DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 9

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ 12 NGÀN CẬN THẦN THAM DỰ CÁC CUỘC LỄ NÀY

Các bạn nên biết rằng, Đại Hãn đã bổ nhiệm mười hai ngàn quan cận thần gọi là Quesitans như tôi đã nói; ông ban cho mỗi người mười ba bộ lễ phục hoàn toàn khác nhau, tức là tất cả mười hai ngàn bộ đều cùng màu, và mười hai ngàn bộ khác có màu khác, đến nỗi chúng có mười ba màu khác nhau; chúng còn được đính đá quý, kim cương và những thứ sang trọng khác rất có giá trị. Ngoài ra ông còn ban cho họ, mỗi người cùng với bộ lễ phục, mỗi năm mười ba lần, một dây nịt bằng vàng rất đẹp, rất sang và rất có giá trị, một đôi giày bằng da lạc đà thêu chỉ bạc một cách cực kỳ tinh xảo. Khi họ mặc lễ phục, mỗi người trông giống như một vị vua. Mỗi một trong số mười ba cuộc lễ, họ được lệnh phải phải mặc bộ lễ phục nào. Chúa thượng cũng có mười ba bộ giống như những bộ của các cận thần và cũng cùng màu; nhưng những bộ của ông sang trọng hơn, quý phái hơn và có giá trị hơn, đến nỗi chúng tương đương với biết bao kho báu.
Tôi sẽ nói cho các bạn biết một điều khác nữa mà tôi đã quên nói đến, nó có thể là điều kỳ diệu đối với các bạn. Vào ngày lễ, một con sư tử to lớn được đưa đến trước mặt Chúa thượng. Nhìn thấy ông, con sư tử liền phủ phục trước mặt ông và tỏ dấu thần phục và hình như cũng nhận biết ông là Chúa thượng của nó. Nó ở trước mặt ông như thế mà không cần bất cứ sợi dây xích nào. Quả là một điều kỳ lạ đối với tất cả những ai mới nghe nhưng chưa bao giờ thấy.

ĐẠI HÃN HẠ LỆNH CÁC THẦN DÂN MANG ĐẾN CHO ÔNG THỊT SĂN NHƯ THẾ NÀO?

Trong ba tháng Chúa thượng ở tại thành phố đứng đầu, đó là tháng Mười, tháng Giêng và tháng Hai, triều đình quy định rằng trong một thời hạn chừng bốn mươi ngày, những thợ săn phải săn bắn, bẫy chim và gởi đến phần thịt săn lớn nhất mà họ săn được, tức là heo rừng, nai cái, hoẵng, nai, sư tử, gấu, những loài thú rừng lớn khác và những loài có lông vũ và tất cả những con thú mà người ta muốn gởi đến cho Đại Hãn; người ta phải cho lấy toàn bộ lòng ruột ra, đặt chúng lên những chiếc xe và gởi đến cho Đại Hãn. Chỉ những người có số lượng thịt săn nhiều ở cách xa từ hai mươi đến ba mươi ngày đường mới làm chuyện này. Những người ở quá xa không thể gởi thịt thì gởi bộ da đã được hoàn toàn xử lý để Chúa thượng sử dụng chúng vào những nhu cầu vũ khí của quân đội.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG CON SƯ TỬ, BÁO VÀ CHÓ SÓI ĐƯỢC HUẤN LUYỆN ĐỂ ĐI SĂN

Các bạn cũng nên biết rằng Đại Hãn có những con báo được thuần hóa kỹ và tất cả đều săn bắt những con thú rất cừ. Ông còn có một số lượng lớn những chó sói được thuần hóa, tất cả đều bắt được thú và rất giỏi trong việc đi săn. Ông cũng có nhiều sư tử (dĩ nhiên là cọp) lớn hơn những con ở Babylonie, chúng có màu lông rất đẹp, vì chúng có những sọc dài đen, vàng, trắng; chúng được huấn luyện để săn heo rừng, bò rừng, gấu, lừa rừng, nai và các loại thú lớn và khỏe khác. Tôi cho các bạn biết rằng thật hết sức ngoạn mục khi nhìn thấy những con thú thật khỏe do những con sư tử đó săn bắt. Khi muốn đi săn với những con sư tử (cọp) này, người ta chở nó trên một chiếc xe kéo trùm kín và mỗi con đều có một con chó nhỏ đi kèm. Ngoài ra còn có một số lớn chim phượng hoàng, tất cả đều được huấn luyện để bắt chó sói, chồn, hoẵng, và dê con; chúng bắt được rất nhiều. Nhưng những con được huấn luyện để bắt chó sói rất lớn và rất khỏe, vì không có con sói nào có thể thoát khỏi móng vuốt của chúng.
Bây giờ tôi sẽ cho các bạn biết Đại Hãn đã cho giữ một số rất lớn những con chó to như thế nào.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ HAI ANH EM NUÔI DẠY CHÓ

Đại Hãn có hai người cận thần là hai anh em ruột; một người tên là Baia và người kia là Mingan. Người ta gọi họ là Cunia (tiếng Trung Hoa gọi là Rinen tching, những người thông thạo về chó), từ này có ý nghĩa: biết rành những con chó ngao. Mỗi người trong hai anh em chỉ huy mười ngàn người, tất cả đều mặc đồng phục cùng màu, và mười ngàn người khác mặc màu khác: những người này mặc màu đỏ chót, những người khác, màu xanh lơ. Mỗi lần họ đi săn với Đại Hãn, họ phải mặc những bộ áo mà tôi đã nói để dễ nhận nhau. Trong mỗi nhóm mười ngàn người, có hai ngàn người mỗi người có một con chó ngao hoặc hai hoặc nhiều hơn, nên có số lượng chó rất đông. Khi Chúa thượng đi săn, một trong số hai cận thần này cùng với mười ngàn người và năm ngàn con chó đi một phía ở bên phải, và cận thần kia với cùng quân số người và chó đi bên trái. Bên này và bên nọ tạo thành một vòng tròn duy nhất để khép lại phần đất dài chừng một ngày đường; vì vậy không có bất cứ con vật nào mà không bị tóm gọn. Thật là ngoạn mục khi chứng kiến cuộc đi săn, sự chuyển động của những con chó và những người đi săn; vì trong khi Chúa thượng cưỡi ngựa cùng với các cận thần, bẫy chim trong các truông; các bạn sẽ thấy những con chó to này chạy đến, con thì đuổi theo những con gấu, con thì lại đuổi theo những con nai, có con đuổi theo những con thú khác, săn đuổi chúng nơi này nơi nọ, khi thì chạy từ phía này khi thì chạy từ phía khác, thật là một cảnh tượng rất đẹp mắt và thú vị.

ĐẠI HÃN ĐI SĂN NHƯ THẾ NÀO?

Khi Chúa thượng ở tại thành phố đứng đầu trong ba tháng, tháng Mười Hai, tháng Giêng và tháng Hai. Ông lên đường vào ngày đầu tháng Ba và đi về hướng Nam, cho đến biển Océane, cách đó hai ngày đường. Ông dẫn theo mười ngàn người phụ trách chim săn và năm trăm chim ưng, những chim cắt và những loài khác nữa cùng với số lượng nhiều như chim bồ cắt để bắt chim trên các dòng sông. Nhưng các bạn đừng tưởng ông giữ tất cả tại một chỗ duy nhất; ông phân phối bố trí chúng khắp nơi, từng nhóm một trăm đến hai trăm và có khi hơn; sau đó ông ra lệnh cho chúng bắt chim; phần lớn chim săn được mang đến cho Đại Hãn. Tôi cho các bạn biết rằng khi Đại Hãn cho đưa chim ưng và các loài chim khác đi săn, ông luôn có mười ngàn người xung quanh ông; ông đặt từng nhóm hai người sao cho họ có mặt trên một khoảng đất rộng. Mỗi người có một cái còi và một miếng vải che mắt chim săn để họ có thể gọi và gìn giữ con chim của mình. Khi Chúa thượng ra lệnh thả những con chim săn ra, những người thả chúng không cần theo dõi phía sau, bởi vì những người mà tôi đã nói đều có mặt khắp nơi, họ theo dõi chúng kỹ đến nỗi chúng không thể bay bất cứ nơi nào mà không có những người bắt lại chúng. Nếu những con chim cần sự giúp đỡ, họ liền giúp chúng ngay.
Tất cả các con chim săn của Đại Hãn đều mang một thẻ kim loại gắn ở chân để dễ nhận biết, tất cả các con chim của các cận thần khác cũng thế, chúng đều mang thẻ ghi tên của chủ và của người săn sóc chúng. Bằng cách này, nếu chim có bị bắt, nó sẽ được trả về cho chủ ngay. Nếu người ta không biết nó thuộc về ai, người ta mang nó đến một vị quan phụ trách gọi là bularguesi, nghĩa là người giữ những vật vô chủ. Vì nếu có ai bắt gặp một con ngựa hoặc một cây kiếm, hoặc một con chim, hoặc một vật nào khác, mà người ta không biết nó thuộc về ai, người ta liền mang nó đến cho vị quan này để giữ gìn. Nếu người nào tìm thấy một vật như thế mà không mang đến ngay, người đó sẽ bị vị quan này phạt. Những người nào đánh mất thứ gì đó sẽ đi tìm vị quan này, nếu ông có giữ vật đó, ông sẽ trả lại ngay tức khắc. Vị quan này luôn ở chỗ cao nhất của toàn thể cộng đồng, với cờ hiệu riêng để những người đã mất hoặc nhặt được thứ gì dễ dàng tìm gặp ông. Bằng cách này, không có thứ gì mất mà không tìm được và hoàn lại cho người mất.
Trên đường đi theo Chúa thượng về phía biển Océane, người ta có thể thấy những thứ rất đẹp, những cuộc săn chim rất ngoạn mục, không có điều gì trên đời này thú vị cho bằng. Đại Hãn di chuyển trên bốn con voi chở một căn phòng bằng gỗ rất đẹp, toàn bộ bên trong được phủ bằng những tấm ra dát vàng và bên ngoài bằng bộ lông sư tử. Trong phòng này, ông giữ lại mười hai con chim ưng cừ khôi nhất. Bên cạnh ông còn có nhiều quan cận thần tháp tùng. Đôi khi Chúa thượng đi bách bộ trong phòng, các quan cận thần cưỡi ngựa đi xung quanh và hét to.
- Thưa Chúa thượng, những con hạc đang bay qua,
Ông liền cho mở cửa phòng ngay và nhìn ngắm chúng. Ông bắt lấy chim ông thích và cho nó bay đi. Thông thường, ông cho chim ưng hạ con mồi trước mặt ông. Thật hồ hởi và sung sướng khi nhìn thấy tất cả những cảnh đó trong lúc ông đang nằm trên giường, trong phòng và xung quanh ông có tất cả các cận thần cưỡi ngựa. Khi ông đi thật xa đến một nơi gọi là Cacciarmodum, ông cho dựng những lều nghỉ ở đó, những lều của ông, của các con trai, của các cận thần và các cung phi gồm mười ngàn lều thật đẹp và lộng lẫy. Tôi sẽ kể cho các bạn biết nhà nghỉ được xây dựng như thế nào. Căn lều nơi ông cho bố trí triều đình lớn đến nỗi hơn một ngàn người có thể ở thoải mái trong đó. Cửa lều quay về hướng Nam, và chính trong phòng này các cận thần và kỵ sĩ tạm trú. Trong một phòng khác nối liền và hướng về phía Tây, Chúa thượng ngự giá. Khi ông muốn nói chuyện với người nào, ông cho người đi tìm người đó bên cạnh. Sau căn phòng lớn, có một buồng cho Chúa thượng ngự. Ngoài ra còn có những lều và buồng khác nữa, nhưng chúng không gần kề với lều lớn.
Mỗi một phòng của căn lều lớn có ba cột gỗ và được trải thảm bằng da sư tử rất đẹp, sao cho gió mưa không thể len lỏi vào; bên ngoài chúng được phủ bằng da sư tử có vằn để chống lại những bất trắc của thời tiết. Toàn bộ bên trong được lót lông chồn hécmin và chồn zibeline, đó là những loại lông đắt nhất và đẹp nhất. Vì để lót một chiếc áo dài bằng lông zibeline, phải tốn hết hai ngàn livrơ vàng hoặc ít nhất là một ngàn. Những người Tácta gọi chúng là nữ hoàng của những bộ lông thú. Những căn lều mà tôi đã nói cho các bạn biết được lót và trang trí bằng hai thứ lông thú này một cách hết sức tinh xảo. Những dây thừng giữ vững các căn lều đều được làm bằng lụa. Tôi nói thật với các bạn là những căn lều này, tức là hai phòng và buồng có giá trị lớn đến nỗi bất cứ vua nào cũng không thể thanh toán nổi.
Xung quanh những căn lều này còn có những căn lều khác rất đẹp, được trang trí rất kỹ, trong đó có để vũ khí của Chúa thượng và là nơi ở của những người khác. Ngoài ra còn có những lều khác dành cho các loài chim săn và những người trông nom chúng. Trong cánh đồng này còn có những căn lều thuộc đủ thứ kiểu trông rất diệu kỳ. Toàn bộ giống như một thành phố lớn do số lượng người ở tại đó và đến đó hằng ngày từ khắp nơi. Vì có một đám đông các thầy thuốc, nhà chiêm tinh, người phụ trách chim săn và những người thuộc đủ mọi ngành nghề, và mỗi người đều có mang theo gia đình của mình, vì đó là phong tục.
Vậy là Đại Hãn ở lại nơi này cho đến đầu mùa xuân; trong suốt thời gian này, ông không làm gì khác hơn là chỉ bẫy chim trong các vùng xung quanh, trên các hồ, sông có nhiều chim và xuyên qua những miền đất xinh đẹp, nơi sinh sống nhiều chim hạc và thiên nga cũng như tất cả các loài chim khác.
Tất cả các thuộc hạ của ông ở xung quanh cũng không ngừng săn và bẫy chim và mang đến cho ông mỗi ngày một số lượng lớn thịt săn và chim chóc đủ loại. Tôi cho các bạn biết một điều khác nữa: không người nào dù là ai đi nữa, ở cách đó hai mươi ngày đường dám giữ bất cứ con chim nào cho thú bẫy chim của mình hoặc chó để săn, nhưng trong bất kỳ nơi nào khác, mỗi người có thể có bao nhiêu tùy ý mình. Hơn nữa, trong toàn lãnh thổ của Chúa thượng, không ai, dù bạo gan đến đâu đi nữa, cũng không dám bắt một trong những loài thú sau đây: thỏ rừng, nai, hoẵng và nai cái từ tháng Ba cho đến tháng Mười. Ai vi phạm sẽ bị xử tội. Nhưng có những người tuân phục lệnh của Chúa thượng đến nỗi khi đi đường, họ bắt gặp những con vật đó đang ngủ, họ không dám đụng đến chúng một chút nào. Vì vậy chúng sinh sôi nảy nở tràn đầy khắp lãnh thổ và Đại Hãn muốn bắt bao nhiêu cũng có. Nhưng qua thời hạn mà tôi đã nói với các bạn, từ tháng ba đến tháng mười, mỗi người đều có thể săn bắt tùy thích.
Khi Đai Hãn ngự tại nơi này từ tháng ba cho đến giữa tháng năm một cách thỏa thích, ông ra đi cùng với toàn bộ triều đình của ông và từ đó đi thẳng về cùng theo con đường mà ông đã đến cho đến tận thành phố lớn Canbaluc. Suốt đọc đường đi, ông vẫn tiếp tục săn bắn và bẫy chim để tiêu khiển.

ĐẠI HÃN ĐÃ CAI QUẢN TRIỀU ĐÌNH KHI BẪY CHIM TRỞ VỀ NHƯ THẾ NÀO?

Khi quay về thành phố Canbaluc, ông ở trong cung của mình ba ngày và không lâu hơn, ông cho tổ chức tiệc mừng cùng với những bà vợ của ông. Sau đó, từ cung điện ở Canbaluc, ông đi vào thành phố mà ông cho xây dựng và có tên là Ciandu, như tôi đã kể cho các bạn ở phần trước.
Ông ở đó mùa hè vì trời nóng nực cho đến ngày hai mươi tám tháng Tám, rồi mới quay lại thành phố Canbaluc.
Bạn nên biết rằng thành phố Canbaluc có rất nhiều nhà và dân cư; trong thành cũng như ngoài thành, như là một điều khó tin, vì có bấy nhiêu thị trấn là có bấy nhiêu cửa, tức là mười hai thị trấn rất lớn; ở đó có nhiều người hơn ở trong thành phố. Trong các thị trấn này có những nhà buôn và những người nước ngoài cư ngụ, họ đến từ khắp nơi để mang quà cho Chúa thượng hoặc để bán hàng cho triều đình; ở đó, có nhiều ngôi nhà đẹp như trong thành phố, không kể những ngôi nhà của các quan lớn và các cận thần đông đảo.
Các bạn nên biết rằng, trong thành phố, người ta không được phép chôn bất cứ người chết nào; những tín đồ ngẫu tượng mang xác đi hỏa thiêu ngoài thành phố và thị trấn, ở một nơi xa được quy định cho công việc này; đối với các tín đồ khác, họ chôn người chết xuống đất, như những người Ki tô hữu, người Sarrasin và những hạng người khác; người ta cũng mang xác ra xa các thị trấn, đến một nơi đã được quy định, nên đất đai có giá trị hơn và trong sạch hơn.
Ngoài ra, bất cứ phụ nữ nào bán dâm đều không được ở trong thành phố, nhưng tất cả phải ở trong các thị trấn. Có rất nhiều phụ nữ dành cho số người nước ngoài đông đảo đến mức lạ lùng. Vì tôi cho các bạn biết rằng có hơn hai mươi ngàn phụ nữ làm tiền bằng thân xác của mình. Tất cả đều vì cuộc sống, do đó, bạn thấy dân cư rất đông.
Trong thành phố này, có những hàng hóa mắc mỏ có giá trị lớn và những thứ từ phương xa tuôn đến, nhiều hơn ở bất cứ thành phố nào trên thế giới, và với số lượng lớn hơn bất cứ nơi nào, vì mọi người từ khắp nơi đều mang hàng đến; có thứ dành cho Đại Hãn, thứ khác dành cho triều đình, có thứ dành cho thành phố quá rộng lớn, thứ khác nữa dành cho các quan cận thần và kỵ sĩ đông đảo, có những thứ dành cho các đội quân lớn của Chúa đang trú đóng trong những vùng lân cận. Tất cả mọi thứ đều tuôn đến nhiều vô kể, nên không ngày nào trong năm là không có hàng ngàn chuyến xe chở lụa đi vào thành phố, nhờ đó, người ta làm nhiều loại vải bằng vàng, bằng lụa và những thứ khác nữa. Không có gì lạ, vì trong tất cả các vùng lân cận, không hề có vải lanh: vì vậy đều thích hợp nhất là làm mọi thứ đều bằng lụa. Thật ra một vài nơi, họ vẫn có bông vải và đay gai, nhưng họ không dùng bao nhiêu vì số lượng lụa quá nhiều, rẻ và có giá trị lớn hơn lanh và bông vải.
Quanh thành phố lớn Canbaluc, có hơn hai trăm thành phố nhỏ, những thành phố này lại gần những thành phố khác. Từ mỗi thành phố đều có những nhà buôn đến để bán hàng hóa và mua những hàng hóa khác cho các lãnh chúa. Tất cả đều tìm cách bán cho được hàng và mua vào những mặt hàng khác: Điều này chứng tỏ các thành phố này đều có ngành thương mại rất phát triển.
Bây giờ tôi sẽ nói các bạn về ngân hàng La Seque của Đại Hãn tọa lạc ngay trong thành phố, nơi đây Chúa cho đúc và khắc đồng tiền của mình, đồng thời cho các bạn thấy rõ vì sao Chúa thượng còn giàu có nhiều hơn nữa.

ĐẠI HÃN CHO LƯU HÀNH TRONG NƯỚC TIỀN GIẤY BẰNG VỎ CÂY NHƯ THẾ NÀO?

Trong thành phố Canbaluc, có ngân hàng Seque (tiếng Venise gọi là Zecca, ngân hàng) của Đại Hãn. Ngân hàng được thiết lập khiến cho mọi người có thể khẳng định rằng Chúa thượng nắm giữ bí quyết về thuật giả kim một cách hoàn hảo và phù hợp với lẽ phải, vì ông cho đúc một loại tiền mà tôi sẽ nói với các bạn sau đây. Ông cho lấy vỏ những cây dâu, thứ cây mà các con tằm làm ra lụa ăn lá. Cây này được trồng nhiều trong tất cả các miền. Người ta lấy một lớp vỏ mỏng và trắng nằm giữa lớp gỗ của cây và lớp vỏ dày bên ngoài; từ lớp vỏ mỏng này, người ta làm ra một thứ trông giống như là giấy nhưng rất đen (ý nói sậm hơn giấy thường). Khi làm ra những miếng bìa các tông, người ta cắt chúng ra theo cách này: loại nhỏ nhất trị giá một nửa tournesol; một loại khác hơi lớn hơn giá trị bằng một tournesol; một loại khác hơi lớn hơn một chút có giá trị bằng một nửa đồng bạc lớn Venise; một loại khác nữa, một đồng bạc lớn Venise; một loại khác, năm đồng bạc lớn; một loại khác, sáu đồng bạc lớn; một loại mười đồng bạc lớn; một loại bằng một đồng Byzance vàng; một loại bằng hai đồng Byzance vàng; một loại bằng ba đồng Byzance vàng; một loại bằng bốn đồng Byzance; một loại bằng năm đồng Byzance và cứ thế cho đến mười đồng Byzance vàng. Tất cả các tấm phiếu này đều đóng dấu ấn của Chúa thượng. Ông cho làm ra một số lượng lớn hàng năm, đến nỗi không có đồng tiền nào có giá trị như nó; toàn bộ kho tàng trên thế gian này cũng không sánh được với nó. Khi những tấm phiếu này được làm theo cách như tôi đã nói với các bạn, ông cho thanh toán các khoản chi tiêu, và phân phát chúng cho từng người trong tất cả các tỉnh, tất cả các vương quốc, tất cả các lãnh thổ, bất cứ nơi nào dưới quyền cai trị của ông. Không ai dám từ chối chúng, vì ai từ chối liền bị hành hình ngay, cho dù người đó được ông yêu mến như thế nào đi nữa. Ngoài ra mỗi người sử dụng chúng tùy thích vì bất cứ nơi nào họ đến, nếu thuộc quyền cai trị của Đại Hãn, họ đều có thể chi tiêu những tấm phiếu này và thanh toán cho các món hàng hóa mà họ đã mua hoặc bán, cũng tốt như tiền bằng vàng ròng. Hơn nữa các phiếu này nhẹ đến nỗi một phiếu trị giá mười đồng Byzance vàng cũng không nặng bằng một đồng Byzance.
Bạn nên biết rằng, tất cả các nhà buôn từ Ấn Độ hoặc các nước khác đến cùng với vàng bạc, đá quý hoặc ngọc trai không dám bán chúng trong thành phố này cho bất cứ người nào khác ngoài Chúa thượng. Ông chỉ định mười hai quan chức để làm công việc này, họ là những người khôn ngoan, thạo việc kinh doanh mua bán, và Chúa ra lệnh cho họ thanh toán thật rộng rãi với những tấm phiếu đó; các nhà buôn chấp nhận chúng một cách thoải mái, vì không người nào khác cho họ nhiều như thế, và họ được thanh toán ngay tại chỗ. Hơn nữa, với đồng tiền này, họ có thể mua tất cả những thứ họ muốn ở bất cứ đâu; nó cũng nhẹ nhàng hơn khi đi du lịch. Đến nỗi Chúa thượng càng mua nhiều hàng hóa mỗi năm bao nhiêu thì kho tàng của ông càng vô tận bấy nhiêu; ông thanh toán hàng hóa bằng một thứ tiền chẳng có giá trị gì đối với ông, nếu như các bạn biết rõ. Sau cùng, mỗi năm, ông nhiều lần công bố trong thành phố rằng tất cả những ai có vàng, bạc, ngọc trai và đá quý phải mang chúng vào ngân hàng Seque, nơi họ sẽ được thanh toán đầy đủ và hào phóng. Và họ tự ý mang chúng đến đổi chác, vì họ không thấy ai trả cho họ nhiều như thế. Thật là một điều kỳ diệu.
Bằng cách này, Chúa thượng có được toàn bộ kho tàng từ đất đai của ông.
Khi những tấm phiếu bị hỏng, mặc dù chúng khá bền, người ta vẫn mang chúng đến ngân hàng Seque để đổi lấy những tấm phiếu mới bằng cách chịu lời ba phần trăm. Nhưng nếu một quan chức hoặc một người nào khác, bất luận là ai đi nữa, cần vàng hoặc bạc hoặc đá quý hoặc ngọc trai để làm bát đĩa hoặc những thứ sang trọng khác, họ có thể đến ngân hàng Seque và mua tất cả những gì mình muốn bằng các tấm phiếu.
Tôi đã kể với các bạn cách thức và những lý do mà Đại Hãn có thể chiếm hữu và chiếm hữu nhiều kho báu hơn tất cả những người trên thế gian này, bây giờ tôi sẽ nói cho các bạn biết về các quan dưới quyền Đại Hãn ở trong thành phố này.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ 12 VỊ QUAN ĐẠI THẦN CAI QUẢN TẤT CẢ CÔNG VIỆC CỦA ĐẠI HÃN

Các bạn nên biết rằng Đại Hãn đã bổ nhiệm mười hai vị đại thần để ủy thác tất cả những việc cần thiết để quản lý ba mươi bốn tỉnh. Mười hai vị đại thần này đều ở chung trong một dinh thự rất đẹp và lộng lẫy trong thành phố Canbaluc. Dinh thự này gồm có nhiều nhà và nhiều phòng. Mỗi tỉnh có một thẩm phán và nhiều thư ký; tất cả đều ở trong dinh thự này, mỗi người ở trong căn nhà của mình. Vị thẩm phán và những thư ký này làm tất cả những việc cần thiết cho tỉnh mà họ được bổ nhiệm; điều này nằm dưới quyền điều động của mười hai vị đại thần. Ngoài ra khi có việc nghiêm trọng, mười hai vị đại thần đệ trình lên Chúa thượng. Ông sẽ thực thi điều mà ông cho là tốt nhất. Nhưng mười hai vị đại thần có quyền hành lớn đến nỗi họ có thể tuyển chọn các lãnh chúa cho ba mươi bốn tỉnh mà tôi đã nói với các bạn. Khi họ đã chọn được những người tài giỏi và hoàn hảo, họ trình lên cho Đại Hãn biết. Ông ta phê chuẩn và ban cho họ lệnh bài vàng biểu hiện quyền lãnh chúa. Cả mười hai vị đại thần này còn có đầy đủ quyền hành để quyết định các đội quân phải đi đến nơi nào. Họ phái các đội quân đi đâu, với số lượng bao nhiêu, việc này đôi khi phải đệ trình cho Chúa thượng biết. Họ được gọi là Seieng, nghĩa là: Hội đồng tối cao. Dinh thự họ ở cũng được gọi là Hội đồng tối cao. Đó là quyền lực cao nhất trong triều đình của Đại Hãn, vì họ có quyền thi ân cho ai tùy ý họ.
Bây giờ tôi sẽ kể cho các bạn Chúa thượng phái các sứ giả và những người đưa thư của ông như thế nào và họ có những con ngựa luôn sẵn sàng để đi thật nhanh như thế nào.

CÁC SỬ GIẢ VÀ NGƯỜI ĐƯA THƯ TỪ CANBALUC QUA CÁC VÙNG VÀ TỈNH NHƯ THẾ NÀO?

Từ thành phố Canbaluc tỏa ra nhiều đường lớn và nhỏ dần đến nhiều tỉnh khác nhau; tức là một đường đi về tỉnh này, và đường khác sang tỉnh khác. Vì vậy mỗi đường đều mang tên của tỉnh mà nó hướng đến. Khi các sứ giả của Chúa thượng khởi hành từ Canbaluc bằng con đường nào bất kỳ, sau khi đi được hai mươi lăm dặm, họ gặp được một trạm gọi là iamb, chúng ta gọi đó là trạm ngựa. Ở trạm này có một dinh thự rất đẹp, to lớn và sang trọng, nơi ở của các sứ giả. Những căn phòng đầy đủ những chiếc giường đẹp lộng lẫy, với những ra lót giường bằng lụa và được trang bị bằng tất cả những gì thích hợp cho các sứ giả. Nếu một vị vua nào đến đó, ông sẽ được tiếp đãi rất nồng hậu. Trong mỗi trạm này có hơn bốn trăm ngựa. Một vài trạm chỉ có hai trăm con ngựa, tùy theo nhu cầu cần có giữa hai trạm. Chính Chúa thượng là người quyết định số ngựa phải chuẩn bị cho các sứ giả, khi ông phái họ đến nơi nào đó. Các bạn nên biết rằng cứ mỗi hai mươi lăm hoặc ba mươi dặm, mỗi con đường đều có một trạm được trang bị như tôi đã nói. Khi các sứ giả đi qua một nơi vắng vẻ nào đó không có nhà cửa hoặc quán trọ, Chúa thượng sẽ cho làm ít nhiều những trạm ngựa như tôi đã kể, trừ khi phải cưỡi ngựa trong những ngày dài hơn; vì nếu các trạm khác ở cách nhau hai mươi lăm hoặc ba mươi dặm, những trạm này sẽ cách nhau từ ba mươi lăm đến bốn mươi lăm dặm. Nhưng chúng cũng được trang bị tốt như những trạm khác với tất cả những phương tiện cần thiết như ngựa và tất cả những vật dụng khác, sao cho các sứ giả của Chúa thượng đi đi lại lại, có đủ đồ trang bị theo như ý họ muốn, ở bất cứ nơi nào họ đến. Đó là điều vĩ đại nhất, sang trọng nhất mà chúng ta chưa bao giờ nghe thấy, và không bao giờ có vị hoàng đế nào, vị vua nào hoặc lãnh chúa nào giàu có đến như vậy. Vì đúng là có hơn ba trăm ngàn con ngựa ở trong các trạm này dành riêng cho các sứ giả; ngoài ra các dinh thự gồm hơn mười ngàn dinh, tất cả đều được trang bị những yên cương lộng lẫy như tôi đã kể.
Tôi sẽ kể với các bạn một chuyện khác nữa mà tôi đã quên, một việc làm rất tốt để thêm vào chuyện này. Đại Hãn ra lệnh giữa trạm này và trạm khác, trên bất cứ con đường nào, cứ mỗi ba dặm đều có một lâu đài với bốn mươi nhà xung quanh, trú ngụ ở đó là những người đi bộ mang tin tức của Chúa thượng bằng cách này: mỗi người mang một dây nịt lớn và rộng, mang đầy lục lạc (những người đưa thư đeo lục lạc vẫn còn tồn tại, nhưng đi ngựa, vào thời P. Hue năm 1846) để khi thi hành nhiệm vụ, mọi người nghe được từ xa; họ vừa đi vừa chạy từ lâu đài này đến lâu đài khác cách xa ba dặm, ở đó có một người khác cũng mang lục lạc, sẵn sàng chuẩn bị khi người này nghe người kia đến, và khi người kia vừa tiếp xúc với y, y liền lấy tin của người đó mang đến, với hành trang của một người viết chữ, và y chạy đến ba dặm khác. Như thế những người chạy thay nhau mỗi ba dặm, bằng cách này Chúa thượng có một số đông người chạy bộ mang thư và tin tức cách xa mười ngày đường đến cho ông trong một ngày và một đêm; vì họ đi ban đêm cũng như ban ngày; và khi cần thiết, họ đến từ cách xa một trăm ngày đường trong vòng có mười ngày và mười đêm, đây là một kỳ quan vĩ đại. Nhiều lần những người này mang đến cho Chúa thượng những trái cây hoặc những thứ khác ở cách xa mười ngày đường trong một ngày. Chúa thượng không lấy bất cứ thứ thuế nào đối với những người này, nhưng còn ban cho họ tiền thu thuế của ông nữa.
Hơn nữa, trong các lâu đài mà tôi đã nói với các bạn, cũng có những người mang những dây thắt lưng treo đầy lục lạc, để khi có nhu cầu cấp bách phải mang tin tức đến cho Chúa thượng, hoặc một vị đại thần nào nổi loạn hoặc một việc gì cấp bách khác, họ có thể vượt hai trăm năm mươi đến ba trăm dặm trong một ngày. Họ lấy ở trạm, nơi họ ở, những con ngựa hoàn toàn sẵn sàng, mạnh khỏe và chạy tốt, và họ chạy một mạch thật nhanh theo khả năng của con ngựa. Khi nghe họ chạy đến nhờ tiếng lục lạc, những người ở trạm sau sẽ chuẩn bị ngựa và người được trang bị sẵn, để một khi những người trước đến nơi, những người sau lấy những thứ của tốp trước mang, thư hoặc thứ gì khác, và bắt đầu chạy cho đến trạm ngựa tiếp theo. Những người này rất được kính trọng; bụng, chân, đầu họ được quấn băng để giúp họ chống lại sự mệt mỏi. Họ luôn mang theo bên mình một lệnh bài có hình chim ưng, nếu ngựa bị mệt lử hoặc có sự ngăn trở nào khác, họ có thể lấy ngựa của bất cứ người nào họ gặp trên đường đi và không ai dám từ chối lời yêu cầu của họ.
Dù ngựa trong các trạm có nhiều, nhưng Chúa thượng không tiêu tốn cho chúng tí nào. Tôi sẽ cho các bạn biết vì sao. Đại Hãn cho thiết lập danh sách những người sống gần các dinh thự và số ngựa mà họ có thể cung cấp: chúng được dành riêng cho trạm. Bằng cách này, tất cả các trạm của các thành phố, thị xã, thị trấn đều được cung cấp, ngoại trừ đối với những vùng hoang mạc mà Chúa thượng cho cung cấp bằng những con ngựa riêng của ông.
Bây giờ chúng ta sẽ bỏ qua những người đưa thư và những trạm ngựa này và chúng tôi sẽ nói với các bạn về lòng tốt vĩ đại mà Chúa thượng dành cho dân tộc ông hai lần mỗi năm.

ĐẠI HÃN GIÚP DÂN LÚC LÚA MÌ MẤT MÙA VÀ DỊCH GIA SÚC NHƯ THẾ NÀO?

Chúa thượng phái các sứ giả của mình đi khắp lãnh thổ, vương quốc và tỉnh để biết những người dân có bị thiệt hại nào về lúa mì do thời tiết xấu hoặc bão tố hoặc thảm họa nào khác hay không. Đối với những người bị thiệt hại mất mùa, ông không buộc họ đóng bất cứ loại thuế nào trong năm đó, thậm chí ông còn ban cho họ lúa mì của ông, để họ có lương thực để ăn và gieo cấy. Đó thật sự là lòng tốt vô biên của Chúa thượng. Khi mùa đông đến, tại nhà của những người có nuôi gia súc, ông cũng cho kiểm tra xem họ có bị thiệt hại do tỉ lệ gia súc chết hoặc dịch bệnh nào khác hay không. Ông không đòi hỏi bất cứ thứ thuế nào vào năm đó đối với những người bị thiệt hại, nhưng ông còn ra lệnh ban cho họ gia súc của ông. Bằng cách này, như các bạn đã nghe, Chúa thượng đã giúp đỡ cho thần dân của ông mỗi năm.

ĐẠI HÃN ĐÃ CHO TRỒNG CÂY Ở CÁC CON ĐƯỜNG NHƯ THẾ NÀO?

Các bạn nên biết rằng Chúa thượng còn ra lệnh là dọc theo tất cả những đường cái, nơi các sứ giả và những người khác qua lại, phải trồng những cây to, cây này cách cây kia hai hoặc ba bước chân, sao cho các con đường được nhìn thấy từ rất xa và những người đi đường không đi lạc vào ban ngày cũng như ban đêm; và người ta cũng bắt gặp những cây lớn ngay trên những con đường vắng vẻ, đây là một sự giúp đỡ lớn lao đối với khách bộ hành. Cần phải có cây xanh trên tất cả các con đường.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ RƯỢU MÀ NGƯỜI DÂN CATAY UỐNG

Bạn nên biết rằng phần đông dân Catay uống rượu như tôi sẽ nói với các bạn sau đây. Họ làm một thứ nước uống từ gạo với nhiều gia vị ngon, để cho nó ngon hơn bất cứ thứ rượu nho nào khác, vì nó rất ngon, trong và bổ. Nó làm cho say nhanh hơn bất cứ rượu nho nào khác, vì nó rất nóng.

ĐẠI HÃN LÀM VIỆC BÁC ÁI CHO NGƯỜI NGHÈO NHƯ THẾ NÀO?

Tôi đã kể cho các bạn biết Đại Hãn đã chia sẻ cho nhân dân tất cả những gì vào lúc giá cả đắt đỏ như thế nào, vì ông cho tích trữ vào thời kỳ giá lương thực rẻ, bây giờ tôi muốn kể cho các bạn biết ông đã làm việc bác ái và bố thí cho những người nghèo của thành phố Canbaluc như thế nào. Ông ra lệnh chọn ra những gia đình trong thành phố hay đau yếu, những gia đình có sáu, tám hay mười người hoặc hơn nữa, tổng cộng có một số rất lớn những người dân. Mỗi năm ông ban cho mỗi gia đình lúa mì và các loại lúa khác để đủ dùng trong suốt năm. Hơn nữa, những người nào muốn xin của bố thí mỗi ngày tại cung đình, mỗi người có thể nhận được một chiếc bánh mì nóng và lớn, và không có ai bị từ chối, vì đó là lệnh của Đại Hãn. Đến nỗi mỗi ngày có hơn ba mươi ngàn người đi xin bố thí. Đó là lòng tốt vĩ đại của Đại Hãn đã đoái thương dân chúng nghèo khổ. Vì vậy họ tôn sùng ông như một vị thần linh.
Tôi đã nói với các bạn tất cả những gì liên quan đến thành phố Canbaluc, bây giờ chúng ta sẽ rời khỏi thành phố này và đi vào nước Catay để nói với các bạn về những sự việc vĩ đại, phong phú ở đó.
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện