ buôn bán nhiều mặt hàng, vì có nhiều tàu lớn của tất cả các nước tập trung đến đó với nhiều loại hàng hóa mà các nhà buôn bán cho cư dân trên đảo, đồng thời mua lại của họ vàng, nhờ đó họ thu được nhiều lợi nhuận. Tất cả các tàu muốn đi Ađen đều phải đi qua đảo này.
Tổng giám mục của họ không thần phục Đức Giáo hoàng ở La Mã, nhưng được đặt dưới quyền của một Đức thượng phụ ở Bagdad. Ông này cai quản tổng giám mục đảo này và nhiều tổng giám mục ở phần đất này của thế giới, hoàn toàn giống như Đức Giáo hoàng của chúng ta.
Trong đảo này, có nhiều cướp biển đến bán chiến lợi phẩm do họ cướp được; họ bán rất chạy, vì những người Ki tô giáo trên đảo này mua chúng, vì họ biết rằng đó là của cải của những người Sarrasin hoặc tín đồ ngẫu tượng. Nên biết trên đảo có những thuật sĩ giỏi nhất thế giới.
Thực ra, Đức Tổng Giám mục ngăn cấm họ làm công việc này, nhưng họ trả lời rằng tổ tiên họ là những người làm thuật sĩ, và họ cũng muốn làm như vậy. Tôi sẽ nói qua về những phương thức ma thuật của họ: trước một con tàu thuận buồm xuôi gió, họ có thể đánh thức một cơn gió ngược chiều và làm cho tàu quay lui. Họ làm cho gió thổi theo ý muốn của họ, họ làm cho biển êm hoặc bão tố nổi lên dữ dội. Họ còn làm những phép thuật nổi tiếng hơn nữa, nhưng không thích hợp để đưa vào trong quyển sách này.
Không còn gì khác để kể về đảo này, chúng ta sẽ tiến lên phía trước và tôi sẽ nói với các bạn về một đảo khác có tên là Madeigascar.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẢO MADEIGASCAR

Madeigascar (trước khi quyển sách của Marco Polo ra đời, Châu Âu hầu như không biết đến đảo này) là một hòn đảo nằm về phía nam, cách đảo Scotra hơn 1000 dặm. Dân cư đều là những người Sarrasin và tôn thờ Mahomet. Họ có bốn thủ lĩnh (Cheik), tức là bốn bô lão cai trị đảo này. Đảo rất đẹp và giàu có: đây là một trong những đảo lớn nhất trên thế giới, vì chu vi của nó độ 4000 dặm. Dân cư sống về buôn bán và các ngành nghề.
Trên đảo này có nhiều voi hơn bất cứ tỉnh nào trên thế giới, cũng như trong một đảo khác mà chúng tôi sẽ nói sau, đó là đảo Zanghibar. Trong hai hòn đảo này, việc buôn bán voi hết sức phát đạt. Trên đảo này, người dân không ăn thứ thịt gì khác ngoài thịt lạc đà. Do đó, mỗi ngày họ giết nhiều lạc đà đến nỗi không ai có thể tin nếu không nhìn thấy. Họ cho rằng đó là thịt ngon nhất và trong sạch nhất thế giới.
Trên đảo này có nhiều cây gỗ đàn hương đỏ chót. Tất cả các cánh rừng không có loại cây nào khác ngoài cây đàn hương. Họ có nhiều hổ phách vì trong biển này có nhiều cá voi mà họ đánh bắt. Rất nhiều; những loại cá capdols cũng rất nhiều, đó là những con cá rất lớn có chứa hổ phách giống như cá voi. Họ cũng có nhiều báo, gấu, sư tử và các thú khác như nai, hoẵng và nhiều thịt săn. Họ cũng nuôi nhiều loài thú nhỏ và những loài chim khác nhau rất khác với các loài ở vùng chúng ta. Vì vậy, nhiều tàu lớn của các nhà buôn đến đó làm ăn khá phát đạt.
Nên biết rằng các con tàu không thể đi xa hơn về phía Nam đảo này và một đảo khác mà chúng tôi sẽ nói sau, đó là đảo Zanghibar; sở dĩ như vậy, vì dòng biển chảy nhanh về hướng Nam đến nỗi các con tàu đi quá xa và không thể quay lại được. Vì thế những con tàu của xứ Maabar đi về đảo Madeigascar và đảo Zanghibar đều đến nhanh một cách lạ lùng; vì mặc dù lộ trình dài, những con tàu đó chỉ đi mất có hai mươi ngày, nhưng khi muốn quay về, chúng phải vất vả mất ba tháng, bởi vì dòng hải lưu chảy rất nhanh về hướng Nam ngược lại lộ trình của họ. Trong tất cả các mùa, nước biển chảy về hướng Nam rất nhanh. Người ta cho rằng trong các đảo khác ở về phía Nam, nơi nào các tàu bè không thể đi vì sợ không thể quay về, thường có những con chim kênh kênh xuất hiện trong một vài mùa trong năm.
Một vài người đi đến tận nơi đó và trở về thuật lại với Ngài Marco Polo là những con chim kênh kênh có hình dáng như chim phượng hoàng, nhưng chúng hết sức to lớn, vì theo họ, những chiếc cánh của nó dài hơn 30 bước chân và lông thì dài hơn 12 bước; chúng mạnh đến nỗi chúng có thể dùng móng vuốt bấu chặt một con voi và mang nó lên rất cao, để rồi sau đó thả nó rớt xuống đất để giết chết con vật, sau đó nó bay sà xuống trên con vật và ăn thịt thỏa thuê. Cư dân đảo này gọi chúng là tảng đá và chúng không mang tên gì khác. Tôi không biết có phải là những con chim kênh kênh hoặc một loài nào khác lớn hơn thế, nhưng tôi nói với các bạn rằng chúng không có hình dáng nửa sư tử nửa chim mà chúng ta gán cho kênh kênh. Nhất là chúng chỉ giống như một con chim đại bàng nhưng ở dạng lớn nhất.
Đại Hãn đã gởi những sứ giả đến đảo này để hỏi han về những điều kỳ lạ đó và cũng để giải thoát cho một vị sứ giả do ông phái đi đã lâu và bị giữ lại nơi đó. Họ đã giải thoát cho y và kể cho Đại Hãn nghe nhiều chuyện lạ lùng, cũng như về những loài chim nói trên. Họ mang về cho ông hai chiếc răng lợn lòi mà mỗi chiếc lớn đến nỗi nó cân nặng hơn 14 livrơ. Người ta có thể thấy rằng, con lợn lòi có những chiếc răng như thế phải rất khỏe và rất lớn; theo họ kể, cũng có con lớn bằng một con trâu lớn.
Không có chuyện gì khác đáng phải kể nữa, vì vậy chúng ta sẽ tiến lên phía trước và chúng tôi sẽ nói đến đảo Zanghibar.

ĐÂY LÀ CHUYỆN VỀ ĐẢO ZANGHIBAR

Zanghibar (Zanzibar) là một hòn đảo xinh đẹp và to lớn, chu vi của nó chừng 2000 dặm. Tất cả dân cư đều thờ ngẫu tượng. Họ có ngôn ngữ riêng và không đóng thuế cho bất cứ ai. Họ lớn và béo, nói đúng hơn là rất béo. Họ lớn đến nỗi giống như những người khổng lồ và khỏe đến nỗi một người có thể khiêng bốn người khác và ăn bằng sức ăn của năm người khác. Họ hoàn toàn đen và sống khỏa thân, ngoại trừ họ che bộ phận sinh dục. Mái tóc của họ đen và xoăn không thua gì hạt tiêu. Miệng họ rất rộng, mũi rất hếch, môi rất dày, mắt rất to và đỏ, toàn thể con người giống như quỷ sứ. Họ trông rất gớm ghiếc và xấu xí đến nỗi họ có vẻ tởm lợm nhất thế giới.
Trên đảo này có rất nhiều voi, nhiều đến mức diệu kỳ. Người ta cũng thấy những con sư tử toàn một màu đen và không giống như sư tử của chúng ta; họ còn có gấu và báo. Tôi cũng cho các bạn biết rằng những con cừu và chiên đều cùng một màu, đó là màu trắng với cái đầu đen, và chắc chắn là người ta không tìm thấy một loài nào khác. Họ cũng có nhiều hươu đẹp nhất thế giới và tôi sẽ cho các bạn biết chúng như thế nào. Chúng có phần thân sau khá thấp, vì đùi sau ngắn và cẳng trước rất dài, cao hơn ba bước. Đầu của chúng nhỏ, nhưng cổ lại dài và chúng không làm hại ai. Chúng có màu trắng với những vòng nhỏ màu đỏ trông rất ngộ nghĩnh.
Tôi sẽ cho các bạn biết một điều về những con voi. Khi con đực muốn theo cái, chúng đào một cái hố lớn dưới đất và lật ngửa con voi cái xuống dưới chiếc hố này và voi đực nhảy lên trên mình con voi cái để giao phối giống như con người, bởi vì voi cái có bộ phận sinh dục gần bụng.
Phụ nữ của hòn đảo này xấu nhất thế giới; họ có những đôi vú lớn và to gấp bốn lần bất cứ người phụ nữ nào ở nơi khác. Người dân sống bằng gạo, thịt, chà là và uống sữa. Họ làm rượu bằng trái chà là, gạo, những loại gia vị ngon và đường. Việc buôn bán ở đây rất phát đạt, có nhiều nhà buôn và tàu bè lớn đến đó; nhưng việc buôn bán quan trọng nhất của đảo này là ngà voi mà họ có rất nhiều. Họ cũng có hổ phách, vì có nhiều cá voi. Họ là những chiến binh cừ và can đảm trong chiến đấu vì họ ít sợ chết. Họ không có ngựa, nhưng chiến đấu trên lưng lạc đà và voi. Họ thiết lập trên lưng những con vật này những pháo đài bằng gỗ chứa được 10 đến 16 người với gươm, giáo và đá; và những người ở trong các pháo đài gỗ trên lưng voi chiến đấu rất ác liệt. Họ không có bất cứ bộ áo giáp nào, nhưng có thuẫn bằng da, giáo và gươm, nhờ đó họ chém giết kẻ thù một cách hăng say. Khi họ muốn đưa voi ra trận, họ cho chúng uống nhiều rượu, đến nỗi chúng nửa say nửa tỉnh; họ làm như thế, vì một khi voi đã uống rượu, nó trở nên hung dữ và ngạo mạn hơn và làm được việc hơn khi ra trận.
Không có gì khác phải kể thêm. Chúng tôi sẽ nói về tỉnh lớn Abasie, tức là Ấn Độ trung, như các bạn đã nghe nói đến. Trước hết chúng tôi nói đến những đảo đang là những tỉnh và vương quốc giàu có nhất, vì không có ai trên đời này nói sự thật về tất cả các đảo của Ấn Độ; tôi chỉ kể cho các bạn nghe những điều thú vị nhất và là phần cốt lõi nhất.
Một phần lớn các đảo khác nằm dưới quyền của những đảo mà tôi đã nói. Theo sự hiểu biết của các thủy thủ cừ khôi ở vùng biển lớn này, có 12700 đảo được biết, trừ những đảo mà người ta không biết và không thể đi đến, trong đó có 12700 đảo có dân cư ngụ, đó là điều rất lạ lùng. Tất cả các thủy thủ đi trên biển này cho điều đó là chắc chắn; họ biết rõ điều này, vì hàng ngày, họ chỉ biết có đi biển mà thôi.
Đại Ấn, gồm Maabar đến Kesmacoran, gồm có 13 vương quốc lớn nhất; chúng tôi đã nói đến 10 và chúng tôi sẽ nói ngắn gọn về ba vương quốc khác. Tiểu Ấn trải dài từ Zinabar đến Montifi có tám vương quốc. Tất cả các vương quốc này đều nằm trong lục địa, vì những vương quốc thuộc đảo chiếm phần lớn, như tôi đã nói và tôi không nêu chúng thuộc số này.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH LỚN ABASIE

Abasie (Abyssinie. Ấn Trung gồm Abyssinie và Ả Rập đến vịnh Péc Xích) là một tỉnh lớn thuộc Trung Ấn và nằm trong đất liền. Nó gồm có sáu vương quốc do sáu vị vua cai trị; trong sáu vua này có ba là Ki tô giáo và ba là Sarrasin. Vua hùng mạnh nhất trong sáu vị vua là vua người Ki tô giáo vì tất cả những vị vua khác đều thần phục ông. Những người Ki tô giáo có ba dấu trên mặt; một từ trán đến giữa mũi và hai dấu khác trên hai má; họ làm các dấu đó khi rửa tội, vì từ khi họ được rửa tội, người ta đã cho ghi ba dấu này, như dấu ấn của sự cao trọng và để hoàn tất bí tích rửa tội. Cũng có những người Do Thái mang dấu hiệu trên mỗi gò má; những người Sarrasin chỉ có một dấu từ trán đến giữa mũi.
Nhà vua vĩ đại ở ngay giữa tỉnh. Những người Sarrasin ở về hướng Aden. Thánh Tô Ma tông đồ đã từng giảng đạo trong tỉnh này, từ khi cải giáo cho dân cư, Ngài lên đường đến tỉnh Maabar, nơi Ngài đã chết và được an táng, như tôi đã kể trên kia. Dân cư là những người lính giỏi và những kỵ sĩ cừ, vì họ có nhiều ngựa; họ rất cần chúng vì họ luôn đánh trận với vua ở Aden, những vua của Nubie và của nhiều dân tộc khác. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện thú vị xảy ra vào năm Chúa Ki tô 1288.
Thật ra vua Ki tô giáo và là vua tỉnh Abasie nói rằng ông muốn đi hành hương đến Jerusalem để tôn kính Mộ Thánh của Chúa Giêsu Ki tô Chúa chúng ta, Đấng Cứu Thế. Những cận thần cho rằng thật hết sức nguy hiểm nếu như ông đi đến đó; họ khuyên ông phái một giám mục hoặc một đức ông nào đó đi thay cho ông. Nhà vua nghe theo lời khuyên và phái một giám mục thánh thiện đến đó. Và tôi sẽ nói điều gì nữa đây? Vị giám mục này đi qua biết bao đường thủy và đường bộ mới đến được Mộ Thánh. Ông tôn kính Mộ Thánh như bất kỳ người Ki tô giáo nào cũng phải làm; ông dâng cho Chúa những lễ vật rất cao trọng nhân danh nhà vua, người phái ông đi thay. Khi đã thực hiện xong tất cả những gì cần phải làm, ông lên đường và đi qua bao dặm đường mỗi ngày để đến Aden. Nên biết rằng, trong vương quốc này, những người Ki tô giáo luôn bị ghét bỏ, vì tất cả những người Sarrasin là kẻ thù truyền kiếp của họ. Khi vua Aden biết vị giám mục là Ki tô giáo và là sứ giả của nhà vua vĩ đại Abasie, ông ra lệnh đưa vị giám mục đến và hỏi ông có phải là Ki tô hữu không; vị giám mục trả lời rằng ngài chính là Ki tô hữu. Vua bảo Ngài nên theo tín ngưỡng của Mahomet hoặc nếu không, ông ta sẽ làm cho ngài phải hổ thẹn và ngượng ngùng. Vị giám mục trả lời rằng ông thà để cho bị giết còn hơn là chối bỏ Đấng Sáng Tạo. Khi nghe những lời này, nhà vua tỏ ra rất tức giận và truyền lệnh giết Ngài. Vậy là Ngài bị bắt và bị cắt gọt theo kiểu của người Sarrasin. Khi làm việc này, nhà vua nói với vị giám mục rằng ông làm điều ô nhục này, vì ông khinh bỉ vua của vị giám mục, rồi thả cho vị giám mục trở về nước. Vị giám mục rất buồn vì nỗi ô nhục mà nhà vua gây ra cho ông, nhưng ông cảm thấy an tâm, bởi vì ông đã chấp nhận để bảo vệ đức tin nơi Chúa Giêsu Ki tô, Chúa chúng ta, và linh hồn Ngài sẽ được tưởng thưởng. Khi được chữa khỏi, ông lên đường và vượt qua bao dặm đường bộ và đường biển để về đến Abasie, về với nhà vua của ông. Khi nhà vua thấy ngài, nhà vua rất sung sướng và đón tiếp ngài rất hoan hỉ; nhà vua hỏi han ngài về Mộ Thánh; vị giám mục kể lại cho nhà vua toàn bộ sự thật, đó là điều mà nhà vua coi như thiêng liêng và làm gia tăng thêm niềm tin. Khi vị giám mục kể lại cho ông tất cả những biến cố ở Giêrusalem, ngài cũng kể lại toàn bộ nỗi nhục mà vua Aden đã làm đối với ngài vì muốn khinh bỉ nhà vua. Nhà vua nổi trận lôi đình và rất đau khổ, ông tỏ ra tức giận đến mức suýt chết vì buồn. Nhưng cuối cùng, ông nói to để cho tất cả những người xung quanh có thể nghe thật rõ. Ông nói rằng ông sẽ không bao giờ đội vương miện nếu ông không trả thù tên vua Aden, để cho nỗi nhục của ông được báo thù một cách minh bạch. Ông liền ra lệnh cho toàn quân đội gồm lính ngựa và lính bộ sẵn sàng ứng chiến; ông cũng mang theo số lượng voi rất lớn có trang bị pháo đài trên lưng. Khi chuẩn bị xong xuôi, ông lên đường ra trận cùng với toàn bộ quân đội; sau cuộc hành quân dài, ông ra lệnh cho lực lượng đông đảo tiến quân vào Aden. Khi vua Aden hay tin vị vua vĩ đại đến tấn công, ông liền đưa một lực lượng hùng hậu đến một nơi được xây dựng công sự chắc chắn nhất của vương quốc để ngăn chặn không cho kẻ thù tiến vào lãnh thổ của ông. Nhà vua vĩ đại cùng quân lính đến nơi mà những người Sarrasin đang bảo vệ. Một trận đánh gay go ác liệt bắt đầu diễn ra ở cả hai phía. Nhưng do ý muốn của Chúa Giêsu Ki tô Chúa chúng ta, người Sarrasin không thể chống cự lại những người Ki tô giáo, bởi vì họ không phải là những chiến binh giỏi như những người Ki tô giáo. Vì vậy, người Sarrasin bị đánh bại; có rất nhiều người chết trong trận này. Vua Abasie tiến vào vương quốc Aden cùng với toàn thể quân lính của ông. Nhiều lần những người Sarrasin phản công lại họ trong các hẻm núi, nhưng những việc này chẳng giúp gì cho họ, vì lần nào họ cũng bị đánh bại và bị giết. Khi nhà vua đã tàn phá và hủy diệt vương quốc của kẻ thù, ông ở lại nơi đó cùng với toàn thể quân đội trong hơn một tháng và vẫn tàn sát những người Sarrasin (vì thế ông đã tiêu diệt một số rất lớn); ông cho phá hủy đất đai; nỗi ô nhục của ông đã được báo thù, ông liền nghĩ đến việc quay về vương quốc của mình; ông trở về trong niềm vinh quang, hơn nữa, ông không thể làm hại thêm kẻ thù, vì có quá nhiều nơi phòng vệ phải vượt qua, và ít có ai gây tổn thất cho ông trong các hẻm núi. Ông lên đường rời khỏi vương quốc Aden. Sau vài ngày, ông về đến đất nước của mình trong niềm vinh quang và sung sướng. Ông đã báo thù được cho nỗi nhục của ông và của vị giám mục, người đã trực tiếp nhận nó thay ông, vì ông giết rất nhiều người Sarrasin, làm hư hỏng đất đai của họ, và hủy hoại bao nhiêu thứ khác nữa. Thật là tốt đẹp, vì những người Sarrasin không phải là đối thủ của những người Ki tô giáo, những người tốt lành.
Tôi đã nói với các bạn về tất cả những điều này, bây giờ tôi sẽ nói về chính tỉnh đó. Tỉnh này rất giàu có về tất cả các nhu yếu phẩm. Người dân sống bằng thịt, gạo, sữa và hạt vừng. Họ còn có nhiều voi, không phải chúng sinh ra từ vùng này, nhưng đến từ các đảo của nước Ấn khác. Họ cũng có những con gấu, báo, nhiều sư tử và các loại thú lạ lùng khác. Họ có nhiều lừa hoang, gà đẹp nhất chưa từng thấy trên thế giới, và nhiều giống chim khác nữa. Họ có nhiều chim đà điểu nhỏ hơn con lừa một chút. Ngoài ra, còn có nhiều giống két đẹp, khỉ và mèo rất kỳ lạ. Tỉnh Abasie còn có nhiều thành phố và thị trấn, nhiều nhà buôn và việc buôn bán rất phát đạt. Ở đây, người ta còn sản xuất nhiều loại vải mịn và các loại vải bông khác.
Không còn gì cần nói thêm; vậy chúng ta sẽ tiến về phía trước và chúng tôi sẽ nói về tỉnh Aden.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH ADEN

Tỉnh này có một vị lãnh chúa cai trị và được gọi là soudan; họ tôn thờ Mahomet và rất ghét những người Ki tô giáo. Ở đây có nhiều thành phố và thị trấn. Xứ Aden này là một hải cảng, nơi có nhiều tàu bè từ Ấn Độ đến cặp bến với nhiều loại hàng hóa. Các nhà buôn chuyên chở các thứ hàng hóa này trên những con tàu nhỏ hơn để đi đến cách đó bảy ngày đường (ở Kosei, trên bờ biển phía tây Hồng Hải); sau bảy ngày đường, họ bốc hàng và chất lên lưng những con lạc đà và đi đường bộ trong vòng ba mươi ngày đến tận sông Alexandrie (sông Nil). Nhờ con đường đi từ Aden này đến, những người Sarrasin ở Alexandrie mới có đủ các thứ gia vị và hạt tiêu. Họ sẽ không thể có những thứ đó bằng bất cứ con đường nào tốt hơn và an toàn hơn. Từ cảng Aden cũng xuất phát những con tàu mang hàng hóa đến các đảo của Ấn Độ. Nên biết rằng vua Aden nhận được nhiều tiền thuế hàng và thuế thông thương của những con tàu đi và đến từ Ấn Độ vào lãnh thổ của ông với đủ loại mặt hàng. Người ta cũng chuyên chở từ cảng Aden vào Ấn Độ một số lượng rất lớn những con ngựa chiến Ả Rập, ngựa đực và ngựa roussin cho hai người cưỡi; những người chở ngựa vào Ấn Độ thu lợi nhuận rất lớn, vì ngựa ở nơi đó rất đắt và dân Ấn không có ngựa. Vua Aden thu nhiều tiền thuế của tất cả những hàng hóa được chuyên chở trong hải cảng; người ta cho rằng ông là một vị vua giàu có nhất thế giới. Tôi cho các bạn biết rằng, khi vua xứ Babylone đem quân tấn công thành phố Acre và chiếm lấy thành này, vua Aden đả gởi đến giúp cho ông 30 ngàn lính ngựa và hơn 40 ngàn lạc đà. Đó là một thuận lợi rất lớn đối với những người Sarrasin và là một sự thiệt thòi lớn cho những người Ki tô giáo. Ông ta làm điều này vì căm ghét người Ki tô giáo hơn là tình cảm dành cho vua xứ Babylone, vì họ rất ghét nhau.
Bây giờ chúng tôi sẽ bỏ qua chuyện về vua Aden và nói về một thành phố thần phục Aden và có tên là Escier; thành phố này có một vị vua và ở về phía Tây Bắc, như các bạn sẽ nghe sau đây.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ ESCIER

Escier (có lẽ nằm trên bờ biển Hồng Hải) là một thành phố rất lớn ở về phía Tây Bắc và xa hải cảng Aden 400 dặm. Thành phố có một vị vua thần phục vua Aden; ông cai trị lãnh thổ trong sự công bằng; thành phố còn có nhiều thành phố thị trấn khác thuộc quyền. Dân cư đều là những người Sarrasin. Thành phố có một hải cảng tốt, nên có nhiều tàu từ Ấn đến cặp bến cùng với nhiều hàng hóa. Miền này sản xuất nhiều trầm hương trắng, nhờ đó nhà vua thu được nhiều lợi nhuận; người ta không dám bán nó cho bất cứ ai khác ngoài nhà vua; ông mua đến 10 livrơ vàng một tạ và bán lại cho các nhà buôn với 60 livrơ vàng một tạ; nhờ đó, ông ta tích lũy được một kho tàng đồ sộ. Nơi này cũng sản xuất nhiều chà là. Họ không có bất cứ loại lúa mì nào khác, nhưng chỉ có một ít lúa gạo, nhưng họ đi thu mua nó từ khắp nơi, vì những người mang đến bán đều thu được lời nhiều. Họ có nhiều cá, đặc biệt là cá rất lớn. Họ thu nhiều đến mức một đồng bạc Venise có thể mua được hai tấn cá. Họ sống bằng sữa, gạo, thịt và cá. Họ không có rượu nho, nhưng họ làm rượu bằng đường, gạo, chà là, nên rượu rất ngon. Tôi còn cho các bạn biết một điều rất lạ lùng khác. Những con cừu của họ không có tai, thay vào chỗ đó là một chiếc sừng nhỏ; đó là những con vật nhỏ xinh xắn. Tất cả những gia súc như bò, lạc đà đều ăn những con cá nhỏ và không ăn thứ gì khác; đó là toàn bộ thức ăn của chúng, vì trong toàn bộ xứ này không có cỏ hoặc rau xanh, vì đây là nơi khô hạng nhất thế giới. Cá cho gia súc ăn rất nhỏ: người ta bắt chúng vào tháng Ba và tháng Năm, cá nhiều đến mức lạ lùng. Sau khi đánh bắt, người ta đem phơi khô, tích trữ trong nhà và cho gia súc ăn trong suốt năm. Thậm chí gia súc còn ăn cá tươi ở trong tay những người bắt cá, khi họ vừa đưa cá lên khỏi mặt nước. Họ cũng bắt những loại cá lớn và ngon, giá cả rất rẻ; họ cắt chúng ra từng miếng rồi phơi trên mái nhà để dành ăn suốt năm như ta ăn bánh bích quy.
Không còn chuyện gì để kể thêm. Vậy bây giờ chúng tôi sẽ nói với các bạn về một thành phố khác có tên là Dufar.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VẾ THÀNH PHỐ DUFAR

Dufar (Djafar?) là một thành phố đẹp, sang trọng và rộng lớn; nó ở cách Escier 500 dặm về phía tây bắc. Dân cư là những người Sarrasin và họ có một vị vua cai trị như tôi sẽ nói với các bạn sau; thành phố thần phục cả thành phố của Aden, nó nằm trên bờ biển nên có một hải cảng tốt: vì vậy ở đây có nhiều tàu bè đi và đến các nước Ấn Độ. Các nhà buôn mang từ hải cảng này đến Ấn Độ nhiều ngựa chiến Ả Rập và thu được nhiều lợi nhuận.
Thành phố này có nhiều thành phố và thị trấn khác thần phục. Ở đây có nhiều nhựa hương trắng, và tôi sẽ cho các bạn biết nó được sản xuất như thế nào. Có những loại cây giống như những cây thông nhỏ, người ta dùng dao cắt thân cây tại nhiều nơi, tại những vết cắt này nhựa hương chảy ra, nhưng cũng có khi nhựa ứa ra mà không cần vết cắt, đó là do nhiệt độ cao của mặt trời.
Không có gì khác để kể thêm, vậy chúng tôi sẽ tiến lên phía trước để nói về vịnh Calatu cũng như thành phố Calatu.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ CALATU

Calatu (Kalhât) là một thành phố lớn nằm trong vịnh cũng có tên là Calatu. Nó ở cách Dufar 600 dặm về hướng tây bắc. Dân cư là những người Sarrasin và lệ thuộc Cormos (Ormuz). Mỗi lần vua Cormos ra trận chống lại một vị vua khác hùng mạnh hơn ông, ông liền trốn trong thành phố Calatu này, vì thành phố nằm trong một vị trí vững chắc và an toàn. Họ không có lúa mì nhưng mua nó từ nơi khác, vì các nhà buôn chuyên chở lúa đến cho họ bằng tàu thủy. Họ có một hải cảng rất lớn và rất tốt. Các tàu cũng mang đến đó nhiều hàng hóa của Ấn Độ, và từ thành phố này, hàng được đưa sang nhiều thành phố và thị trấn khác. Người ta cũng mang từ cảng này sang Ấn Độ nhiều ngựa chiến Ả Rập giống tốt. Cũng nên biết rằng, mỗi năm có một số lớn ngựa được chuyên chở từ thành phố này và những thành phố khác ra các hải đảo. Bởi vì không có con ngựa nào sinh ra trên các hải đảo, hơn nữa, những con ngựa đến nơi đây đều chết, bởi vì chúng không được săn sóc tốt: người dân cho chúng ăn thịt nấu chín và nhiều thứ khác như tôi đã nói và họ cũng thiếu những tay săn sóc ngựa giỏi.
Thành phố Calatu là cửa ngõ đi vào một vịnh, nên không có con tàu nào có thể vào và ra mà không có phép của họ. Khi vua Cormos, cũng là vua Calatu, và thuộc quyền của sultan Kerman, lo sợ chúa của mình là Kerman, ông lên các con tàu của Cormos, đến Calatu và không cho bất cứ con tàu nào vào vịnh; điều này gây tổn thất lớn cho sultan Kerman, vì ông này mất quyền thu thuế trên các nhà buôn từ Ấn Độ và những nơi khác đi vào lãnh thổ của ông; đúng vậy, một số lượng lớn tàu buôn chở đầy hàng của họ đến hải cảng này và đóng những khoản thuế rất lớn. Vì vậy, sultan Kerman buộc phải thực hiện điều mà vua Cormos yêu cầu. Vị vua này còn sở hữu một lâu đài khác cũng rất vững chắc, và thậm chí còn hơn cả thành phố Calatu nữa và cũng ở lối vào vịnh Calatu. Những người dân của vùng này sinh sống bằng chà là và cá muối có rất nhiều; nhưng các vua chúa ăn những thứ ngon hơn.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ CORMOS ĐƯỢC NHẮC ĐẾN Ở TRÊN

Rời thành phố Calatu 300 dặm giữa phía Tây Bắc và hải cảng, chúng ta đến thành phố Cormos, đây là một thành phố lớn, sang trọng và nằm trên bờ biển. Họ có một vị vua cũng thần phục sultan Kerman. Nhiệt độ cao đến nỗi họ thiết lập trên mái nhà những ống thông để đón gió: bằng cách quay các ống thông gió về phía gió thổi đến, chúng khiến cho gió luồn xuống nhà để làm cho nhà được mát mẻ hơn, vì họ không thể chịu đựng nổi nhiệt độ quá lớn ở đây bằng cách nào khác.
Tôi sẽ không nói với các bạn điều gì khác nữa, bởi vì tôi đã nói ở trên về thành phố Cormos và xứ Kerman. Vì chúng tôi đã đi qua những lộ trình mới, chúng ta nên quay lui và chúng tôi sẽ nói về nước Đại Turquie. Nhưng trước hết, tôi sẽ nói với các bạn một chuyện mà chúng tôi đã quên kể. Khi rời khỏi thành phố Calatu được 500 dặm giữa phía Tây và phía Tây Bắc, chúng ta bắt gặp thành phố Quis, chúng tôi sẽ không nói đến nó lúc này, bởi vì chúng ta phải bỏ qua và trở về vấn đề của chúng ta, đó là nước Đại Turquie.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ XỨ ĐẠI TURQUIE

Trong nước Đại Turquie (Turkestan), có một vị vua tên là Caidu. Ông ta là cháu của Đại Hãn, vì ông là con trai của Ciagatai, em ruột của Đại Hãn. Ông cai trị nhiều thành phố và thị trấn, đồng thời còn là một vị đại lãnh chúa. Ông và thần dân của ông đều là người Tácta, những chiến binh cừ khôi và luôn luôn ra trận. Vị vua Caidu này không lúc nào sống hòa thuận với bác ông là Đại Hãn, và ông đã từng đánh những trận lớn chống lại quân đội của Đại Hãn. Mối bất hòa của họ xuất phát từ việc Caidu yêu cầu Đại Hãn chia phần sau những cuộc chinh phục do cha ông thực hiện, phần mà đáng ra ông phải được hưởng. Nhất là ông đòi chia phần tỉnh Catay và tỉnh Mangi. Đại Hãn nói ông muốn chia cho cháu phần thuộc về cháu, nhưng với điều kiện là những người cố vấn của Caidu phải dẫn ông đến triều đình với tư cách một con người chịu thần phục. Caidu, con người không tin tưởng vào ông bác bao nhiêu, tuyên bố ông sẽ không đi, nhưng sẽ tuân phục tất cả những mệnh lệnh của bác ông dù ở bất cứ đâu, vì ông sợ Đại Hãn tiêu diệt ông, điều này nhiều lần xảy ra.
Do đó hai bác cháu bất hòa, dẫn đến một cuộc chiến ác liệt với nhiều trận đánh lớn. Nên biết rằng, trong suốt năm, Đại Hãn cho các đội quân trú đóng quanh vương quốc của Caidu để ông này không gây thiệt hại nào cho lãnh thổ của Đại Hãn. Tuy nhiên, Caidu không từ bỏ ý định xâm nhập vào lãnh thổ của Đại Hãn để chống lại ông này.
Vua Caidu vĩ đại có quyền lực lớn đến nỗi ông có thể làm việc đó, vì ông có thể tổ chức một đội quân gồm 100 ngàn lính ngựa, tất cả đều gan dạ và được huấn luyện kỹ về đánh trận. Ông ta cũng có nhiều cận thần thuộc hoàng tộc, xuất thân từ Cinghis Khan, vị lãnh chúa đầu tiên đã chinh phục được một phần lớn thế giới, như tôi đã kể cho các bạn biết trong quyển sách này.
Nên biết rằng nước Đại Turquie nằm về phía Tây Bắc Corinos. Nó bắt đầu từ con sông Jon và chạy dài theo hướng Bắc cho đến tận vùng đất của Đại Hãn.
Chúng ta sẽ rời bỏ xứ này và tôi sẽ nói cho các bạn một vài trận đánh của vua Caidu chống lại quân đội của Đại Hãn.
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện