DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 10

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH CATAY VÀ VỀ CON SÔNG PULISANCHI

Các bạn nên biết rằng Đại Hãn sai Ngài Marco Polo, người kể tất cả những câu chuyện này, với tư cách là sứ giả đến phần đất ở phía Tây; từ Canbaluc, ông đi bốn tháng về hướng Tây. Ông sẽ kể cho các bạn tất cả những gì ông thấy trên đường đi, lúc đi cũng như lúc trở về.
Khi khởi hành từ thành phố Canbaluc và đi ngựa mười dặm, người ta đến một con sông rất lớn có tên là Pulisanchi (Lou Kéou hoặc Sang Kan) và chảy ra biển Océane, nó chuyên chở nhiều nhà buôn và hàng hóa. Trên sông này có một cây cầu đá rất đẹp, ít có cây cầu nào lại đẹp như thế. Nó dài hơn ba trăm bước, vì mười người cưỡi ngựa có thể dàn hàng ngang đi qua vẫn được. Cầu có hai mươi bốn nhịp và hai mươi tám trục cầu trong nước, nó được xây bằng hai lớp đá cẩm thạch rất đẹp và khá vững chắc. Mỗi bên cầu có một bức tường làm bằng những tấm đá cẩm thạch và những cây cột ở đầu cầu có một cột cẩm thạch được nâng đỡ bởi một con sư tử bằng cẩm thạch và ở đỉnh cột này cũng có một con sư tử khác bằng cẩm thạch; các con sư tử trông rất đẹp, vĩ đại và được điêu khắc một cách tinh xảo; cách cột này một bước chân, có một cây cột khác với hai con sư tử hoàn toàn giống với cây cột đầu tiên. Khoảng cách giữa hai cột được khép kín bằng những tấm đá cẩm thạch để người dân không bị rơi xuống nước. Cứ như thế trên toàn bộ chiều dài, đây là điều trông rất ngoạn mục.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ LỚN GIGUI

Từ chiếc cầu này cưỡi ngựa đi ba mươi dặm về hướng Tây, qua những đồng cỏ tươi tốt làm thức ăn cho gia súc, những vườn nho xinh xắn, những cánh đồng và những con suối đầy thơ mộng, chúng ta bắt gặp một thành phố có tên là Gigui (Tcho Tchéou, phía Tây Nam Bắc Kinh) rộng lớn và xinh đẹp. Ở đây có nhiều tu viện của các tín đồ thờ ngẫu tượng. Dân cư sống về buôn bán và thủ công; ở đây, người ta gia công vải lụa và vàng cũng như gỗ đàn hương. Khi từ thành phố này cưỡi ngựa đi mất một dặm, người ta bắt gặp hai con đường, một đi về hướng Tây, một đi về hướng Nam. Con đường hướng Tây đến Catay, và đường hướng Nam đi đến tỉnh Mangi. Người ta cưỡi ngựa trong 10 ngày về hướng Tây xuyên qua tỉnh Catay đồng thời gặp các thành phố thị trấn và nhiều địa điểm buôn bán và thủ công sầm uất, những cánh đồng và vườn nho xinh đẹp, những người dân lịch sự. Nhưng vì không có điều gì quan trọng đáng kể, tôi sẽ không nói với các bạn điều gì và sẽ nói về một vương quốc gọi là Taianfu.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ VƯƠNG QUỐC TAIANFU

Khi cưỡi ngựa đi 10 ngày từ thành phố Gigui, người ta đến một vương quốc gọi là Taianfu (Thai Yuan Fou). Thành phố cũng có tên là Taianfu, lớn và xinh đẹp, đó là thủ đô của vương quốc, ở đây người ta làm nhiều yên ngựa, mà quân đội của Đại Hãn rất cần. Có nhiều vườn nho rất xinh đẹp, vì vậy dân cư sản xuất nhiều rượu vang, vì trong toàn tỉnh Catay, không có nơi nào sản xuất rượu, ngoại trừ nơi đây. Người dân còn sản xuất nhiều lụa, vì họ là những người trồng dâu nuôi tằm rất nhiều. Đi ngựa từ thành phố Taianfu về hướng Tây trong bảy ngày qua những vùng đất thơ mộng, người ta gặp nhiều thành phố và thị trấn sống về nghề buôn bán và nhiều nghề khác nhau. Có nhiều nhà buôn lớn từ vùng này đi sang Ấn Độ và những nước khác để làm ăn buôn bán. Khi cưỡi ngựa đi trong bảy ngày đường, người ta đến một thành phố có tên là Pianfu rất lớn và rất giàu có, trong thành phố, các nhà buôn sống về các ngành thủ công và buôn bán. Họ sản xuất nhiều lụa.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ LÂU ĐÀI CACIANFU VÀ CUỘC TRANH CÃI CỦA VUA JEAN

Khi đi ngựa từ Pianfu về hướng Tây trong hai ngày, chúng ta gặp một lâu đài sang trọng gọi là Cacianfu (Ho Tchoung Fou), xưa có một ông vua của vùng này có biệt hiệu là Vua Vàng. Trong lâu đài có một cung điện rất lớn và rất đẹp, trong đó có hình vẽ của các vua đã từng sống ở vùng này xưa kia; cung điện được dát vàng toàn bộ và treo đầy những bức tranh tuyệt đẹp; đó là công trình của tất cả các vua đã lần lượt cai trị tỉnh này.
Tôi sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện thú vị xảy ra giữa Vua Vàng và vua Jean, theo như các cư dân của lâu đài kể lại. Vua Vàng đang đánh nhau với vua Jean. Ông ở một nơi rất kiên cố, đến nỗi vua Jean không thể nào đến hoặc làm hại ông ta được, vì vậy vua Jean tỏ ra rất bực tức. Do đó, bảy người hầu trong triều đình của vua Jean họp nhau lại và nói với ông rằng, nếu ông muốn, họ sẽ mang Vua Vàng còn sống đến nộp cho ông. Ông trả lời rất muốn và đồng ý với họ. Khi chào tạm biệt vua Jean, lãnh chúa của họ, tất cả bọn cùng nhau lên đường với một toán tùng sĩ và đi đến với Vua Vàng. Họ đến trình diện và nói với ông họ từ một nước xa lạ đến để phục vụ hầu hạ ông. Ông nói họ là những người sẽ được đón tiếp nồng hậu, và việc phục vụ của họ sẽ làm cho ông rất hài lòng, giống như những người không nghĩ đến bất cứ sự dữ nào. Nhờ cách này, những tên hầu xấu xa bắt đầu phục vụ Vua Vàng và hoàn thành những công việc tốt đến nỗi nhà vua thương yêu họ và xem họ như là những đứa con cưng.
Khi họ ở với nhà vua trong gần hai năm, như những người không nghĩ gì đến việc mưu phản, một ngày nọ, họ cùng nhà vua đi du ngoạn với một số ít thuộc hạ thân tín của vua. Khi đi qua một con sông cách lâu đài một dặm, họ thấy còn lại chỉ có họ với nhà vua, họ tự nhủ với nhau đã đến lúc thực hiện mục đích của mình. Tất cả đều đưa tay rút kiếm ra cùng một lúc và bảo vua phải đi theo họ hoặc nếu không, họ sẽ giết chết ông. Khi nhà vua hiểu ra sự việc, ông rất ngạc nhiên, lo sợ và nói với họ:
- Thế nào, các con trai, các con nói gì vậy? Các con muốn ta phải đi đâu?
Họ trả lời ông:
- Dù muốn hay không, bệ hạ cũng sẽ đến tận Đức vua của chúng tôi, vua Jean.
Khi Vua Vàng nhận thấy sự việc, ông hết sức buồn, vì chẳng bao lâu nữa, ông sẽ bị giết. Ông nói với họ:
- Vì Thiên Chúa, các con hãy thương xót và gia ơn cho ta! Các con nên biết là ta đã tôn trọng các con và đối với các con thân thiết biết chừng nào trong nhà của ta, và các con lại trao ta vào tay kẻ thù của ta. Nếu các con làm như vậy, đó là các con đã làm điều xấu xa, điều bất trung và đê tiện rất lớn.
Họ đáp lại là ông buộc phải ra đi, và họ dẫn ông đến cho Chúa của họ là vua Jean. Khi vua Jean nhìn thấy Vua Vàng, ông tỏ ra hết sức vui mừng và nói Vua Vàng là kẻ không mời mà đến. Nhà vua không đáp lại lời nào, giống như ông không biết phải nói điều gì. Vua Jean ra lệnh đưa ông ra ngoài để chăn giữ gia súc và cho người giám sát ông thật kỹ. Vậy là ông bị bắt và bị buộc phải chăn giữ gia súc. Điều vua Jean làm là vì tức giận ông ta, khinh rẻ ông ta và chứng minh cho ông ta thấy ông chỉ là hư không đối với mình. Khi Vua Vàng canh giữ gia súc như thế trong hai năm, vua Jean ra lệnh đưa ông đến trước mặt mình và ca tụng ông, cho ông mặc bộ đồ sang trọng và nói với ông:
- Hỡi nhà vua, bây giờ ngài có thể thấy rõ rằng ngài không phải là người có thể đương đầu lại ta.
- Đúng vậy, thưa Điện hạ, tôi thấy và tôi luôn thấy rõ rằng, tôi không phải là người có thể chống lại Điện hạ.
- Tôi không đòi hỏi ngài điều gì khác, vua Jean trả lời, và từ giờ trở đi, ta sẽ ra lệnh cho người phục vụ và kính trọng ngài.
Vua Jean ra lệnh ban cho Vua Vàng ngựa và yên cương cùng với đoàn tùy tùng đông đảo. Ông gởi trả vua về xứ sở của vua. Từ đó, Vua Vàng trở thành bạn của vua Jean và coi vua Jean như Chúa thượng của mình.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CON SÓNG LỚN CARAMORAN

Từ lâu đài đi ngựa 20 dặm về phía Tây, chúng ta sẽ gặp một con sông có tên là Caramoran (sông Đen theo tiếng Mông Cổ, hiện nay là sông Hoàng Hà), sông này lớn đến mức người ta không thế làm cầu bắc qua, vì nó rất rộng và sâu; nó chảy ra tận biển Océane bao quanh thế giới. Trên con sông này có nhiều thành phố và thị trấn đông đúc các nhà buôn, việc buôn bán trên sông này khá phát đạt vì trên miền sông này có nhiều củ gừng và lụa. Điều kỳ diệu là ở đây có rất nhiều loài chim; giá ba con chim trĩ là một đồng bạc lớn Venise. Khi vượt qua con sông này và đi ngựa hai ngày về hướng tây, chúng ta đến thành phố sang trọng trước kia được gọi là Cacianfu. Dân cư đều là tín đồ ngẫu tượng, giống như tất cả những người Catay. Đó là một thành phố thương mại và thủ công làm vàng quan trọng cũng như các ngành thủ công khác.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ QUENGNFU

Từ thành phố Cacianfu đi ngựa về hướng tây tám ngày đường, chúng ta bắt gặp các thành phố và thị trấn sầm uất với các ngành buôn bán và kỹ nghệ quan trọng; có nhiều cây cối và những khu vườn xinh đẹp, những cánh đồng trồng dâu bạt ngàn; đó là những loại cây mà những con sâu làm ra lụa ăn lá. Dân cư đều là tín đồ ngẫu tượng. Ở đây có nhiều chỗ săn bắn và bẫy chim. Sau khi đi ngựa mất tám ngày như tôi đã nói, chúng ta đến một thành phố có tên là Quengnfu (Si Ngan Fu, thời Marco Polo, thành phố này được gọi là King tchan foil), trước kia nó là một vương quốc sang trọng, giàu có, to lớn và có nhiều vị vua giàu sang và dũng cảm, nhưng hiện nay chỉ còn một vị vua là con trai của Đại Hãn, tên là Manglay. Đây là thành phố buôn bán và thủ công quan trọng. Người ta sản xuất nhiều lụa, nhờ đó làm ra nhiều loại vải lụa và vải dệt vàng. Nơi đây, người ta còn sản xuất yên ngựa cho quân đội. Tất cả những nhu yếu phẩm cần cho đời sống đều rất rẻ. Dân cư là những tín đồ ngẫu tượng. Cung điện của Chúa ở ngoài thành phố. Nó rất lớn và rất đẹp như tôi sẽ nói sau đây. Nó nằm trong một đồng bằng rộng có sông lớn, hồ và những con suối. Xung quanh nó là một bức tường rất to và cao, dài chừng năm dặm, toàn bộ được xây kiên cố bằng đá cẩm thạch. Bên trong bức tường là cung điện của nhà vua, lớn và đẹp đến nỗi không ai có thể thiết kế tốt hơn. Cung điện có nhiều căn phòng đẹp và lớn, nhiều buồng hầu hết được trang trí và sơn son thếp vàng.
Vua Manglay cai trị vương quốc trong sự công bằng và luật pháp nghiêm ngặt, ông rất được thần dân yêu mến. Các đội quân đều đóng quanh cung điện.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH CUNCUN

Đi ngựa từ cung điện của vua Manglay về hướng tây trong ba ngày, chúng ta vượt qua những cánh đồng xinh tươi nơi đó có nhiều thành phố và thị trấn. Dân cư sống về buôn bán và thủ công; họ sản xuất nhiều lụa. Sau ba ngày đường, người ta bắt gặp những dãy núi lớn và những thung lũng rộng thuộc tỉnh Cuncun (Su Tchouan). Dân cư là tín đồ ngẫu tượng và sống về nông nghiệp, săn bắn trong những cánh rừng rậm, vì rừng có rất nhiều thú rừng sinh sống như sư tử, gấu, chó sói và các loài thú khác; dân cư trong vùng bắt rất nhiều thú và thu được nhiều nguồn lợi đáng kẽ. Cưỡi ngựa vượt qua núi đồi và thung lũng, chúng ta gặp được những thành phố thị trấn và những cánh rừng lớn với nhiều nhà quán dành cho khách qua đường.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH ACHALAC MANGI

Sau khi cưỡi ngựa đi hai mươi ngày đường trong các dãy núi của tỉnh Cuncun, chúng ta đến một tỉnh có tên là Achalac Mangi hoàn toàn bằng phẳng. Có nhiều thành phố và thị trấn thuộc quyền của Đại Hãn. Dân cư thờ ngẫu tượng và sống về nghề buôn bán và thủ công. Trong tỉnh này, người ta trồng nhiều gừng đủ bán qua khắp tỉnh Catay. Người dân thu rất nhiều hoa lợi nhờ gừng, Họ còn trồng nhiều lúa mì, lúa gạo và những ngũ cốc khác, số lượng những thứ này rất nhiều và rẻ, vì đất đai ở đây màu mỡ, thuận lợi cho mọi thứ ngũ cốc. Thành phố chính được gọi là Acmelec Mangi, có nghĩa là biên giới của Mangi. Đồng bằng này trải dài hai ngày đường, tiếp theo đó là những dãy núi lớn, những thung lũng rộng và những cánh rừng mênh mông, và chúng ta còn phải đi ngựa mất hai mươi ngày đường về hướng tây qua nhiều thành phố và thị trấn. Người dân thờ ngẫu tượng và sống nhờ vào trồng trọt và chăn nuôi, săn bắn thú rừng có rất nhiều. Chúng ta cũng tìm thấy một số lớn thú có xạ hương.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH LỚN SINDAFU

Sau khi cưỡi ngựa đi hai mươi ngày đường trong những dãy núi mà tôi đã kể, chúng ta sẽ đến một đồng bằng của một tỉnh gọi là Sindafu, thuộc biên giới Mangi. Thành phố chính là Sindafu (Tching Tou Fou; Marco Polo sẽ không đi xuống vùng Tây Nam, nhưng đi về phía Tây, đến Tây Tạng); thành phố trước kia rộng lớn và sang trọng, với nhiều vị vua nổi tiếng giàu có. Chu vi của thành phố là hai mươi dặm, nhưng nó bị phân chia như cách tôi sẽ nói sau đây.
Nên biết là khi vua của tỉnh này sắp chết, ông để lại ba đứa con trai và ra lệnh phân chia thành phố này làm ba phần, để mỗi đứa con đều có mỗi phần riêng; mỗi phần đều được ngăn bằng một bức tường thành, nhưng cả ba phần đều nằm trong các bức tường của một thành phố lớn. Mỗi một đứa cai trị mỗi phần, vì mỗi đứa đều có một phần thành phố và một phần vương quốc, nên mỗi đứa con trở thành vua nổi tiếng và giàu có. Nhưng Đại Hãn chiếm lấy vương quốc của ba vị vua này và truất quyền thừa kế của họ. Giữa thành phố lớn này có một con sông chảy qua; sông này có rất nhiều cá. Nó rộng hơn nửa dặm, rất sâu và dài đến nỗi nó chảy ra tận biển Océane, tính ra trên tám mươi đến một trăm ngày đường. Nó được gọi là Quiansui (Kiang Choui). Trên sông này có rất nhiều tàu bè đến nỗi không ai có thể tin được nếu không thấy mà chỉ nghe nói tới; cũng có nhiều hàng hóa do các nhà buôn chở lên thượng lưu và chở xuống hạ lưu, đến nỗi không người nào trên thế gian này có thể tin được. Hình như không phải là sông mà là biển vì nó rất rộng. Trên sông này, giữa thành phố có một chiếc cầu bằng đá rất lớn, rộng tám bước chân và dài nửa dặm. Dọc theo cầu, có những cây cột cẩm thạch đỡ phần mái cầu bằng gỗ được vẽ bằng những bức hoạ cực kỳ phong phú. Trên cầu này, có nhiều căn nhà nơi diễn ra các hoạt động thương mại và ngành nghề quan trọng; nhưng tất cả đều được làm bằng gỗ; người ta dựng chúng lên vào buổi sáng và hạ xuống vào buổi tối. Trên cầu này, còn có trạm thuế cầu đường của Đại Hãn, ở đây, người ta thu tiền thuế và tô tức cho Đại Hãn. Nên biết rằng tiền thuế cầu lên tới cả ngàn cân cộng thêm vàng ròng mỗi ngày cho Chúa thượng.
Đi ngựa từ thành phố này trong năm ngày, chúng ta gặp những cánh đồng và nhiều thị trấn, thành phố. Dân cư sản xuất nhiều loại vải lụa, nhất là lụa ceudal (lụa trơn hoặc camelot mịn). Họ cũng sống nhờ vào hoa lợi từ đất đai. Ở đây có nhiều thú hoang như sư tử, gấu và những thú khác. Sau năm ngày đi ngựa, chúng ta đến một tỉnh bị đổ nát gọi là Tebet mà chúng tôi sẽ nói sau đây.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH TEBET

Sau năm ngày đường, chúng ta đi vào một cánh rừng rất rộng thuộc tỉnh Tebet (Tây Tạng). Tất cả những thành phố, thị trấn, làng mạc đều bị suy sụp, hoang vắng vì cuộc chiến tranh do Mongu Khan gây nên.
Ở đây có nhiều cây tre to đến ba lòng bàn tay và dài hơn mười lăm bước chân, mỗi lóng tre dài hơn ba lòng bàn tay. Những nhà buôn và những người khác đi bộ ban đêm qua vùng này đều lấy những thân của chúng để nhóm lửa, vì khi cháy, chúng tạo nên những tiếng nổ lớn khiến cho sư tử, gấu, và các loài thú hoang khác rất đỗi hoảng sợ chạy trốn thục mạng và không bao giờ dám bén mảng tới gần lửa. Nếu có nhiều thú hoang trong tỉnh biệt lập này, vì không có ai ở đây, nên chúng sinh sôi nảy nở rất nhiều. Cho dù những cây tre không cháy với những tiếng nổ lớn đến mức thú dữ sợ bỏ chạy trốn, cũng không có người nào đám đi qua đó vào ban đêm. Chúng tôi sẽ cho các bạn biết vì sao những cây tre này cháy gây ra những tiếng nổ lớn. Người ta lấy những cây tre còn tươi rất nhiều và bỏ chung nhiều cây vào lửa; khi cháy một lúc, chúng bóc vỏ và tách ra ở giữa, đồng thời gây những tiếng nổ lớn đến nỗi ban đêm người ta có thể nghe ở cách xa đến mười dặm. Bạn nên biết rằng, nếu người nào không quen nghe tiếng nổ, người đó có thể bị ngất hoặc chết. Nhưng những người nào đã quen nghe tốt nhất là nên lấy bông vải nhét vào lỗ tai, băng chặt đầu và mặt và mặc vào mình tất cả những bộ đồ mang theo. Làm như thế, họ sẽ tránh được cơn nguy hiểm lúc đầu cho đến khi quen dần. Đối với những con ngựa nào chưa quen nghe, khi nghe tiếng nổ, chúng bứt đứt dây cương và những thứ dây buộc khác: nhiều người đã bị mất con vật bằng cách này. Nhưng nếu muốn đề phòng cho các con vật, họ phải cột thật chặc bốn chân chúng lại, sau đó băng đầu, mắt và tai chúng. Khi những con ngựa nghe tiếng nổ đó nhiều lần, chúng sẽ không còn kinh sợ nữa. Vì tôi nói cho các bạn biết, lần nghe đầu tiên là lần nghe đáng sợ nhất trên đời. Mặc dù tất cả những điều này, đôi khi có những con sư tử, gấu và thú hoang khác gây thiệt hại đáng kể, vì chúng có vô số trong toàn miền.
Người ta cưỡi ngựa hai mươi ngày mà không tìm được căn nhà nào, khách bộ hành nên mang theo toàn bộ lương thực đi đường. Người ta cũng gặp nhiều thú hoang nguy hiểm và đáng sợ. Sau đó người ta đến những thị trấn và thành phố mà dân cư có thói quen lấy nhau như tôi sẽ kể cho các bạn nghe sau đây. Không một người đàn ông của vùng này lấy làm vợ một cô gái còn trinh: họ nói rằng các cô không đáng giá gì nếu chưa ai đụng đến họ, và nếu họ chưa quen ngủ với đàn ông. Vì vậy họ làm theo cách là khi những khách bộ hành đi ngang qua, nếu họ tỏ ra thoải mái, các phụ nữ luống tuổi đến cùng với các cô gái còn trinh, con gái họ hoặc cô gái bà con của họ; các bà đưa chúng đến cho những người xa lạ đi ngang qua đó và dâng cô gái cho người nào muốn chiếm đoạt họ, khách bộ hành muốn làm gì cũng được. Người đàn ông lạ ngủ với họ và làm những điều mình muốn rồi sau đó phải trả họ lại cho các bà già. Vì người ta không để chúng ra đi với người lạ. Bằng cách này, khi những khách bộ hành đi qua các con đường, họ luôn gặp đến hai mươi hoặc ba mươi cô gái; họ muốn bao nhiêu cũng có, khi họ đi ngang qua trước một ngôi làng hoặc một thị trấn, hoặc bất cứ khu dân cư nào khác. Khi họ trú ngụ trong một căn nhà, họ muốn có bao nhiêu cô cũng được, trong số những cô đến cầu xin họ. Người ta phải cho cô gái đã ngủ với mình một chiếc vòng nhỏ, một vật nhỏ hoặc một dấu hiệu nào đó, để cô gái có thể phô trương khi cô ta muốn lấy chồng và mọi người biết cô có thành tích chung chạ với nhiều đàn ông. Các cô gái làm việc đó không vì lý do nào khác. Điều thích hợp là mỗi cô gái còn trinh phải kiếm cho được hơn hai mươi đồ quý giá hoặc bằng chứng bằng cách như tôi đã kể trước khi có thể lập gia đình. Những cô nào có nhiều bằng chứng nhất, sẽ chứng minh họ được chung chạ nhiều nhất, họ sẽ được xem như những cô gái tuyệt vời nhất, và người đàn ông hài lòng cưới họ làm vợ hơn vì theo họ các cô đều có khả năng sinh con đẻ cái hơn. Nhưng khi đã có chồng, các cô rất chung thủy với chồng, và mọi người sẽ coi như một điều đê tiện việc người ta đụng đến vợ của một người nào khác; tất cả đều đề phòng sự ô nhục này, từ khi họ kết hôn với những người đàn bà như thế.
Nếu tôi đã kể với các bạn về những cuộc hôn nhân đáng chú ý này, đó là vì những người chuẩn kỵ sĩ trẻ của chúng ta có thể đi đến đó để có được những cô gái còn trinh tùy thích; họ sẽ được yêu cầu mà không cần có tiền ứng trước nào.
Dân cư là tín đồ ngẫu tượng và rất hung dữ. Họ là những người ăn cắp nổi tiếng nhất thế giới, và họ không từ bất cứ tội ăn cắp và làm điều ác nào. Họ sống về nghề săn bắn lấy thịt, nuôi gia súc và trồng cây ăn quả. Trong vùng này còn có nhiều thú có xạ hương, theo ngôn ngữ của họ, họ gọi chúng là gudderi. Những con người xấu xa này có những con chó rất to và săn giỏi để săn các giống thú này. Vì vậy mà họ có rất nhiều xạ hương. Họ không có tiền giấy của Đại Hãn phát hành, nhưng lấy muối làm đồng tiền trao đổi. Họ ăn mặc nghèo nàn, vì họ chỉ mặc quần áo bằng da thú, đay và vải rất mịn. Họ có ngôn ngữ riêng và được gọi là Tebet. Tebet này là một tỉnh rất lớn, như tôi sẽ còn kể với các bạn sau.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ THÊM VỀ TỈNH TEBET

Tỉnh Tebet gồm Mangi và nhiều tỉnh khác, nó rộng lớn vì bao gồm tám vương quốc và nhiều thành phố thị trấn. Nhiều nơi có hồ và sông ngòi có nhiều vảy vàng, ở đó, cây quế mọc rất nhiều. Người ta cũng thu nhặt san hô, nhưng nó rất đắt, vì họ cho đeo nó vào cổ của ngẫu tượng và cổ vợ họ để tạo niềm vui. Trong tỉnh này còn có nhiều thứ khác như vàng và lụa. Ở đây có nhiều cây gia vị mà trong nước chúng ta không bao giờ thấy. Nên biết rằng họ còn có những nhà thuật sĩ và chiêm tinh giỏi nhất trong tất cả các tỉnh, vì họ làm những phương thức ma thuật và những điều kỳ lạ. Nhưng tôi sẽ không kể cho các bạn trong quyển sách này, vì độc giả sẽ quá kinh ngạc về những điều đó, và chúng sẽ không thích hợp.
Họ có những thói quen xấu. Họ có những con chó ngao to như những con lừa. Chúng rất giỏi trong việc săn bắt thú hoang có rất nhiều trong vùng này. Họ còn nuôi nhiều loại chó săn khác, những chim ưng bay rất nhanh và biết bắt chim nhỏ, chúng sinh sôi trong các dãy núi.
Bây giờ chúng ta sẽ bỏ qua tỉnh Tebet này, vì chúng tôi đã kể lại toàn bộ sự việc một cách tổng quát, và chúng tôi sẽ nói về một tỉnh gọi là Gaiandu. Nhưng các bạn nên biết tỉnh Tebet này thuộc về Đại Hãn; tất cả các vương quốc, tỉnh, vùng khác được mô tả trong sách này cũng thuộc quyền Đại Hãn; tất cả các vương quốc, tỉnh, vùng khác thuộc về con trai của Argon, lãnh chúa của xứ Levant như tôi đã nói từ đầu quyển sách này, do đó, chúng cũng thuộc về Chúa thượng, vì con trai của Argon cai quản đất đai từ dòng họ của mình, nên các tỉnh được mô tả cho đến lúc này, và tất cả các tỉnh khác có trong sách này đều thuộc về Đại Hãn.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH GAIANDU

Gaiandu (xứ sở của những người Ghendon ở về phía Đông Nam Tây Tạng) là một tỉnh ở về phía Tây và có vua cai trị. Dân cư thờ ngẫu tượng và là thần dân của Đại Hãn. Nó có nhiều thành phố và thị trấn. Họ có một cái hồ có ngọc trai, nhưng Đại Hãn không muốn để ai lấy ngọc ở đó, bởi vì nếu mọi người tự do thu nhặt ngọc trai, họ sẽ thu nhiều đến mức ngọc trai sẽ trở nên tầm thường và không còn giá trị như trước nữa. Nhưng khi Chúa thượng muốn, ông sẽ cho thu nhặt theo ý muốn của ông. Tuy nhiên, không người nào khác được quyền thu nhặt, họ có thể bị xử tử ngay.
Có một ngọn núi nơi đó người ta tìm thấy một loại đá gọi là đá ngọc lam, đó là những viên đá đẹp và có rất nhiều, nhưng Đại Hãn chỉ cho khai thác khi nào ông ra lệnh.
Trong tỉnh này còn có một phong tục mà tôi sẽ kể cho các bạn nghe sau đây. Đó là họ không coi là hành vi đê tiện, khi một người ngoại quốc hoặc một người nào khác làm nhục vợ hoặc con gái hoặc chị của họ hoặc bất cứ phụ nữ nào đang ở trong nhà họ; nhưng họ rất hân hạnh khi những người đó ngủ với các phụ nữ, và họ cho rằng, nhờ vậy, các thần linh và ngẫu tượng của họ muốn điều tốt cho họ và ban cho họ nhiều của cải vật chất. Chính vì thế, họ tỏ ra rất hào phóng khi nhường vợ cho những người xa lạ và những người khác, như tôi sẽ nói với các bạn sau đây; vì khi họ thấy một người xa lạ muốn ở trọ, mỗi người đều muốn đón tiếp họ vào nhà của mình. Từ khi họ đến ở, người chủ liền rời khỏi nhà đồng thời ra lệnh mọi người phải tuân theo ý muốn của người lạ. Khi chủ nhà đã nói và ra lệnh như thế, ông liền đi đến các vườn nho hoặc đồng ruộng của mình và ông sẽ không trở về nhà trước khi người lạ ra đi, đôi khi người lạ ở trong nhà của khổ chủ ba hoặc bốn ngày, đồng thời nhận được sự thỏa mãn với vợ, con gái hoặc chị của khổ chủ hoặc với bất cứ phụ nữ nào làm cho y sung sướng nhất. Bao lâu còn có mặt trong nhà, người lạ treo ở cửa chính chiếc mũ của y hoặc một dấu hiệu nào khác để chủ nhà biết họ còn ở lại. Hễ khi nào vẫn còn nhìn thấy dấu hiệu đó, ông chủ sẽ không dám về nhà. Toàn tỉnh vẫn duy trì tập tục này.
Họ sử dụng tiền tệ theo cách này: vàng ở dạng nén và họ cho cân nó; cân được bao nhiêu, nó sẽ có giá bấy nhiêu. Nhưng họ không có bất cứ tiền đúc nào. Đồng tiền nhỏ nhất của họ được làm như thế này: họ lấy muối và nấu cho chảy ra, rồi đổ vào trong một cái khuôn; mỗi thứ lớn đến mức có thể nặng chừng nửa livrơ. Tám mươi dạng muối như thế này có giá trị bằng một saggio vàng ròng (Saggio của Venise, đồng tiền có giá bằng hai mươi centimes của tuổi vàng). Đó là một cân, và đó cũng là đồng tiền lưu hành nhỏ. Họ có nhiều thú cho xạ hương, nên xạ hương có rất nhiều. Họ cũng có nhiều cá và đánh cá trong hồ nơi mà tôi đã nói với các bạn là có nhiều ngọc trai; tỉnh này còn có nhiều thú rừng như sư tử, gấu, hoẵng, chó sói cũng như lạc đà và đủ các loài chim chóc nhiều vô kể. Họ không có rượu nho, nhưng có rượu được làm bằng lúa mì, gạo và gia vị rất ngon. Trong tỉnh này, còn có nhiều cây đinh hương. Cũng có một loại cây nhỏ có lá như cây long não, nhưng dài và hẹp hơn, hoa nó màu trắng nhỏ như hoa đinh hương. Họ còn có gừng và quế rất nhiều, cũng như những loại gia vị khác không bao giờ thấy có ở nước chúng ta, vì vậy không cần nói đến chúng ở đây.
Về vùng Gaiandu này, khi đi ngựa, người ta bắt gặp một con sông gọi là Bruis, đây là ranh giới của tỉnh Gaiandu. Trong con sông chảy đến tận biển Océane này, người ta tìm thấy có nhiều vảy vàng.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH CARAIAN

Qua khỏi con sông này, chúng ta đi vào trong tỉnh Caraian rộng lớn, vì nó gồm bảy vương quốc. Nó nằm về hướng Tây. Dân cư thờ ngẫu tượng và thuộc quyền của Đại Hãn. Nhưng một đứa con của ông là Essantemur làm vua tỉnh này. Đó là một vị vua rất nổi tiếng, giàu có và đầy thế lực; ông cai trị vương quốc trong sự công chính vì ông là người khôn ngoan và can đảm.
Từ con sông đi về phía Tây trong năm ngày, chúng ta gặp nhiều thành phố và thị trấn. Dân cư sống về nghề chăn nuôi gia súc và trồng trọt; họ có những con ngựa rất tốt. Họ có tiếng nói riêng nhưng rất khó nghe. Sau năm ngày đường, chúng ta đến thành phố chính, đồng thời là thủ đô của vương quốc có tên là Jaci (Li Kiang Fou, trong vùng Yunnan hiện nay), thành phố rất lớn và sang trọng. Ở đây, có nhiều nhà buôn và thợ thủ công. Dân cư gồm nhiều hạng người: tín đồ ngẫu tượng, người Sarrasin, một số ít người Ki tô giáo thuộc phái Nestorien. Họ trồng rất nhiều lúa mì, lúa gạo, nhưng họ không ăn bánh mì bao nhiêu, vì nó không ngon, họ ăn cơm và dùng nó với gia vị để làm ra một thứ thức uống rất trong và rất bổ dưỡng. Họ dùng những ốc làn trắng làm tiền tệ, đó là những loài ốc sống ở biển; họ còn đeo ốc này ở cổ những con chó. Tám mươi con ốc làn giá trị bằng một saie bạc và bằng hai đồng tiền lớn Venise, tức là hai mươi bốn livrơ; Tám saie bạc giá trị bằng một saie vàng. Họ còn có những mỏ muối, họ khai thác muối từ những mỏ này, tất cả dân cư trong vùng này sinh sống nhờ muối. Tôi cho các bạn biết rằng nhà vua thu nhiều mối lợi lớn nhờ vào mỏ muối này. Họ không cảm thấy công phẫn khi có một người đàn ông nào ngủ với vợ của một người khác, miễn là người vợ đồng ý. Họ có một cái hồ có chu vi là một trăm dặm, trong hồ có trữ lượng cá rất lớn thuộc loại cá ngon nhất thế giới, cá rất to và có nhiều loại khác nhau. Tôi còn cho bạn biết rằng dân cư xứ này còn ăn thịt sống như thịt cừu, bò, gà mái và tất cả các loại thịt khác; vì họ đến nơi giết thịt và ăn gan sống khi nó vừa được rút ra khỏi con vật; họ cắt ra từng miếng nhỏ rồi trộn vào nước xốt làm từ nước nóng và gia vị; họ cũng ăn tất cả các loại thịt sống khác như thế giống như chúng ta ăn thịt chín vậy.
Đi ngựa từ thành phố Jaci này về hướng tây trong mười ngày, chúng ta vẫn còn ở trong tỉnh Caraian và gặp một thành phố lớn khác cũng gọi là Caraian. Thành phố được cai trị bởi một vị vua là con trai khác của Đại Hãn, có tên là Cogacin. Trong vùng này, người ta tìm thấy vô số vảy vàng to hơn ở các nơi khác; vàng có trong các sông hồ và trong các dãy núi. Họ có nhiều vàng đến nỗi họ tính một cân bằng sáu cân bạc.
Họ cũng dùng làm tiền tệ những loại ốc làn như tôi đã nói, chúng không có trong xứ, nhưng đến từ Ấn Độ.
Trong tỉnh này sinh sản nhiều loài rắn nước, những con rắn này to lớn đến nỗi ai nhìn thấy chúng cũng hết sức lo sợ, và những người nào chỉ cần nghe nói thôi cũng kinh sợ vì chúng quá gớm ghiếc. Tôi sẽ nói cho các bạn biết vì sao chúng to béo như thế. Có những con dài đến mười bước chân, có khi dài hơn hoặc ngắn hơn và to như một chiếc thùng tôn nô có chu vi là mười lòng bàn tay. Chúng có hai chân trước, gần đầu, không có một bàn chân nào khác ngoài một móng vuốt như móng vuốt của một con chim ưng hoặc một con sư tử. Đầu nó rất to và đôi mắt to hơn một ổ bánh mì lớn. Miệng nó rộng đến nỗi nó có thể nuốt trửng cả một người đàn ông.
Chúng gớm ghiếc, xấu xa và dã man đến nỗi không người nào, không vật nào mà không sợ chúng. Người ta bắt chúng bằng cách này: ban ngày, chúng ở dưới mặt đất do trời rất nóng; chúng chỉ ra ngoài vào ban đêm để ních cho no nê những con thú mà chúng có thể bắt được, hoặc uống nước ở sông hồ và các con suối. Chúng nặng nề đến nỗi khi chúng đi ban đêm để kiếm ăn, chúng dùng đuôi để đào trong cát một cái hố rất lớn bằng một thùng rượu. Những thợ săn nào muốn bắt chúng, họ đặt bẫy trên đường đi của chúng, vì họ biết chúng sẽ trở về bằng con đường đó; họ đóng xuống đất một chiếc cọc gỗ rất sâu và cột ở đó một thanh sắt bén được làm giống như một chiếc dao cạo, rồi họ phủ cát lên trên để rắn không nhìn thấy. Những người thợ săn cắm nhiều cọc có buộc thanh sắt trên đường rắn đi, và con thú bị thương dùng sức vùng vẫy nên miếng sắt len sâu vào bụng nó và chẻ nó đến tận rốn, do đó, nó chết thật nhanh, và thế là những người thợ săn đến tóm lấy nó.
Khi bắt được rắn, họ lấy mật từ bụng rắn và bán với giá rất đắt; người ta dùng mật để làm thuốc, vì nếu một người bị chó dại cắn, người ta liền cho y uống một chút mật đó, người bị chó cắn liền được chữa khỏi ngay với một liều lượng nặng bằng một đồng đơniê. Khi một phụ nữ không thể đẻ con, nếu người ta cho bà uống cũng một liều lượng như thế, bà ta sẽ sinh con ngay; một người nào mắc một căn bệnh gì đó chẳng hạn như bệnh ung nhọt hoặc một bệnh nào khác tồi tệ hơn, nếu ta đắp mật rắn lên ung nhọt, không bao lâu, người đó sẽ khỏi bệnh. Chính vì vậy mà mật rắn được bán rất đắt. Khi những con rắn này đói lả, có khi chúng đến tận ổ của những con sư tử, gấu hoặc những con thú lớn khác và ăn những con thú con mà bố mẹ chúng không thể bảo vệ được chúng; khi chúng tóm được những con thú lớn, chúng cũng ăn ráo, vì những con thú này cũng không tự bảo vệ chúng được.
Trong tỉnh này còn sản sinh ra những con ngựa to và tốt giống để bán sang Ấn Độ. Họ cắt hai hoặc ba dây thần kinh ở đuôi ngựa để nó không thể dùng đuôi quất những người leo lên lưng nó để cưỡi, vì nếu nhận cú quất của đuôi ngựa là một điều sỉ nhục. Bạn nên biết rằng những người dân ở đây cưỡi ngựa giống như những người Pháp với những chiếc roi dài; họ còn có những áo giáp làm bằng da thuộc, những chiếc giáo, khiên và cung nỏ; họ còn tẩm thuốc độc các mũi tên của họ. Tôi sẽ nói với các bạn một điều ô nhục mà họ đã làm trước khi Đại Hãn chinh phục họ: Nếu người đàn ông nào có vẻ mạnh khỏe, một người hào hoa hoặc bất cứ người nào khác đến ngụ trong nhà họ, họ liền đầu độc và ra tay giết chết người đó, không phải họ làm để cướp bóc tài sản, nhưng bởi vì họ tin rằng vẻ mặt mạnh khỏe của họ, thiện ý và lương tri sẽ ở lại với linh hồn y trong ngôi nhà mà y bị giết. Nhưng từ khi Đại Hãn chinh phục xứ sở được ba mươi năm nay, họ đã từ bỏ phong tục xấu xa này, bởi vì họ sợ Đại Hãn, ông không cho phép họ làm như thế.
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện