DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 14

QUÂN CỦA ĐẠI HÃN TRÊN ĐẢO CHIẾM THÀNH PHỐ CỦA ĐỊCH NHƯ THẾ NÀO?

Những người ở lại trên đảo, gồm hơn 30 ngàn người như tôi đã nói, họ được coi như đã chết, vì họ không có cách nào đi thoát được. Khi vua của hòn đảo lớn (đảo Cinpingu) hay tin họ trốn trên đảo và một bộ phận khác của đội quân bị tan rã và chạy trốn, ông rất sung sướng và cho tập trung tất cả các tàu đang đậu trong hòn đảo lớn; họ đi về phía đảo nhỏ và bước xuống đảo từ khắp phía. Khi những người Tácta nhìn thấy họ đổ bộ tất cả lên đảo và không để lại bất cứ đội canh phòng nào trên các tàu chiến, họ giả vờ chạy trốn và chạy đến các con tàu của quân địch, họ leo ngay lên tàu một cách dễ dàng, bởi vì hầu như họ không gặp bất cứ sự chống cự nào. Khi họ đã có mặt trên các con tàu, họ vội vàng tiến về hòn đảo lớn, đổ bộ lên đảo, đi vào thành phố chính, đồng thời mang theo những cờ lệnh và cờ hiệu của vua hòn đảo lớn. Dân trong thành phố không cảnh giác đề phòng, nhìn thấy những lá cờ tiến vào, họ nghĩ đó là những người thuộc về phe của họ, nên để cho những người Tácta đi vào trong thành. Những người sau này, một khi vào được bên trong, liền chiếm lấy các pháo đài, đuổi những người trong thành phố ra ngoài, trừ những người phụ nữ đẹp mà họ giữ lại cho họ. Những người lính của Đại Hãn đã chiếm được thành phố bằng cách đó.
Khi vua của hòn đảo lớn thấy thành phố của ông bị chiếm, ông vô cùng đau khổ. Những người còn lại ở đảo nhỏ đã mất đội tàu, chỉ có thể quay về đảo lớn trên một vài tàu chiến còn sót lại. Nhà vua liền ra lệnh tập trung toàn thể quân đội và bao vây thành phố, để không ai có thể ra hoặc vào. Tôi sẽ nói gì với các bạn nữa đây? Những người bị bao vây cầm cự được bảy tháng, ngày và đêm họ tìm cách thông báo số phận của họ cho Đại Hãn biết; nhưng điều họ làm chỉ là công cốc, vì họ không thể nào báo tin cho ông ta được. Khi họ thấy không thể cầm cự được nữa, họ đầu hàng với điều kiện là được bảo toàn sinh mạng, nhưng họ không bao giờ được rời khỏi đảo. Chuyện này xảy ra vào năm Chúa Ki tô 1279. Đại Hãn ra lệnh hành quyết vị quan đã chạy trốn một cách hèn nhát. Đối với vị quan còn lại, vì vẫn còn ở trên đảo, ông ra lệnh tử hình, vì y đã không hành động như một người lính dũng cảm cần phải hành động.
Tôi cũng sẽ kể cho các bạn một chuyện xảy ra trong sự kiện này mà tôi đã quên. Các bạn nên biết rằng, lần đầu tiên quân đội của Đại Hãn đổ bộ lên hòn đảo lớn và chiếm lấy đảo như tôi đã kể trên kia, họ dùng vũ lực chiếm lấy một ngọn tháp mà đội gác không muốn đầu hàng, và họ liền chặt đầu những người lính gác, trừ tám người vì họ không thể nào cắt cổ họ được bằng bất cứ cách nào, do các tính năng của các viên đá mà họ có ở giữa lớp da và thịt; những viên đá này được bố trí khéo léo đến nỗi có vẻ như chúng không ở bên ngoài. Chúng được làm phép thuật và có tính năng là người nào mang chúng thì không vũ khí nào có thể giết được. Khi người ta báo cáo việc này lên ban chỉ huy người Tácta, họ ra lệnh giết những người đó bằng gậy. Khi họ chết, những vị chỉ huy cho lấy đá ra khỏi từng người và gìn giữ các viên đá đó rất kỹ.
Chúng ta sẽ bỏ qua chuyện này và quay về câu chuyện của chúng ta.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG NGẪU TƯỢNG KHÁC NHAU

Lúc này các bạn nên biết rằng, các ngẫu tượng của nước Catay và Mangi và của hòn đảo Cinpingu, tất cả đều giống nhau. Có ngẫu tượng hình đầu bò, có ngẫu tượng hình đầu heo, chó, cừu và những hình khác nữa. Có những ngẫu tượng với bốn đầu, ngẫu tượng khác có ba mà hai đầu kia nằm trên hai vai; những tượng khác có bốn tay, mười tay hoặc một ngàn tay; tín đồ tin tưởng vào ngẫu tượng nghìn tay hơn những ngẫu tượng khác. Khi một người Ki tô giáo hỏi họ tại sao họ làm những ngẫu tượng đủ loại và khác nhau như vậy, họ trả lời là tổ tiên của họ đã làm ra như thế và tổ tiên đã truyền lại cho con cái, và con cái lại truyền lại cho cháu chắt họ, và cứ thế truyền mãi từ đời này sang đời khác. Nên biết rằng tất cả những gì liên quan đến các ngẫu tượng này đều chất chứa biết bao mưu ma chước quỷ đến nỗi kể lại là điều không mấy thích hợp. Do đó, chúng tôi sẽ bỏ qua những ngẫu tượng này và kể cho các bạn về chuyện khác. Khi những người của đảo này và tất cả những người khác thuộc Ấn Độ bắt được một kẻ thù nào của họ, thì người này không thể được chuộc lại bằng tiền; những người nào đã bắt được tù binh liền mời tất cả bạn bè và bà con của y đến và họ giết người tù đó, sau đó họ nướng và ăn thịt luôn.
Bây giờ chúng ta hãy bỏ qua chuyện này và hãy nói đến chuyện khác. Phần biển có các đảo này gọi là biển Cim (Tschin, Tchina theo tiếng Nhật), có nghĩa là biển ở gần nước Mangi. Vì theo ngôn ngữ của các đảo này, khi họ nói Cim, từ này có nghĩa là Mangi. Trong biển Cim này về phía đông, theo những lời của những người đánh cá và thủy thủ rành về vùng biển này kể lại, có 7459 đảo mà những người thủy thủ nói trên đã đến. Họ biết rõ điều này, vì họ không làm gì khác hơn là ngược xuôi trên vùng biển này. Không đảo nào mà không có những loại cây xinh tốt và hương thơm ngào ngạt, như gỗ cây aloès và những loại cây tuyệt vời khác nữa; ngoài ra còn có nhiều loại gia vị. Trên đảo này có mọc nhiều cây tiêu trắng như tuyết. Thật là điều kỳ diệu vì ở đó còn có những tài nguyên phong phú khác như vàng, đá quý và tất cả các loại gia vị. Nhưng chúng ở rất xa đất liền khiến con người khó có thể đến đó được. Khi những chiếc tàu của Caiton và Quinsay đến đó, họ tìm thấy ở nơi đó nhiều của cải và nguồn lợi. Họ để ra một năm để đi đến đó, vì họ đi vào mùa đông và trở về vào mùa hè. Vì trong vùng biển này chỉ có hai loại gió hoạt động: một đưa họ đi, và một đưa họ trở về. Hai loại gió này, một thổi suốt mùa đông, và một thổi suốt mùa hè. Các bạn nên biết rằng vùng này rất xa Ấn Độ đến nỗi phải đi mất một thời gian rất dài. Tôi đã cho các bạn biết, người ta gọi biển này là biển Cim, nhưng thật ra nó là biển lớn Océane, nó mang cái tên biển Cim giống như ở đây chúng ta nói biển Anh quốc hoặc biển La Rochelle. Người ta còn gọi một tên khác nữa: biển Ấn Độ; nhưng đó vẫn chỉ là biển Océane.
Bây giờ chúng ta sẽ bỏ qua vùng này, bởi vì đó là những xứ quá xa xôi và vì Ngài Marco Polo không thể đi đến đó. Đại Hãn không biết phải làm gì đối với họ và họ cũng không đóng cho ông bất kỳ loại tiền thuế nào. Chúng ta sẽ quay lại Caiton là điểm xuất phát để hướng về Tiêu An.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ VÙNG ĐẤT CIAMPA RỘNG LỚN

Rời hải cảng Caiton đi tàu qua 1500 dặm về hướng Tây Nam, chúng ta đến một vùng có tên là Ciampa (phía Đông nước Campuchia, bên kia sông Mê Công), đây là một vùng đất rất giàu có, có vua cai trị và có ngôn ngữ riêng. Họ thờ ngẫu tượng và mỗi năm nộp cống cho Đại Hãn bằng voi, nhưng không nộp thứ gì khác. Tôi sẽ cho các bạn biết vì sao họ lại nộp loại cống này.
Vào năm Chúa Ki tô 1278, Đại Hãn phái một vị quan gọi là Sagatu chỉ huy một đội lính ngựa và lính bộ hùng hậu sang tấn công vua xứ Ciampa. Sagatu bắt đầu đánh nhau rất ác liệt với nhà vua và xứ sở của ông. Vị vua này đã lớn tuổi và hơn nữa ông không có quân nhiều như tướng của Đại Hãn. Ông không thể chiến đấu trong đồng bằng, nhưng có thể cầm cự trong các thành phố và thị trấn rất kiên cố của ông. Sagatu cho triệt hạ mọi thứ trong vùng đồng bằng. Khi nhà vua thấy vị tướng này triệt hạ toàn bộ vương quốc của ông, ông rất đau buồn. Vì vậy ông thành lập một đoàn sứ giả và phái họ đi đến với Đại Hãn. Các sứ giả đến nói với ông:
“Bệ hạ của chúng thần, vua đất nước Ciampa, gởi lời chào Chúa thượng với tư cách là lãnh chúa chư hầu, xin báo cho Chúa thượng biết rằng, vua chúng thần đã lớn tuổi và lâu nay cai trị vương quốc trong sự thanh bình. Người khẩn nài được trở thành thần dân của Chúa thượng, và mỗi năm sẽ nộp cống cho Chúa thượng bao nhiêu voi tùy ý thích của Chúa thượng. Người khẩn cầu Chúa thượng ra lệnh cho tướng soái và quân lính đừng tàn phá vương quốc Ciampa và rời khỏi lãnh thổ này, từ đây nó sẽ thuộc về Chúa thượng và vua chúng thần sẽ cai trị nhân danh Chúa thượng”.
Khi Đại Hãn nghe những lời van xin của vua Ciampa, ông rất thương xót nhà vua và ra lệnh cho vị chỉ huy rút quân đội của ông rời khỏi vương quốc và đi xâm chiếm một xứ sở khác. Lệnh của Đại Hãn vừa được ban xuống, tướng chỉ huy quân đội của ông liền thi hành ngay. Nhà vua trở thành thần dân của Đại Hãn bằng cách này. Ông phải nộp cho Đại Hãn mỗi năm 20 con voi đẹp nhất và lớn nhất mà ông có trong nước.
Nên biết rằng trong vương quốc này không phụ nữ nào có thể lấy chồng, nếu nhà vua không xem mặt cô ta trước; nếu người phụ nữ nào làm cho ông ta thích, ông liền lấy người đó làm vợ, và nếu cô ta không làm cho ông vừa lòng, ông liền ban cho cô ta tiền để cô ta trở về lấy chồng. Năm Chúa Ki tô thứ 1280, Ngài Marco Polo đã ở vùng đất này, trong thời gian đó, nhà vua có 326 đứa con vừa trai vừa gái, trong số đó có 150 đứa có thể cầm vũ khí ra mặt trận.
Trong vương quốc này, có rất nhiều voi và nhiều cánh rừng gỗ đen gọi là gỗ ybénus (gỗ mun), những quân cờ vua màu đen và các loại rương hòm được làm bằng gỗ này.
Không còn gì để kể thêm, chúng ta tiếp tục tiến lên phía trước.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ HÒN ĐẢO LỚN JAVA

Rời khỏi Ciampa và đi tàu 1500 dặm về hướng Nam, chúng ta đến một hòn đảo lớn có tên là Java (dĩ nhiên Marco Polo lẫn lộn giữa Java và Borneo), các thủy thủ đi biển này cho rằng đó là hòn đảo lớn nhất thế giới, vì chu vi của nó hơn 3000 dặm. Nó thuộc về một vị vua nổi tiếng và không nộp cống cho bất cứ ai. Dân cư thờ ngẫu tượng. Hòn đảo này rất giàu có. Họ có tiêu đen, nhục đậu khấu, galanga, cây tiêu thuốc, đinh hương và tất cả các thứ gia vị khác nữa. Ở đảo này có rất nhiều tàu thuyền và các nhà buôn mua và mang đến đó nhiều hàng hóa và thu nhiều lợi nhuận đáng kể. Tôi cho các bạn biết rằng Đại Hãn không bao giờ chiếm được đảo này, bởi vì nó ở quá xa và phải chi phí nhiều cho việc đi lại trên biển.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CÁC ĐẢO SANDUR VÀ CONDUR

Đi tàu từ Java 700 dặm về phía Nam, chúng ta bắt gặp hai đảo, một đảo lớn và đảo kia nhỏ hơn. Một đảo có tên là Sandur và đảo kia có tên là Condur (ở đây, Marco Polo sai lầm hoàn toàn: người ta xem Condur là đảo Condor, phía nam Campuchia, về phần đảo Sanchir và Sochac, các nhà chú giải chưa xác định được). Vì không có gì đáng nói, chúng ta sẽ tiến lên nữa đến một vùng khác gọi là Sochac, nằm cách Sandur 500 dặm về phía Đông Nam. Đó là một vùng đất tốt và giàu có với một vị vua đứng đầu. Dân chúng thờ ngẫu tượng, họ có ngôn ngữ riêng và không phải nộp cống cho bất cứ ai, vì họ ở trong một xứ rất xa xôi và cách biệt đến nỗi không ai có thể đến đó được. Nếu có thể đi đến đó, thì Đại Hãn đã khuất phục họ dưới sự đô hộ của ông ta từ lâu rồi.
Trong vùng này có sản sinh gỗ cây huyết mộc. Họ cũng có nhiều vàng, nhiều voi và thú ăn thịt. Đó là vương quốc có tất cả các loại ốc làn dùng làm tiền tệ trong tất cả các vùng mà tôi đã kể với các bạn.
Không có gì khác đáng nói, nếu không muốn nói đó là những nơi rất hoang dã và ít người đến. Hơn nữa nhà vua không muốn cho ai đến, để người ta đừng biết đến của cải và điều kiện sinh hoạt của ông ta.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẢO PENTAM

Sau khi rời Sochac và đi 500 dặm về hướng Nam, chúng ta đến một hòn đảo có tên là Pentam (có thể là Brintang, trước Singapour, nhưng chưa được thuyết phục cho lắm), đó là một nơi rất hoang dã. Tất cả những loại cây đều cho gỗ rất thơm. Không có gì đáng nói thêm. Chúng ta sẽ đi tàu thêm 60 dặm nữa, nước biển trên lộ trình này sâu chưa tới bốn bước chân, vì vậy các tàu lớn đi qua đó phải nâng bánh lái lên. Sau khi đi qua 60 dặm này, và thêm 30 dặm nữa, chúng ta đến một đảo là một vương quốc và có tên là Malani (không phải là đảo nhưng là bán đảo Malacca). Vương quốc có vua cai trị và có ngôn ngữ riêng. Thành phố rất đẹp và sang trọng, có nền thương mại phồn thịnh. Dân cư có đủ các thứ gia vị và tất cả các thứ nhu yếu phẩm khác.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẢO JAVA NHỎ

Sau khi rời khỏi đảo Malani và đi 90 dặm, chúng ta đến đảo Java nhỏ (đảo Sumatra), nhưng nó không nhỏ vì chu vi của nó là 2000 dặm. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe tất cả những gì liên quan đến đảo này. Đảo có 08 vương quốc và 08 vị vua trị vì. Mỗi vương quốc đều có ngôn ngữ riêng và tất cả các dân cư đều thờ ngẫu tượng.
Trên đảo này có nhiều loại gia vị quý không bao giờ có ở xứ chúng ta. Tôi sẽ kể với các bạn lối sống của phần lớn nhất thuộc 08 vương quốc này. Nhưng trước hết, tôi sẽ cho các bạn biết điều này: đó là hòn đảo này ở quá về phía nam đến nỗi người ta không bao giờ nhìn thấy sao Bắc đẩu.
Trước tiên chúng ta hãy nói đến vương quốc Ferlec. Những người Sarrasin đến vương quốc này thường xuyên đến nỗi họ đã cải đạo cho những người bản xứ để họ tin vào Đức Mahomet, nhưng chỉ có những người ở thành phố mà thôi, vì những người ở trên núi sống như súc vật; họ ăn thịt người và tất cả các loại thịt khác. Họ tôn thờ nhiều thứ khác nhau. Họ thờ suốt ngày vật đầu tiên mà họ thấy khi thức dậy vào buổi sáng.
Khi rời khỏi vương quốc Ferlec, chúng ta đến vương quốc Basma. Dân cư có ngôn ngữ riêng; họ sống như súc vật, vì họ không theo bất cứ tôn giáo nào, và dựa vào Đại Hãn; nhưng họ không nộp bất cứ thứ thuế nào, vì họ ở quá xa. Họ có nhiều voi và những con vật một sừng (tê giác) không nhỏ hơn voi bao nhiêu; chúng có lông giống như lông trâu, chân như chân voi, một cái sừng ở giữa trán màu trắng rất to. Chúng không dùng sừng để gây thiệt hại gì, nhưng dùng lưỡi vì lưỡi chúng có gai lớn và dài. Đầu chúng giống như đầu heo rừng, và chúng luôn luôn nghiêng đầu xuống đất. Chúng sống nhởn nhơ xung quanh các hồ, đầm lầy. Đó là một con thú rất xấu xí, chẳng có chút gì hấp dẫn, nhưng ngược lại là đằng khác.
Trong vương quốc này cũng có những con chim ưng toàn màu đen như quạ: đó là những con chim lớn rất giỏi trong việc săn bắt chim nhỏ.
Tôi cho các bạn biết rằng, những người mang về cho chúng ta những con người nhỏ thó khô đét và cho rằng chúng là người Ấn Độ, đó là họ nói láo, vì đó là những con khỉ sống trên hòn đảo này. Và tôi sẽ nói cho các bạn biết họ thục chúng như thế nào.
Trên đảo này có một loại khỉ rất nhỏ và có khuôn mặt giống như khuôn mặt người. Người ta bắt nó rồi cạo hết lông đi, trừ bộ lông ở mép và ở dương vật. Sau đó người ta đem sấy khô, người ta thục chúng với nghệ và những thứ thuốc khác nữa, đến nỗi cuối cùng chúng giống hệt như con người. Nhưng đó không phải là sự thật, vì trong toàn nước Ấn Độ hoặc trong những nước còn man rợ khác, không bao giờ người ta thấy có những con người như thế.
Bây giờ sau khi rời bỏ vương quốc Basma, chúng ta đến một vương quốc khác có tên là Samara, cũng trên cùng hòn đảo, Ngài Marco Polo đã ở lại đó năm tháng, vì thời tiết xấu không cho ông tiếp tục đi tới. Sao Bắc đẩu hoặc sao Tây Bắc không bao giờ xuất hiện ở đó. Dân cư cũng thần phục Đại Hãn. Trong năm tháng mà Ngài Marco Polo ở lại trên đảo, ông và những người tùy tùng lên đảo và làm những ngôi nhà bằng gỗ và các pháo đài để ở vì sợ những người thú ăn thịt. Đảo có nhiều cá, những loại cá ngon nhất thế giới. Dân cư không có lúa mì nhưng họ sống bằng gạo, họ không có rượu nho, nhưng họ làm rượu như tôi sẽ nói cho các bạn biết dưới đây, Họ có một loại cây và khi nào họ muốn có rượu, họ cắt một nhánh cây, rồi cột vào gốc cây một chiếc bình lớn, đúng nơi nhánh cây bị cắt; trong một ngày đêm, bình sẽ đầy nước. Có loại rượu trắng và loại rượu đỏ, cả hai đều uống rất ngon. Cây đó giống như một cây chà là nhỏ. Người ta cắt ba nhánh, và nhánh bị cắt rồi không còn cho rượu nữa, người ta tưới nước ở rễ cây và không bao lâu, nhánh cây mọc ra lại. Dân cư cũng có nhiều quả hồ đào Ấn Độ rất to, ăn sống rất ngon.
Sau khi rời vương quốc Samara, chúng ta gặp một vương quốc khác có tên là Dagrain. Đó là một vương quốc độc lập. Người dân là những người can đảm và thờ ngẫu tượng. Họ thần phục Đại Hãn. Chúng tôi sẽ kể cho các bạn nghe một phong tục không tốt của họ. Khi một người nào bị bệnh, họ cho người đi tìm các thầy mo, và hỏi họ người bệnh có thể được chữa khỏi hay không. Nếu như họ nói người bệnh có thể khỏi, họ liền bỏ thí cho đến khi người bệnh khỏi. Nếu các thầy tiên đoán y có thể chết, họ cho người đi tìm những người được chỉ định để giết chết những người bệnh mà các thầy mo xét là phải chết; những người này đến và đặt trên miệng người bệnh nhiều quần áo để làm cho bệnh nhân phải chết ngạt. Khi bệnh nhân đã chết, họ cho nấu nướng người chết và tất cả bà con người chết tụ họp lại để ăn thịt. Tôi cho các bạn biết rằng, họ gặm mút xương rất kỹ, để không còn một hạt tủy hoặc mỡ nào bên trong, vì họ cho rằng nếu còn trong xương một chút tinh chất nào, những con dòi sẽ đến và chết vì đói. Họ nói rằng linh hồn người chết sẽ bị buộc tội về cái chết của những con dòi này, chính vì vậy, họ ăn cho hết ráo. Khi đã ăn xong, họ tập trung xương lại và bỏ trong một chiếc hòm thật đẹp và đem nó treo lên những cái hang trên núi, nơi mà các con thú cũng như bất cứ thứ gì cũng không thể chạm đến được. Nếu họ bắt được một người nào không thuộc vùng của họ, và người này không có ai chuộc lại bằng tiền, họ sẽ giết và ăn thịt người đó ngay. Đó là một phong tục rất xấu xa và nguy hiểm.
Sau khi rời vương quốc này, chúng ta đến một vương quốc khác có tên là Labrin. Dân cư thần phục Đại Hãn và thờ ngẫu tượng. Họ có nhiều long não và đủ các loại gia vị khác. Họ có nhiều cây huyết mộc; họ gieo hạt và khi cây nhú mầm, họ nhổ lên và trồng ở một nơi khác và họ để cho nó phát triển như thế trong ba năm, sau đó họ nhổ lên với toàn bộ bộ rễ. Nên biết rằng Ngài Marco Polo mang giống cây huyết mộc về tận Venise và gieo nhưng nó không mọc lên được, tôi tin rằng, vì thời tiết ở đây quá lạnh.
Trong vương quốc Labrin còn có giống người có một cái đuôi dài một bề ngang bàn tay và không có lông. Những người này ở trong các dãy núi và giống như những người rừng. Đuôi họ to như đuôi chó. Họ còn có nhiều loài thú một sừng và có nhiều nơi săn thú lấy thịt.
Sau vương quốc Labrin, người ta đến một vương quốc khác có tên là Fandur. Dân cư thờ ngẫu tượng và thần phục Đại Hãn. Trong vương quốc này, có mọc một thứ cây long não tốt nhất thế giới mang tên long não Fandury. Chúng tốt đến nỗi người ta bán bằng cân vàng. Họ không có lúa mì nhưng sống bằng gạo, sữa và thịt. Họ sản xuất rượu từ loại cây như tôi đã nói với các bạn ở trên kia. Tôi sẽ kể một câu chuyện rất kỳ điệu: Họ có một loại cây cho bột (cây sagou) ăn rất ngon; những cây này rất to lớn, vỏ của nó rất mỏng, dưới vỏ có rất nhiều bột. Ngài Marco Polo, người đã nhìn thấy cây này, đã kể lại, ông thu bột này nhiều lần như thế nào, ông nhào thứ bột này và làm ra một loại bánh mì ăn rất ngon.
Không còn gì để kể thêm về sáu trong số tám vương quốc, thuộc về phần này của đảo. Về hai vương quốc thuộc về phần kia của đảo, tôi sẽ không kể với các bạn điều gì, vì ngài Marco Polo đã không đến nơi đó. Vì vậy chúng tôi sẽ không nói đến đảo Java nhỏ nữa, và chúng tôi sẽ nói vói các bạn về hai hòn đảo nhỏ, một có tên là Gavenispola và đảo kia là Nocaran.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẢO GAVENISPOLA VÀ ĐẢO NOCARAN

Sau khi rời khỏi đảo Java nhỏ và vương quốc Labrin và đi tàu lên phía Bắc chừng 150 dặm, người ta gặp hai đảo mà một có tên là Nocaran và một gọi là Gavenispola (đó là các đảo Nicobar, ở mũi tây bắc Sumatra). Người dân không có vua cũng như lãnh chúa, nhưng họ sống như những thú vật. Tôi cho các bạn biết rằng họ luôn sống khỏa thân, đàn ông cũng như đàn bà và họ không mặc bất cứ thứ gì. Họ thờ ngẫu tượng. Các cánh rừng của họ đều có nhiều loại cây cao cấp và có giá trị lớn. Họ có gỗ đàn hương và quả hồ đào Ấn Độ, đinh hương, huyết mộc và nhiều thứ gia vị ngon khác.
Không có gì đáng nói thêm; vì vậy chúng ta sẽ lên đường và tôi sẽ nói với các bạn về một đảo có tên là Angaman.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẢO ANGAMAN

Angaman (phía bắc Nicobar) là một hòn đảo rất lớn. Người dân không có vua cai trị và họ thờ ngẫu tượng và sống như thú vật. Tất cả những người đàn ông của đảo Angaman này có cái đầu giống như đầu chó (trong lần du hành thứ ba, Cook có nhắc đến những bộ tộc mang mặt nạ hình đầu thú. Đây có thể là điều khiến cho Marco Polo nhìn lầm chăng?), răng, mắt họ cũng vậy, vì từ khuôn mặt, họ giống như những con chó ngao lớn. Họ có nhiều gia vị. Đó là những con người dữ tợn, vì họ ăn tất cả những người họ bắt được, miễn là người đó không thuộc về người của họ. Họ sống bằng gạo, thịt, sữa; họ có những thứ trái cây khác hẳn với trái cây của chúng ta.
Bây giờ tôi sẽ nói với các bạn về một hòn đảo có tên là Seilan, như các bạn sẽ nghe sau đây.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẢO SEILAN

Sau khi rời khỏi đảo Angaman và đi tàu một ngàn dặm về hướng Tây, chúng ta sẽ không gặp thứ gì, nhưng nếu đi về phía Tây Nam, chúng ta sẽ gặp đảo Seilan (Ceylan, ngày nay là nước Sri Lanca), đó là một hòn đảo tuyệt vời nhất thế giới, vì mức độ rộng lớn của nó. Chu vi của nó là 2400 dặm, nhưng xưa kia, nó còn lớn hơn nữa, có thể là 3000 dặm, theo như những người thủy thủ rành nghề đi biển vùng này thuật lại; nhưng gió bấc ở đó thổi mạnh đến nỗi nó làm cho một phần lớn đất đai chìm xuống mặt nước: đó là lý do mà nó không còn lớn như xưa kia. Từ phía gió bấc thổi đến, đảo rất thấp và hoàn toàn bằng phẳng, khi người ta đến từ khơi xa trên một con tàu, người ta sẽ không nhìn thấy đất trước khi có mặt trên đảo. Bây giờ chúng tôi sẽ nói về đặc điểm của hòn đảo này. Dân cư có một vị vua mà họ gọi là Sendemain và ông không nộp cống cho bất cứ ai cả; họ thờ ngẫu tượng và sống khỏa thân và bao lại chỗ kín; họ không có lúa mì nhưng có gạo và hạt vừng, nhờ đó, họ làm ra dầu vừng; họ sống bằng thịt sữa và làm rượu bằng thứ cây mà tôi đã nói trên kia; họ có cây huyết mộc tốt nhất thế giới.
Bây giờ tôi sẽ không nói về những điều này nhưng nói đến một vật quý giá nhất trên thế gian này. Vì trên đảo này, người ta nhìn thấy những viên đá ru pi rất đẹp mà không nơi nào khác trên thế giới có được, trừ trên đảo này.
Người ta cũng tìm được đá ngọc lam, hoàng ngọc, thạch anh tím và nhiều loại đá khác nữa. Vị vua đảo này có viên ru pi đẹp nhất và to nhất thế giới; tôi sẽ nói với các bạn nó được cấu tạo như thế nào: nó dài ít nhất là một bề ngang bàn tay, và to bằng cánh tay của một người đàn ông; nó là báu vật lộng lẫy nhất thế giới và không có bất cứ tì vết nào; nó đỏ chót như lửa; nó có giá trị lớn đến nỗi không ai có thể có đủ tiền dể mua. Đại Hãn phái các sứ giả đến đó và lịch sự yêu cầu ông bán cho viên đá ru pi này; ông khẩn khoản van nài và đổi lại ông tính giá cả bằng một thành phố hoặc bao nhiêu cũng được. Nhà vua trả lời ông không bán nó với bất cứ thứ gì trên thế gian này, bởi vì ông nhận được nó từ tổ tiên ông bà để lại.
Họ không phải là những chiến binh, nhưng là những người bệnh hoạn và hèn nhát, nhưng khi họ cần đến những người lính, họ sẽ tuyển đến từ một nơi khác, đó là những người Sarrasin. Trong đảo Seilan này còn có một ngọn núi rất cao; nó thẳng đứng và dốc đến nỗi không ai có thể leo lên, nếu như người ta không cho bố trí nhiều dây xích to lớn, nhờ đó người ta có thể leo lên đến tận đỉnh nhờ bám vào các sợi xích đó. Họ nói rằng trên ngọn núi này có đền tưởng niệm Adam, người cha đầu tiên của con người; những người Sarrasin cũng nói y như thế; những tín đồ thờ ngẫu tượng cũng nói rằng đó là đài tưởng niệm của vị tín đồ ngẫu tượng đầu tiên trên thế gian này, và tên vị đó là Sagamoni Borcam (Cakya Mouni hoặc Bouddha) mà họ cho là người tuyệt vời nhất thế gian và là Đấng Thánh theo tín ngưỡng của họ; ngài là con trai của một vị vua nổi tiếng và giàu có của họ; ngài có một cuộc sống tốt lành đến nỗi ngài không bao giờ tham gia vào những việc trần tục hoặc muốn làm vua. Khi cha ngài thấy ngài không muốn làm vua và xen vào bất cứ công việc trần tục nào, ông rất tức giận và thử thách ngài bằng những lời hứa quan trọng, nhưng ngài không muốn nghe điều gì, nên vua cha rất đau khổ, vì ông không có đứa con trai nào khác để truyền ngôi lại, sau khi ông băng hà. Sau khi suy nghĩ, nhà vua liền cho xây một cung điện to lớn và bắt buộc con trai ông phải ở trong đó, và ông cho một số lớn các trinh nữ, những cô gái đẹp nhất, để phục vụ hầu hạ cho con trai ông. Ông ra lệnh cho các cô gái vui đùa với con trai ông suốt ngày đêm. Họ hát xướng và khiêu vũ trước mặt chàng để tâm hồn chàng có thể bị những việc trần tục lôi cuốn. Chàng là một hoàng tử nghiêm nghị đến nỗi không bao giờ ra khỏi cung điện và không bao giờ nhìn thấy một người chết hoặc bất cứ người nào khác không có tứ chi lành lặn, vì vua cha không để cho chàng nhìn thấy bất cứ người khách lạ nào hoặc một người nào khác. Vì vậy, vị hoàng tử này một ngày kia cưỡi ngựa đi trên đường và nhìn thấy một người chết, liền hết sức kinh ngạc, vì không bao giờ chàng nhìn thấy bất cứ người chết nào. Chàng liền hỏi những người tùy tùng người đó là ai, họ nói với chàng đó là một người chết.
- Thế nào? Con trai nhà vua hỏi, tất cả những người đàn ông phải chết hay sao?
- Vâng, dĩ nhiên, họ phải chết.
Hoàng tử không nói gì, nhưng tiếp tục cưỡi ngựa ra đi, đầu óc trầm ngâm suy nghĩ. Sau khi đi một lúc, chàng gặp một người rất già không thể đi bộ được và không có răng trong miệng, vì tất cả các răng của ông đều rụng vì tuổi già. Khi hoàng tử nhìn thấy ông cụ, chàng hỏi chuyện gì thế và tại sao ông cụ không thể đi được. Những người tùy tùng nói rằng tuổi già cản trở ông đi bộ và tuổi già đã làm cho ông mất hết răng. Khi hoàng tử nghe những điều về người chết và lão già, chàng trở về cung điện và tự nhủ rằng không còn gì trong cõi đời u buồn này và chàng sẽ đi tìm con người không bao giờ chết. Một đêm nọ, chàng đi ra ngoài cung điện một mình và đi vào trong dãy núi biệt lập; chàng sống một cuộc sống cam go và kiêng cữ nghiêm ngặt như một tín đồ Ki tô giáo, vì nếu chàng đã có cuộc sống tốt đẹp và trung thực như thế, chàng đã là một vị thánh như Chúa Giêsu Ki tô Chúa chúng ta rồi. Khi chàng chết, người ta tìm thấy xác chàng và mang về cho vua cha. Khi người cha thấy kẻ mà mình yêu hơn chính mình đã mất, suýt chút nữa ông trở nên điên loạn vì quá đau khổ. Ông cho làm một hình tượng bằng vàng và đá quý giống hệt con trai ông và truyền cho tất cả những người dân trong nước tôn thờ hình ảnh đó. Tất cả mọi người đều cho rằng chàng là thần linh, và họ vẫn còn nói như vậy. Họ nói rằng chàng đã chết 84 lần: lần đầu tiên chàng chết trong thân phận con người, rồi trở thành bò, chàng chết với thân phận là bò, sau trở thành ngựa. Và chàng chết 84 lần, mỗi lần trong thân phận của một con vật. Lần cuối cùng, chàng chết và trở thành thần linh như lời đồn. Người ta cho chàng như là thần linh vĩ đại nhất. Theo tín đồ, thế là hình thành ngẫu tượng đầu tiên, và tất cả các ngẫu tượng khác đều xuất phát từ ngẫu tượng đó. Chuyện này xảy ra trên đảo Seilan thuộc nước Ấn Độ.
Tôi còn cho các bạn biết rằng những người Sarrasin từ rất xa đến hành hương tại nơi mộ của người, họ nói rằng đó là ngôi mộ của Adam. Những tín đồ ngẫu tượng cũng từ rất xa đến đó hành hương với lòng sốt sắng vô biên, giống như những người Ki tô giáo đến Saint Jacques miền Galice: họ cho rằng đó là con của vị vua, như tôi đã kể cho các bạn. Trên núi vẫn còn tóc, răng và cái bát của con người đã từng sống ở đó, người mà mọi người gọi là Sagamoni. Nhưng sự thật chỉ có Thiên Chúa mới biết rõ sự thể như thế nào, vì theo Kinh Thánh của Giáo hội chúng ta, đài tưởng niệm Adam không ở tại phần đất này của thế giới. Vì vậy khi Đại Hãn biết được trên ngọn núi đó có đài tưởng niệm của Adam, vị cha chung đầu tiên của con người, và người ta còn giữ ở đó tóc, răng và cái bát mà người dùng để ăn. Ông nghĩ chắc chắn ông sẽ chiếm hữu được những thứ đó. Ông phái đến đó một phái bộ ngoại giao đông đảo vào năm Chúa Ki tô 1284. Vượt qua biết bao đường bộ và đường thủy, các sứ giả đã đến tận đảo Seilan. Họ đến cung điện của nhà vua và cầu xin ông tha thiết đến nỗi cuối cùng họ cũng có hai chiếc răng cửa rất to cũng như hai sợi tóc và cái bát mà Adam đã từng sử dụng. Cái bát làm bằng đá porphyre màu xanh rất đẹp. Khi các sứ giả của Đại Hãn có được những thứ mà họ cần, họ rất đỗi sung sướng và vội quay về với Đại Hãn. Khi họ đến gần thành phố Canbaluc, nơi Đại Hãn đang ở, họ cho ông biết họ đã mang về những thứ mà ông sai họ đi tìm. Khi Đại Hãn hay tin, ông rất vui mừng và ra lệnh cho mọi người đến nghinh đón các thánh tích, vì người ta đã nói đó là các thánh tích của Adam. Nhiều người đi đón thánh tích với lòng sốt sắng vô biên. Đại Hãn tiếp nhận thánh tích một cách trang trọng và hoan hỉ vui mừng. Người ta nói với ông chiếc bát này có đặc tính là ai bỏ thịt vào trong để cho một người ăn, thì thịt sẽ có đủ cho năm người.
Đại Hãn đã làm như thế và thấy rằng điều đó là sự thật.
Không có gì khác đáng kể, chúng ta sẽ tiến tới nữa và nói về Maabar.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH LỚN MAABAR

Rời đảo Seilan rồi đi tàu theo hướng tây độ chừng 60 dặm, chúng ta sẽ gặp một tỉnh lớn tên là Maabar (đó là Maabar ở phía Tây Bắc mũi Comorin, ngày nay gọi là bờ biển Coromandel) được gọi là Đại Ấn và nằm trong đất liền. Trong tỉnh này có năm vị vua là anh em chú bác với nhau. Tôi sẽ nói với các bạn về từng người trong nhóm họ. Tỉnh này là tỉnh đẹp nhất và sang trọng nhất thế giới.
Một trong năm anh em cai trị trong thủ đô của tỉnh này, đó là vị vua được tấn phong và có tên là Senderbandi Davar. Trong vương quốc này, người ta tìm thấy những viên ngọc trai rất to và rất đẹp, và tôi sẽ cho các bạn biết người ta tìm được chúng như thế nào. Trong biển này, có một vịnh biển nằm giữa đảo Seilan và đất liền. Nơi đây, nước không sâu quá 10 đến 12 bước chân, và thậm chí, trong một vài nơi, nước không sâu quá hai bước. Những người đi khai thác ngọc trai lên thuyền đến vịnh này, từ tháng Tư đến giữa tháng Năm, trong một nơi có tên là Bettalar, ở cách đó 60 dặm. Khi đến nơi, từ tàu lớn họ bước xuống xà lan nhỏ. Họ là những nhà buôn bán họp thành những hiệp hội. Trước tiên họ phải tìm được những người làm thuê ăn lương từ tháng Tư đến giữa tháng Năm; sau đó họ phải hứa dành cho nhà vua một phần mười những thứ họ khai thác được. Họ còn phải dành một phần hai mươi của tất cả những gì họ đã đánh bắt cho những người làm mê hoặc những con cá lớn để chúng không làm hại những người lặn xuống nước tìm ngọc trai; những người làm cho cá bị mê hoặc được gọi là Abrimavans, và phép thuật của họ chỉ có tác dụng trong một ngày mà thôi, họ cũng biết mê hoặc các thú vật và chim chóc và tất cả những gì có linh hồn. Khi những người đánh bắt ở trong những chiếc xà lan nhỏ, họ nhảy ùm xuống nước và lặn xuống tận đáy sâu từ bốn đến mười hai bước chân và họ ở đó càng lâu càng tốt. Họ tìm được những vỏ ốc có ngọc trai, chúng có cấu tạo giống như những con hàu biển. Trong những vỏ ốc này, có những ngọc trai to hoặc nhỏ đủ các cỡ, vì những ngọc trai dính trong thịt của những con sò đó. Bằng cách đó người ta thu được nhiều ngọc trai, và chính từ nơi này, ngọc trai sẽ lan tràn ra khắp thế giới. Nhờ ngọc trai, nhà vua của vương quốc này thu được rất nhiều tiền thuế và nhiều kho báu khổng lồ. Một khi nửa tháng Năm qua đi, người ta không còn tìm những con sò có ngọc trai này nữa. Thật ra cách chỗ đó hơn 300 dặm, người ta cũng tìm thấy ngọc trai, nhưng phải từ tháng Chín đến giữa tháng Mười.
Trong toàn bộ tỉnh Maabar, không có thợ cắt hoặc may quần áo để cắt hoặc may những chiếc áo dài, bởi vì người dân luôn luôn sống khỏa thân. Nhưng họ bao chỗ kín của họ bằng một miếng vải, đàn ông cũng như đàn bà, người nghèo cũng như người giàu. Nhà vua cũng ăn mặc như thế, ngoại trừ ông ta mang một vật mà tôi sẽ nói cho các bạn biết sau đây. Ông ta đeo quanh cổ một vòng chuỗi fresiau xâu đầy đá quý như ru pi, xa phia, ngọc lục bảo và những loại đá quý khác, vì vậy chiếc vòng chuỗi đáng giá bằng cả một kho tàng lớn; trên ngực ông ta từ cổ xuống còn có một dây lụa mang 104 viên ngọc trai và ru-pi to, chính là vì mỗi ngày ông phải đọc 104 lời kinh nguyện cho các ngẫu tượng của mình; vì đó là ý muốn của tôn giáo và là phong tục của xứ sở, của tất cả các vị vua; tổ tiên của ông đều làm như thế và truyền dạy cho ông phải làm. Nhà vua còn mang ba vòng đeo tay bằng vàng gắn đầy ngọc trai nạm vàng rất có giá trị; ông cũng mang chúng ở chân và ngay cả ở ngón chân nữa. Tôi nói cho các bạn biết rằng những thứ mà vị vua này mang trên mình còn giá trị hơn cả một thành phố, và đó không phải là điều lạ lùng, vì ông ta có rất nhiều, và hơn nữa, người ta còn tìm thấy những thứ đó trong chính vương quốc của ông. Nên biết rằng người ta không thể đưa ra khỏi vương quốc bất cứ viên ngọc trai nào nặng hơn nữa cân, trừ khi người ta tìm thấy chúng và đưa chúng ra bên ngoài một cách lén lút. Nhà vua ra lệnh làm việc này, vì ông muốn dành tất cả cho mình; thật là chuyện khó tin. Mỗi năm, ông đều ra lệnh cho các chư hầu trong toàn vương quốc, ai có ngọc trai hoặc đá quý có giá trị lớn, nên mang chúng đến cho ông, và chúng sẽ được trả giá gấp hai lần giá thị trường; vì thế, mọi người đều vui vẻ mang ngọc, đá quý đến, ông tiếp nhận tất cả và thanh toán cho từng người một cách sòng phẳng.
Các bạn nên biết rằng vị vua này còn có 500 bà vợ, vì mỗi lần ông quen một cô gái đẹp, ông liền cưới ngay. Thậm chí ông đã làm một việc tồi tệ mà tôi sẽ nói sau đây: ông ta thấy em trai mình có một người vợ xinh đẹp, ông dùng vũ lực để chiếm lấy cô ta và giữ cho riêng mình. Em trai ông giả vờ như không nhìn thấy, và bỏ qua như một nhà hiền triết. Nhà vua này còn có rất nhiều con.
Quanh ông có nhiều quan cận thần phục vụ cho ông cũng như cưỡi ngựa đi chơi cùng ông và họ có nhiều quyền lực trong vương quốc; họ được gọi là những người trung thành với Chúa thượng. Khi vua chết, người ta đặt vua lên giàn hỏa thiêu, các vị trung thành cũng lao vào lửa cùng với ông để được thiêu cháy luôn, vì họ cho rằng, bởi vì họ đã là những bạn đồng hành với vua trên thế gian này, họ cũng phải hành động như thế để tháp tùng vua trong thế giới bên kia. Khi nhà vua băng hà, không đứa con nào dám đụng đến kho tàng của ông, vì họ nói: “Vì bố chúng tôi đã chiếm hữu và tích lũy được kho báu này, chúng tôi cũng phải tích luỹ được như thế”. Bằng cách này, một kho tàng rất lớn được hình thành trong vương quốc.
Vương quốc này không sản sinh bất kỳ một con ngựa nào, vì vậy phần lớn kho báu của vương quốc dành để mua vào những con ngựa; tôi sẽ cho các bạn biết vì sao. Nên biết rằng các lái buôn Curmos, Kisci, Dufar, Suer và Adam (tên các hải cảng nằm trên vịnh Péc xích và bờ biển Ả Rập) và những tỉnh hoặc vùng khác có nhiều ngựa và họ mang đến bán trong vương quốc của vua Maabar và vương quốc của bốn vị vua em của ông. Vì một con ngựa được bán với giá 500 saies vàng, tức là hơn 100 marcs bạc. Mỗi năm họ bán được một số lượng rất lớn. Mỗi năm nhà vua yêu cầu hơn hai nghìn con và các em trai của ông cũng muốn mua chừng đó. Lý do hàng năm họ muốn mua nhiều ngựa như thế, vì tất cả những con ngựa mà họ mua đều chết trước cuối năm, do việc trông nom không được tốt, họ không biết cách săn sóc cũng như bảo quản. Họ không có những người săn sóc ngựa giỏi, vì các lái buôn đem ngựa đến cho họ chứ không dẫn đến cho họ bất cứ một tay săn sóc ngựa nào, để khỏi bị mất mối bán, điều này mang lại mối lợi rất lớn cho các lái buôn hàng năm. Những con ngựa được chuyên chở bằng đường biển nhờ những con tàu buôn.
Trong vương quốc này có một phong tục mà tôi sẽ cho các bạn biết sau đây. Khi một người nào bị kết án tử hình vì một trọng tội nào đó, người đó sẽ tự giết mình nhân danh một ngẫu tượng nào đó và được nhà vua chuẩn y. Thế là bà con và bạn bè của y bắt y đặt lên một chiếc xe kéo, cho y 12 con dao và đưa y diễu qua thành phố đồng thời la to:
- Người đàn ông can đảm này muốn tự kết liễu đời mình vì tình yêu đối với ngẫu tượng X.
Khi họ đi đến nơi để thực hiện công lý, tội nhân nắm lấy con dao và vừa đâm vào giữa cánh tay vừa hét to lên:
- Tôi chết vì tình yêu đối với ngẫu tượng X.
Sau đó, y lấy một con dao khác và tự đâm vào giữa cánh tay kia; rồi với một con dao khác, y tự đâm vào bụng; và cứ như thế, y đâm cho đến khi nào y chết mới thôi. Khi y chết, các bà con đưa xác đi hỏa táng trong niềm vui to lớn và hân hoan. Có những người phụ nữ khi chồng chết và được hỏa táng cũng nhảy lên giàn thiêu để được hỏa táng luôn cùng chồng; các phụ nữ nào làm việc đó đều được mọi người khen ngợi hết lời.
Họ là những tín đồ ngẫu tượng và nhiều người trong số họ thờ bò, vì họ cho rằng bò là một con vật rất tốt, nhưng họ không ăn thịt bò và không giết nó với bất cứ giá nào. Tuy nhiên, có một dân tộc được gọi là Goui, họ ăn thịt bò nhưng không dám giết nó; nhưng khi một con bò chết bệnh hoặc chết vì một lý do nào đó, họ có thể ăn được.
Nên biết rằng tất cả các nhà trong xứ thoa mỡ bò lên nhà họ. Nhà vua, tất cả các quan, tất cả những người lớn cũng như nhỏ không ngồi trên thứ gì khác hơn là ngồi xuống đất: họ cho rằng l&ag
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện