DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 11

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH ZARDANDAN

Đi ngựa từ Caraian về hướng Tây trong năm ngày (đúng ra là về hướng Nam; tỉnh Zardandan nằm ở phía Nam Caraian, ở biên giới Miến Điện và Bắc Việt Nam hiện nay), chúng ta gặp tỉnh có tên là Zardandan. Dân cư thờ ngẫu tượng và là thần dân của Đại Hãn. Thành phố chính tên là Vocian (Young Tchang). Những người dân vùng này đều có bộ răng vàng chóe, tức là mọi người đều có những chiếc răng bịt vàng; họ làm những miếng vàng theo hình của những chiếc răng và dùng chúng để bọc răng lại, răng hàm trên cũng như răng hàm dưới. Theo phong tục của họ, tất cả những người đàn ông đều là những kỵ sĩ và không làm việc gì khác ngoài việc đi ra trận, săn bắn và bẫy chim. Phụ nữ và những người nô lệ do họ chiếm được ở những nơi khác làm toàn bộ những công việc còn lại. Khi những người phụ nữ sinh con, họ tắm rửa cho trẻ, đặt nó trong tã quấn, họ xuống giường và lo công việc nội trợ, trong khi chồng phải ở trên giường, nằm bên cạnh đứa con và ngủ chung với nó trong vòng bốn mươi ngày; tất cả họ hàng và bạn bè của người chồng đến thăm, chúc mừng và an ủi y. Họ làm điều này, bởi vì họ cho rằng, nếu người vợ đã chịu đau đớn vì sinh nở, điều hợp lý là người chồng cũng phải chịu cực khổ với phần việc của mình.
Họ ăn tất cả các loại thịt sống hoặc nấu chín, và ăn cơm với thịt luộc tùy theo phong tục của họ. Họ uống một thứ rượu rất ngon do họ làm bằng gạo và gia vị. Tiền tệ của họ là vàng, nhưng họ cũng dùng ốc làn. Họ đánh giá một cân vàng bằng năm cân bạc bởi vì họ không có một mỏ bạc nào ở gần họ dưới năm tháng đi đường; các nhà buôn cũng mang đến cho họ nhiều bạc và nhờ đó, họ kiếm được nhiều nguồn lợi nhờ đổi bạc lấy vàng.
Họ không có ngẫu tượng hoặc nhà thờ, nhưng họ thờ người già nhất trong nhà, vì họ cho rằng họ xuất thân từ con người đó. Họ không có chữ viết và điều này cũng không phải là chuyện lạ, vì họ ở trên những con đường rất biệt lập, trong những nơi rất hoang vắng, trong rừng rậm và những dãy núi lớn nơi không ai qua lại vì không khí độc và ô nhiễm đến nỗi không người lạ nào thoát khỏi tay tử thần. Khi họ trao đổi hàng hóa, họ lấy một miếng gỗ tròn hoặc vuông, chẻ nó ra, và họ khắc hai ba vết trên mỗi một nửa. Khi họ trả lại tiền, họ lấy lại chiếc que của người đang giữ nó.
Tôi cho các bạn biết rằng, ba tỉnh này, tức là Caraian, Vocian và Jaci không có một vị thầy thuốc nào. Khi có người bệnh, họ cho mời các thuật sĩ là những người bảo vệ các ngẫu tượng đến. Khi họ đến, những người bệnh kể cho họ biết về căn bệnh. Khi người bệnh kể xong, các thuật sĩ liền khua vang các nhạc cụ và bắt đầu hát và nhảy múa cho đến khi một người trong bọn họ ngã xuống đất như ngất đi hoặc chết: đó là quỷ đã nhập vào cơ thể y. Khi các đồng nghiệp nhìn thấy y đang trong tình trạng như vậy, họ bắt đầu hỏi dò y về căn bệnh; y liền trả lời:
- Một hồn ma nào đó đã nhập vào hắn, bởi vì hắn đang làm cho hồn ma tức giận và khó chịu.
Các thuật sĩ khác lên tiếng:
- Chúng tôi van xin hồn hãy tha thứ cho anh ta và nhận lấy của anh ta điều mà hồn muốn, để tẩy uế cho máu của anh ta hoặc những thứ khác nữa.
Sau khi họ đã van nài khẩn thiết, hồn ma tinh ranh đang nhập trong thân xác của vị thuật sĩ đã ngã xuống đất đáp:
- Bệnh nhân này đã hành động không tốt đối với một hồn ma khác, và hồn ma ấy dữ tợn đến mức không muốn tha thứ với bất cứ lý do nào.
Câu trả lời này diễn ra khi bệnh nhân phải chết. Khi bệnh nhân có thể khỏi bệnh, hồn ma bảo họ bắt hai hoặc ba con cừu; họ còn phải sắm mười hoặc mười hai loại thức uống rất đắt tiền, rất ngon và được nêm nhiều thứ gia vị; những con cừu phải có đầu đen hoặc một màu nào mà người lên đồng chỉ định; người ta phải hiến tế những thứ đó cho hồn; hơn nữa, phải có một số thuật sĩ nào đó và một số phụ nữ cùng ở với họ; tất cả những việc làm này được tiến hành cùng với những kinh ca ngợi và những bài hát, dưới ánh đèn nến sáng và hương trầm thơm bay ngào ngạt. Hồn ma trả lời họ như thế khi bệnh nhân có thể hết bệnh. Một khi những người bà con của bệnh nhân nghe những lời nói trên, họ liền làm tất cả những gì được yêu cầu. Vị thuật sĩ đã nói xong liền đứng dậy. Những người bà con vội đi bắt giết những con cừu có màu như vị thuật sĩ lên đồng đã truyền, và rưới máu ở những nơi hồn đã chỉ để hiến tế và tôn vinh hồn. Sau đó, họ cho nấu nướng những con cừu ngay trong nhà bệnh nhân. Đến với họ còn có một số thuật sĩ và phụ nữ đã được thông báo. Khi tất cả đều tụ hợp đông đủ và mọi thứ đã được chuẩn bị xong, họ bắt đầu đánh đàn, khiêu vũ và ca hát để ngợi khen một hồn ma nào đó. Họ lấy nước ép thịt, thức uống và gỗ cây lô hội cùng với hương thơm và đèn nến lớn, họ đi tưới chỗ này chỗ nọ nước ép, thức uống cũng như thịt cừu. Khi họ đã làm mọi việc đó trong một thời gian nhất định, một trong số các thuật sĩ ngã xuống đất một lần nữa và nằm im, miệng sùi bọt mép. Những thuật sĩ khác lại hỏi y bệnh nhân có được tha thứ hay không; có khi y trả lời rằng có, đôi khi trả lời không. Khi người bệnh không được tha thứ, hồn ma nói với họ nên làm lại việc này việc nọ theo hồn ra lệnh và sau đó người bệnh sẽ được tha. Khi tất cả những điều hồn ra lệnh đã thực hiện xong, hồn nói là bệnh nhân được tha thứ và sẽ khỏi bệnh nay mai. Khi nào nhận được câu trả lời này, họ nói là hồn ma hài lòng và được thỏa mãn. Họ bắt đầu ăn uống trong niềm hân hoan vui mừng. Người thuật sĩ đã ngã xuống đất như bị hôn mê liền ngồi dậy và ăn uống cùng với họ. Khi đã ăn uống no nê, mỗi người lại đi về nhà. Người bệnh liền ngồi dậy hoàn toàn mạnh khỏe và được khỏi bệnh.
Tôi đã kể cho các bạn về những lối sống và những phong tục không hay của dân cư tỉnh Zardandan, bây giờ tôi sẽ nói với các bạn về những tỉnh khác một cách rõ ràng theo thứ tự sau đây.

ĐẠI HÃN XÂM CHIẾM CÁC VƯƠNG QUỐC MININ VÀ BANGALA NHƯ THẾ NÀO?

Chúng tôi đã quên kể một trận chiến rất ác liệt ở Vocian, trong tỉnh Zardandan. Năm Chúa Ki tô 1272, Đại Hãn gởi một đội quân lớn đến vương quốc Vocian và Caraian để chống lại những người dân xấu xa đang gây thiệt hại cho ông. Cho đến lúc đó, ông chưa gởi bất cứ đứa con nào của ông đến với tư cách là lãnh chúa, như ông đã làm từ trước đến giờ: vì ông đã phong Senetemur làm vua, ông này là con trai của người con trai đã chết của Đại Hãn. Vì vậy, vua xứ Minin và Bangala (tương ứng với nước Miến Điện và Băng Gan hiện nay), vị vua đầy quyền lực về đất đai, kho tàng và cư dân, vẫn chưa phục tùng Đại Hãn; nhưng không bao lâu nữa, Đại Hãn sẽ chinh phục và chiếm đoạt hai vương quốc nói trên. Khi vua xứ Mien (Minin) và xứ Bangala biết tin quân đội của Đại Hãn đã đến Vocian, ông tuyên bố mình là chủ và sẽ tiêu diệt toàn bộ quân đội của Đại Hãn, để ông này không bao giờ còn ý đồ đưa quân đội đến nước ông. Ông liền tổ chức một đội quân gồm binh lính trang bị đầy đủ vũ khí và hai ngàn con voi rất to lớn, mỗi con mang trên lưng một pháo đài bằng gỗ rất kiên cố để chiến đấu cùng với mười hai hoặc mười sáu lính trang bị vũ khí đầy đủ trong pháo đài. Ông ta còn có sáu mươi ngàn lính ngựa và lính bộ. Ông còn cho thiết lập một bộ máy chiến tranh hùng hậu để chứng tỏ ông là vị lãnh chúa hùng mạnh.
Sau khi đã chuẩn bị kỹ lưỡng để chiến đấu chống lại những người Tacta, vị vua này không cần chờ đợi gì cả, nhưng vội vàng mở chiến dịch tấn công ngay. Ông cho tiến quân, nhưng không gặp bất cứ cuộc phiêu lưu nào đáng kể; ông đến cách quân của Đại Hãn ba ngày đường, lúc quân của Đại Hãn còn ở bên ngoài thành Vocian. Ông dựng trại tại đây để cho quân lính nghỉ ngơi dưỡng sức.
Khi thủ lĩnh của quân đội Tácta biết rằng nhà vua đến tấn công ông với một quân số rất đông, ông tỏ ra bối rối, bởi vì ông chỉ có mười hai ngàn lính ngựa; nhưng ông là người không mắc sai sót, một chiến binh rất dũng cảm, khôn ngoan và dày dạn chiến trường đồng thời còn là một vị chỉ huy rất cừ: ông tên là Nescradin. Ông tập trung và cảnh báo kỹ cho quân lính dưới quyền; ông dự trù mọi biện pháp để bảo vệ quân đội cũng như chính ông, vì ông đang nắm trong tay những người lính chiến đấu rất giỏi. Bạn nên biết rằng quân đội Tácta gồm mười hai ngàn người trang bị tốt, họ đến tấn công kẻ thù trong đồng bằng Vocian theo từng nhóm và đang chờ giao chiến; đây là điều mang ý nghĩa to lớn và có sự lãnh đạo tài tình, vì gần họ có một cánh rừng lớn cây cối um tùm. Đó là cách mà quân đội Tácta chờ đợi địch trong đồng bằng.
Chúng tôi sẽ không nói đến quân lính Tácta một lúc, vì chúng tôi sẽ trở lại sau, bây giờ chúng ta hãy nói đến quân địch.
Khi vua xứ Mien cho quân hạ trại và nghỉ ngơi xong, từ nơi đóng quân, ông hạ lệnh tiến đến đồng bằng Vocian, nơi quân Tácta đã bố trí đâu ra đấy. Khi họ đến đồng bằng cách quân địch một dặm, nhà vua cho dựng các pháo đài trên tất cả các con voi trận, và cho quân vào bên trong để chiến đấu; sau đó, ông cho bố trí lính bộ và lính ngựa rất khôn khéo, vì ông là vị vua rất khôn ngoan từ trước đến giờ. Khi mọi việc đã được hoàn tất, ông bắt đầu hạ lệnh tấn công. Khi nhìn thấy họ, những người Tácta giả vờ như không sợ gì và vẫn tiến lên trong vòng trật tự. Khi họ đến gần và chỉ còn cách là giao chiến, những con ngựa của quân lính Tácta trông thấy những con voi liền kinh hãi đến nỗi người ta không thể thúc chúng tiến về phía quân thù, vì lần nào chúng cũng đều tháo chạy. Vua xứ Mien cùng toàn bộ quân lính và voi của ông luôn tiến thẳng về phía trước.
Đứng trước cảnh tượng đó, những người Tácta rất tức giận, nhưng không biết phải nói hoặc làm điều gì, vì họ biết rõ, nếu họ không thể đưa những con ngựa ra trận, họ sẽ bị thất bại hoàn toàn. Nhưng chỉ huy của họ hành động một cách rất khôn ngoan, như một người biết lo liệu mọi thứ. Ông liền ra lệnh cho từng người xuống ngựa, cột các con ngựa vào các gốc cây trong rừng bên cạnh và cầm lấy cung tên, những thứ mà họ biết cách sử dụng thành thạo hơn bất cứ quân lính nào trên thế gian này. Họ giương cung và bắn hàng loạt mũi tên vào những con voi đang hùng hổ tiến tới, khiến cho một số lớn voi và quân địch bị thương và bị giết trong một thời gian ngắn. Quân địch cũng bắn vào những người Tácta, nhưng quân Tácta được trang bị tốt hơn và bắn cung giỏi hơn.
Và tôi sẽ nói với các bạn điều gì nữa đây? Khi những con voi cảm thấy đau đớn vì những mũi tên bắn như mưa vào chúng, chúng vội tháo lui chạy trốn và không dám tiến công những người Tácta nữa. Chúng vừa chạy trốn vừa rống lên inh ỏi gây ra tổn thất lớn đến nỗi tất cả như bị tan tành trong vực thẳm; chúng chạy tán loạn vào khắp nơi trong cánh rừng, đồng thời giật đứt yên cương và làm gẫy đổ các pháo đài, làm hỏng và tàn phá tất cả mọi thứ trên đường chạy. Khi nhìn thấy những thớt voi chạy trốn và không còn quay lại trận địa vì bất cứ lý do nào, quân lính Tácta liền nhảy lên ngựa và phi thẳng về phía quân thù. Họ bắt đầu giao chiến một cách ác liệt với gươm giáo và chùy, họ tiến đánh hết lớp này đến lớp khác một cách hăng hái, phóng ra những cú đánh như trời giáng; cho dù quân lính của nhà vua đông đảo hơn quân lính Tácta, chúng cũng không phải là những chiến binh thiện chiến hoặc quen với trận mạc, nếu không những người Tácta với quân số rất ít sẽ không thể nào chống cự lại họ được. Người ta có thể thấy quân của cả hai phía vùng lên và đón nhận những nhát gươm, những cú chùy, giết các kỵ sĩ, ngựa và đội trưởng, cắt rời cánh tay, bàn tay, đùi và đầu; nhiều người ngã xuống đất chết hoặc bị thương, họ không bao giờ đứng lên nổi nữa, vì áp lực lớn lao đang đổ ập xuống trên người họ. Tiếng la hét ồn ào inh tai nhiếc óc nổi lên ở cả hai phía khiến không ai có thể nghe thấy thần Sấm sét nữa. Cuộc hỗn chiến diễn ra rất ác liệt, tàn bạo, nguy hiểm từ cả hai phía; nhưng những người Tácta lại khỏe hơn. Đối với nhà vua và quân lính của ông, cuộc chiến này đã bắt đầu trong cảnh bất hạnh, vì có rất nhiều người bị giết. Khi trận chiến kéo dài đến tận trưa, quân lính của nhà vua không thể chống cự lại sức mạnh của những người Tácta được nữa, nhưng họ bắt đầu đại bại và quay đầu chạy trốn. Khi nhìn thấy họ thất trận, quân Tácta liền đuổi theo họ, chém giết và tàn sát họ một cách dã man đến nỗi thấy thương xót cho họ. Khi rượt đuổi quân địch trong một lúc, họ liền ngừng lại và quay lại cánh rừng để truy tìm những con voi đang lẩn trốn trong đó. Họ buộc phải triệt hạ những cây to để chặn đường tóm bắt chúng; dù vậy, họ không thể bắt được chúng nếu như không có các tù binh của họ rành về voi hơn họ giúp đỡ, vì voi có sự hiểu biết cừ hơn các loài vật khác. Nhờ vậy, quân Tácta bắt lại được hơn hai trăm con. Chính nhờ cuộc chiến này mà Đại Hãn bắt đầu có được nhiều voi.
Nhà vua đã bị đánh bại bởi sự khéo léo, bình tĩnh của những người Tácta như các bạn đã biết.

NGƯỜI TA ĐI XUỐNG MỘT ĐƯỜNG DỐC DÀI NHƯ THẾ NÀO?

Đi từ thành phố mà tôi đã kể cho các bạn, chúng ta gặp được một con dốc dài độ hai ngày rưỡi đi ngựa. Qua suốt con dốc này, không có gì đáng để kể lại, ngoại trừ một địa điểm rộng thỉnh thoảng có diễn ra chợ phiên quan trọng ở đó. Tất cả dân cư trong các vùng lân cận đến đó vào một vài ngày nhất định và họp chợ ba ngày mỗi tuần. Họ trao đổi vàng để lấy bạc, vì họ có rất nhiều vàng: họ ấn định một cân vàng ròng bằng năm cân bạc ròng. Các nhà buôn của nhiều vùng cũng mang đến đó bạc để đổi lấy vàng của dân cư, nhờ đó các nhà buôn thu về nhiều lợi nhuận rất đáng kể. Dân cư của vùng này mang vàng đến chợ, và không ai biết nhà họ ở đâu, bởi vì họ ở trong những nơi hoang dã, vì sợ những kẻ xấu; không ai có thể làm hại họ, vì nhà cửa của họ ở những nơi hiểm trở và hoang dã. Họ không muốn bất cứ ai đi cùng với họ để biết nơi ở của họ.
Khi cưỡi ngựa đi trong hai ngày rưỡi để xuống con dốc, người ta bắt gặp một tỉnh ở về phía Nam và khá gần với nước Ấn Độ. Người ta gọi đó là tỉnh Amien. Người ta cưỡi ngựa mười lăm ngày qua những vùng hoang mạc và những cánh rừng lớn, ở đó có nhiều voi và những loài thú một sừng (có thể là tê giác) và những loài thú hoang dã khác. Không có người cũng như nhà cửa; vậy chúng ta hãy bỏ qua nơi hoang dã này, vì không có gì cần ghi nhớ, và chúng tôi sẽ kể cho các bạn câu chuyện sau đây.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ MIEN

Khi đã cưỡi ngựa mười lăm ngày qua những nơi hoang vắng đến nỗi khách bộ hành nên mang theo lương thực, vì không có bất cứ ngôi nhà nào, chúng ta bắt gặp thành phố chính của tỉnh Mien, thành phố này cũng có tên là Mien, nó rộng lớn và sang trọng. Dân cư thờ ngẫu tượng, có ngôn ngữ riêng và là thần dân của Đại Hãn. Trong thành phố này có một vật rất quý giá mà tôi sắp kể cho các bạn sau đây. Thật ra xưa kia ở đây có một vị vua giàu có và đầy thế lực cai trị. Khi gần chết, ông ra lệnh xây hai ngọn tháp trên mộ của ông, một tháp bằng vàng và một tháp bằng bạc. Chúng được xây bằng đá, một cái được dát vàng, dày bằng bề ngang một ngón tay, để toàn bộ ngôi tháp trông như bằng vàng thật, một cái bằng bạc và làm như cái bằng vàng để nó y như toàn bằng bạc. Mỗi cái tháp cao bằng mười bước chân. Đỉnh thật tròn và xung quanh có những chiếc chuông nhỏ mạ vàng ở tháp vàng và mạ bạc ở tháp bạc; mỗi khi có gió thổi qua, những chiếc chuông bắt đầu reo lên. Nhà vua cho làm những chiếc tháp vàng để làm rạng danh cho ông, vì đó là một trong những thứ đẹp nhất thế giới, được xây dựng công phu, đẹp sang trọng, và có giá trị rất lớn. Khi mặt trời chiếu vào tháp, chúng sáng rực lên khiến cho từ rất xa, người ta cũng nhìn thấy chúng. Đại Hãn chiếm đoạt chúng bằng cách này. Nên biết rằng trong triều đình của Đại Hãn, có một số đông những người làm trò và ảo thuật. Một ngày nọ, Chúa thượng nói với họ là ông ta muốn họ đi chiếm tỉnh Mien này, và ông sẽ sẳn sàng giúp đỡ họ và cho họ nắm quyền lãnh đạo. Họ đáp sẽ bằng lòng làm chuyện này. Đại Hãn cho chuẩn bị những thứ cần thiết cho một đội quân, ban cho họ một vị chỉ huy và một đội vũ trang hộ tống; thế là họ lên đường; họ đến tỉnh Mien và chiếm toàn bộ tỉnh này. Khi họ tìm thấy trong thành phố này hai cái tháp bạc và vàng như tôi đã kể, họ hết sức kinh ngạc và trình việc này lên Đại Hãn để hỏi ý kiến ông về hai chiếc tháp, vì sự giàu có nằm ở trên tháp. Đại Hãn biết rõ nhà vua đã cho xây chúng làm lăng mộ của vua, và để cho mọi người tưởng nhớ đến vua sau khi ông qua đời, ông nói ông không muốn phá hủy chúng, nhưng nên để chúng lại nguyên trạng. Đây không phải là điều gì lạ, bởi vì không có người Tácta nào trên thế giới tự ý đụng vào bất cứ thứ gì có liên quan đến cái chết.
Trong tỉnh này còn có nhiều voi, bò rừng, nai có dáng đẹp, hoẵng, dê con cũng như những loài thú hoang khác.
Bây giờ tôi sẽ kể cho các bạn về một tỉnh khác gọi là Bangala.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH BANGALA

Bangala là một tỉnh ở về hướng Nam. Trong năm Chúa Ki tô 1290, khi Ngài Marco Polo đang ở triều đình của Đại Hãn, tỉnh này chưa bị chiếm đóng, nhưng thỉnh thoảng các đội quân của Đại Hãn đi đến đó để nắm quyền. Nên biết rằng tỉnh này có ngôn ngữ riêng, dân cư thờ ngẫu tượng và rất hung dữ. Họ ở rất gần với nước Ấn Độ. Họ có nhiều hoạn quan. Hoạn quan của tất cả các cận thần đều tuyển từ tỉnh này. Họ có những con bò cao như những con voi, nhưng không quá mập. Họ sống bằng thịt, sữa và gạo. Họ trồng bông vải và buôn bán lớn về mặt hàng này. Họ cũng có nhiều gừng, đường và các thứ gia vị khác. Những người Ấn Độ đến đây tìm những người bị hoạn, cũng như những người nô lệ nam nữ mà những người Bangala đã chiếm đoạt trong những tỉnh gây chiến tranh với họ: họ bán chúng cho những lái buôn Ấn Độ và những nước khác, và những người này lại bán chúng đi khắp thế giới. Trong vùng này không còn thứ gì khác đáng ghi nhớ; vậy chúng ta sẽ bỏ qua nó và nói đến một tỉnh khác có tên là Cancigu.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH CANCIGU

Cancigu (có lẽ ở biên giới Miến Điện và Thái Lan hiện nay) là một tỉnh ở về hướng Đông. Họ có một vị vua cai trị, họ thờ ngẫu tượng và có ngôn ngữ riêng. Họ bị Đại Hãn thống trị và phải nộp cống cho ông hàng năm. Vị vua của họ dâm đãng đến nỗi ông ta có hơn ba trăm bà vợ, vì khi có một phụ nữ đẹp nào đó trong vùng, ông liền cho bắt lấy và cưới luôn làm vợ. Trong tỉnh này có nhiều vàng; dân cư cũng có nhiều loại thực phẩm khô, nhưng vì họ ở quá xa biển, hàng hóa không đáng giá bao nhiêu, mặc dù họ buôn bán lớn. Họ có nhiều voi và nhíều loài thú khác. Họ săn thịt thú rất nhiều. Họ sống bằng thịt, sữa và gạo; rượu của họ được làm bằng gạo và những thứ gia vị hảo hạng. Tất cả dân cư đều trang trí cơ thể bằng cách dùng kim xâm hình sư tử, rồng, chim và nhiều hình khác đến nỗi chúng không bao giờ bị xóa mất được; họ xâm hình trên mặt, cổ, ngực, cánh tay, bàn tay, bụng và toàn thân thể. Họ làm việc đó để làm tăng thêm phần duyên dáng, những người nào có nhiều hình xâm nhất được coi như là những người đẹp nhất.
Bây giờ chúng ta sẽ bỏ qua tỉnh này và nói về một tỉnh khác có tên là Amu, nằm về hướng Đông.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH AMU

Amu (đúng ra là Aniu, tức là Annam hoặc Việt Nam hiện nay) là một tỉnh ở về phía Đông. Dân cư thờ ngẫu tượng và thần phục Đại Hãn. Họ sống bằng nghề chăn nuôi gia súc và trồng trọt. Họ có ngôn ngữ riêng. Phụ nữ mang ở chân và cánh tay những vòng vàng bạc rất có giá trị, đàn ông cũng mang những thứ này, nhưng có giá trị lớn hơn. Họ có nhiều ngựa và bán cho người Ấn Độ với số lượng rất lớn, nhờ đó việc buôn bán rất phát đạt. Họ còn có rất nhiều trâu và bò, bởi vì họ có những đồng cỏ và những nơi chăn thả rất tốt. Nhu yếu phẩm của họ rất dồi dào cho đời sống.
Bạn nên biết rằng từ Amu đến Cancigu, chúng tôi phải đi mất mười lăm ngày; và từ Cancigu đến Bangala phải mất ba mươi ngày. Vì vậy từ Amu chúng tôi sẽ đi về phía một tỉnh khác ở xa hơn tám ngày và vẫn nằm về hướng Đông.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH TOLOMAN

Toloman (giáp giới với Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông Bắc Hà Nội) là một tỉnh ở về phía đông. Dân chúng thờ ngẫu tượng, có ngôn ngữ riêng và thần phục Đại Hãn. Họ là những người xinh đẹp, da không trắng lắm nhưng có màu nâu. Họ là những người chiến đấu giỏi. Họ có nhiều thành phố và thị trấn. Khi có người chết, họ cho hỏa táng, lấy xương và bỏ vào trong những chiếc hòm nhỏ; sau đó họ để các hòm đó trong các hang trên các dãy núi cao và để tại đó sao cho thú dữ và người không thể với tới được. Xứ sở này còn có nhiều vàng. Tiền tệ họ dùng là ốc làn như tôi đã nói. Tất cả các tỉnh khác, tức là Bangala, Cancigu và Amu đều sử dụng ốc làn và vàng để trao đổi. Có những nhà buôn rất giàu có, họ chuyên chở rất nhiều hàng hóa. Họ sống bằng thịt, sữa và gạo. Họ làm rượu bằng một thứ nước làm từ gạo và những thứ gia vị ngon.
Chúng tôi sẽ bỏ qua tỉnh này vì không có gì cần ghi nhớ thêm, và tôi sẽ nói về một tỉnh khác ở về hướng đông và có tên là Ciugiu.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH CIUGIU

Ciugiu (có thể là ở Tây Bắc, ở Kouei Tchéou) là một tỉnh ở về hướng Đông. Cưỡi ngựa đi từ Toleman trong 12 ngày, dọc theo một con sông, chúng ta gặp nhiều thành phố và thị trấn; nhưng không có thứ gì quan trọng để ghi nhớ. Đi ngựa trong 12 ngày dọc theo con sông này, chúng ta đến một thành phố có tên là Cinugul rất lớn và rất sang trọng. Cư dân thờ ngẫu tượng và thần phục Đại Hãn. Họ sống về nghề buôn bán và thủ công. Họ làm ra vải bằng vỏ cây rất đẹp để mặc vào mùa hè. Họ là những chiến binh cừ khôi; họ dùng giấy các tông làm tiền tệ, vì chúng ta đang ở trong lãnh thổ mà mọi người đều dùng giấy các tông của Đại Hãn. Ở đây có rất nhiều sư tử, nên không ai dám ngủ bên ngoài vào ban đêm; thậm chí khi người ta đi ban đêm trên con sông này, nếu không đi xa bờ lắm, những con sư tử cũng đến tận thuyền và đớp lấy tất cả những người chúng tóm được. Nếu người dân không có ai giúp đỡ như tôi sắp nói ra đây; không ai có thể đi bộ ngang qua tỉnh này vì có rất nhiều sư tử, chúng rất to lớn và rất hung dữ. Nhưng người dân cũng có những con chó to trông rất dữ tợn và can đảm đến nỗi khi có hai con ở chung, chúng tấn công sư tử ngay. Vì vậy, mỗi khi người dân đi bộ, họ thường dẫn theo hai con chó một lượt. Khi nhìn thấy sư tử, chúng nhào tới tấn công rất liều mạng. Sư tử cũng tự vệ chống lại những con chó, nhưng chó cũng biết lẩn tránh không cho sư tử chạm vào chúng; chúng chạy quanh sư tử, vừa sủa vừa cắn vào đuôi, đùi và bất cứ chỗ nào mà chúng có thể chộp được. Sư tử tỏ vẻ dửng dưng, nhưng thỉnh thoảng nó cũng đối mặt với những chú chó rất dữ tợn và nếu nó chộp được chúng, nó sẽ giết chết ngay, nhưng chó cũng biết lẩn tránh thật tài tình. Để tránh bị chó tấn công, sư tử thường chạy vào một cánh rừng tìm một gốc cây để làm chỗ dựa sao cho những chú chó không thể tấn công nó từ phía sau. Khi thấy sư tử đang ở tư thế tự vệ, người đi đường thường giương cung lên bắn, vì họ bắn cung rất cừ, họ làm nó ngán vì những mũi tên khiến nó ngã lăn ra đất mà chết. Những người đi đường tự giải thoát khỏi sư tử bằng cách đó.
Họ có nhiều lụa và những hàng hóa khác mà họ mang từ thượng lưu xuống hạ lưu. Chúng ta cưỡi ngựa đi dọc theo sông này trong 12 ngày và đồng thời gặp nhiều thành phố có dân cư thờ ngẫu tượng và thần phục Đại Hãn. Họ sống bằng nghề buôn bán và thủ công và dùng giấy các tông làm tiền tệ. Sau khi đi ngựa mất 12 ngày, chúng ta đến thành phố Sindafu mà chúng tôi đã nhắc đến. Từ Sindafu, vượt qua các tỉnh và thành phố trong 70 ngày, chúng ta sẽ đến Ciugiu đã được mô tả rõ ràng trong quyển sách này. Từ Ciugiu, đi mất bốn ngày đường, chúng ta đến thành phố Cianfu ở phía Nam và thuộc về tỉnh Catay.
Bây giờ chúng ta sẽ khởi hành từ đây và đi ngựa ba ngày theo hướng Nam để đến một thành phố có tên là Cinaglu.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ CINAGLU

Cinaglu (Tchang Tchéou) vẫn còn là một thành phố rất lớn ở về phía Nam. Nó nằm dưới quyền của Đại Hãn và thuộc tỉnh Catay. Người dân thờ ngẫu tượng và cho hỏa táng người chết. Họ dùng giấy các tông làm tiền tệ. Trong thành phố này, người ta sản xuất nhiều muối, tôi sẽ nói với các bạn vì sao. Họ khai thác một loại đất rất mặn và vun thành đống lớn; trên đống đất này, họ đổ khá nhiều nước để nước ngấm xuống phía dưới; sau đó họ thu lại nước thoát ra từ đống đất này và đổ vào trong những chiếc chảo lớn bằng sắt và đun sôi thật kỹ; sau đó họ để nó nguội lại và thu được một loại muối thật trắng và mịn. Người ta mang muối này đến bán cho nhiều tỉnh quanh vùng, nhờ đó họ thu được nhiều lợi nhuận.
Không có gì khác để ghi nhớ, vì vậy chúng ta sẽ đi xa hơn năm ngày nữa, nơi có một thành phố mang tên Ciangli.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ CIANGLI

Ciangli (trong tỉnh Chantoung, cách Bắc Kinh 350 km về phía Nam) là một thành phố của Catay, ở về phía Nam và thần phục Đại Hãn.
Dân cư thờ ngẫu tượng và dùng giấy các tông làm tiền tệ. Thành phố có một con sông rộng lớn chảy ngang qua; trên sông này người ta chở từ thượng lưu xuống hạ lưu rất nhiều hàng lụa, gia vị và những thứ đắt tiền khác.
Chúng ta sẽ đi trong sáu ngày về hướng Nam để đến một thành phố khác có tên là Condinfu.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ CONDINFU

Condinfu (có thể là Tsinanfu, thủ phủ của Chantoung) là một thành phố rất lớn và xưa kia là một đại vương quốc; nhưng Đại Hãn xâm chiếm nó bằng vũ lực. Đó là một thành phố sang trọng nhất của tất cả các vùng này. Thành phố có rất nhiều nhà buôn làm ăn lớn. Họ có rất nhiều lụa. Họ còn có những khu vườn rất đẹp, rất thú vị và đầy những trái cây ngon. Thành phố Condinfu còn đứng đầu mười một thành phố trực thuộc hoàng gia rất giàu có nhờ có nền thương mại quan trọng và nguồn lợi cao, vì chúng sản xuất rất nhiều lụa. Để bảo vệ các thành phố này, năm Chúa Ki tô 1273, Đại Hãn đã phái đến đây một quan cận thần của ông tên là Litam Sangou cùng với 80 ngàn lính ngựa. Khi vị chỉ huy và đội quân ở đó một ít thời gian, ông hành xử như một kẻ bất trung và phản bội bằng cách xúi giục những thân hào nhân sĩ trong tỉnh nổi loạn chống lại Đại Hãn. Họ đã hành động như thế vì không muốn thần phục Đại Hãn nữa. Họ bầu Litam lên làm người chỉ huy của họ, người mà Chúa thượng phái đến để bảo vệ họ. Khi nhận biết tin này, Đại Hãn vội phái đến hai quan cận thần của ông là Aguil và Mongatai. Ông giao cho họ 100 ngàn lính ngựa và một số lớn lính bộ. Tôi sẽ nói điều gì nữa đây? Các bạn nên biết rằng hai quan cận thần đưa quân tấn công Litam, tên phản bội, và tất cả những người trong tỉnh đã đồng lõa với ông, tức là hơn 100 ngàn lính ngựa và nhiều lính bộ. Litam và quân lính của ông bị đánh bại dưới tay quân của hai vị cận thần do Đại Hãn phái đến. Khi Đại Hãn nhận được tin này, ông tỏ ra rất hài lòng và ra lệnh tử hình tất cả những người nổi loạn và xúi giục nổi loạn, nhưng tha thứ cho những người dân bình thường. Vì vậy hai vị cận thần ra lệnh giết tất cả những người cầm đầu cuộc nổi loạn, còn những người dân bình thường đều được tha thứ. Từ lúc đó, họ luôn tỏ ra tử tế và trung thành với Đại Hãn.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ SINGUIMATU

Từ Condinfu đi ngựa về phía Nam trong ba ngày, chúng ta gặp nhiều thành phố và thị trấn sang trọng rộng lớn, có nền thương mại và thủ công quan trọng, ở đó có đủ loại thú săn, và nhiều loại hàng hóa. Sau ba ngày đường, chúng ta gặp thành phố sang trọng Singuimatu (This Ning Tchéou, trong tỉnh Chan Toung), đó là một thành phố rất đẹp và giàu có, có nền thương mại và thủ công quan trọng. Dân cư có được một con sông, nhờ đó họ thu về một nguồn lợi lớn. Con sông này chảy từ phía Nam đến thành phố Singuimatu. Dân cư thành phố đã đào hai nhánh sông đưa nước từ sông lớn này vào một nhánh chảy về phía đông, và vào một nhánh chảy về phía Tây, tức là một nhánh hướng về Mangi, nhánh kia đi qua Catay. Tôi nói thật cho các bạn biết rằng thành phố này có rất nhiều tàu thủy đến nỗi người nào không thấy hoặc không nghe thì không thể tin được. Những con tàu này mang đến cho Mangi một số lượng hàng hóa lớn khủng khiếp rồi từ đó quay về chở theo những hàng hóa khác. Nên điều kỳ diệu là có biết bao hàng hóa đi và đến nhờ các con sông này.

 
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện