DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 8

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TRẬN ĐÁNH GIỮA ĐẠI HÃN VÀ ÔNG CHÚ NAIAN

Tôi sẽ nói với các bạn điều gì nữa đây? Khi trời sáng, Đại Hãn và toàn bộ quân đội của ông leo lên một ngọn đồi phía trên đồng bằng, nơi Naian vẫn còn yên giấc trong lều, giống như những người không tin điều gì khác ngoài chuyện không người nào có thể đến tận nơi để làm thiệt hại cho họ. Đó là lý do để họ cảm thấy hết sức an toàn và không đề phòng chút nào, vì họ không bao giờ biết gì về việc Đại Hãn đến, như tôi đã nói với các bạn, bởi vì các lối đi đều được canh gác và bởi vì chúng ở rất xa trong những nơi hoang vắng, cách xa Đại Hãn hơn ba mươi ngày đường. Nhưng Đại Hãn chỉ phi ngựa trong vòng hai mươi ngày với toàn bộ quân đội của ông, vì ông rất muốn gặp kẻ thù của ông.
Vậy là tôi sẽ nói với các bạn điều gì nữa đây? Đại Hãn cho quân tiến lên một ngọn đồi và cho dựng một cái tháp lớn bằng gỗ trên bốn con voi ghép lại với cờ hiệu cắm cao đến nỗi bốn phía xung quanh đều nhìn thấy. Quân lính của ông được bố trí từng đội 30 nghìn người, phần lớn những lính ngựa đều có một lính bộ cầm giáo ngồi sau lưng. Tất cả những lính bộ đều trang bị giáo theo cách đó; họ đông đến nỗi toàn bộ chiến trường đều đầy kín người. Quân đội của Đại Hãn đã được chuẩn bị như thế để giao chiến.
Khi Naian nhìn thấy cảnh tượng đó, tất cả quân của ông đều ùa đến cầm lấy vũ khí trong tâm trạng bàng hoàng sửng sốt. Họ chuẩn bị chu đáo và sắp xếp thành hàng ngũ thứ tự. Khi tất cả binh lính của hai phe sẵn sàng lâm trận, và chỉ còn chờ đánh nhau, người ta có thể nghe trỗi lên những âm thanh của nhạc cụ bằng nhiều cách; mọi người đều hát cao giọng, đó là tục lệ của những người Tácta trước khi lâm chiến; mỗi người hát và chơi một nhạc cụ hai dây nghe rất êm tai. Họ vẫn đứng theo đội ngũ, vừa hát vừa chơi đàn rất hay, cho đến khi vang lên tiếng trống định âm của các thủ lĩnh của họ. Vì từ khi tiếng trống này vang lên, cuộc chiến bắt đầu từ hai phía; nhưng trước khi có tiếng trống này, không người nào dám bắt đầu cuộc chiến. Khi tất cả các quân lính hàng ngũ chỉnh tề và sẵn sàng, vừa hát vừa chơi đàn, thì tiếng trống định âm lớn của Đại Hãn vang lên. Tiếng trống của Naian cũng bắt đầu trỗi lên. Từ đó cuộc chiến bắt đầu nổ ra rất mãnh liệt từ hai phía. Quân lính chạy ùa vào cùng với những chiếc cung, chuỳ, giáo, kiếm và nỏ. Họ sử dụng các loại vũ khí này một cách thành thạo đến mức diệu kỳ. Và tôi sẽ nói với các bạn điều gì nữa đây? Người ta có thể thấy những mũi tên bay ra từ hai phía, vì vậy không trung dày đặc những mũi tên không khác gì một cơn mưa. Người ta có thể thấy hàng tốp lính ngựa, đội trưởng lính ngựa của hai phía ngã xuống chết tươi. Số người chết này nằm la liệt khắp mặt đất. Cả hai phía đều nổi lên những tiếng la hét thật lớn vì số lượng những người chết và bị thương nhiều nên người ta không thể nào nghe được thần Sấm sét. Vì trận đấu rất ác liệt và gây chết chóc quá lớn, họ ra tay chém giết không trừ bất cứ thứ gì.
Nhưng tôi có kể với các bạn dài dòng lắm không? Bạn nên biết đây là trận đánh nguy hiểm nhất, đáng sợ nhất và ác liệt nhất chưa bao giờ xảy ra trong thời đại của chúng ta, người ta chưa bao giờ thấy đông quân lính nhất là lính ngựa trên một trận địa cùng một lúc, vì cả hai phe tính ra có hơn 700 ngàn lính ngựa chưa kể cả số lính bộ cũng có một số lượng đáng kể. Trận đánh kéo dài từ sáng đến trưa. Nhưng cuối cùng, như thuận theo ý trời và lẽ phải, Đại Hãn đã chiến thắng và Naian thua trận, vì khi quân đội của Naian nhận thấy sức mạnh vượt trội về vũ khí của quân lính Đại Hãn, họ không thể chịu đựng nổi và chạy trốn. Riêng Naian, ông bị bắt cùng với các tướng lĩnh của ông, họ đã đầu hàng Đại Hãn với toàn bộ vũ khí. Các bạn nên biết rằng Naian là tín đồ Ki tô giáo được rửa tội và mang thánh giá trên cờ hiệu, nhưng điều đó cũng không giúp gì cho ông, bởi vì ông chống lại chúa công của mình một cách rất sai trái; vì ông là người của Đại Hãn, giống như tất cả các tổ tiên của ông đã từng như thế và ông có thể gìn giữ đất đai cho Đại Hãn.

ĐẠI HÃN RA LỆNH GIẾT NAIAN NHƯ THẾ NÀO?

Khi Đại Hãn biết Naian đã bị bắt, ông hết sức vui mừng và ra lệnh tử hình ông ta ngay, để không ai có thể nói rằng Đại Hãn thương xót và tha thứ cho ông ta, vì ông cùng máu mủ với Đại Hãn. Ông bị quấn trong một tấm thảm và siết chặt đến nỗi phải chết ngạt. Đại Hãn bắt ông ta phải chết bằng cách này vì Đại Hãn không muốn máu của dòng dõi vương quốc ông bị đổ ra không khí, trên mặt đất và ngoài trời.
Khi Đại Hãn đã đánh thắng trận chiến này như các bạn đã nghe, tất cả các quan và các người thuộc tỉnh của Naian một lần nữa cam kết trung thành với Đại Hãn; họ thuộc về bốn tỉnh do Naian cai quản trước kia: Ciorcia, Cauly, Brascol và Sichuigui. Sau khi Đại Hãn đánh bại Naian, các dân tộc của bốn tỉnh phía Nam, những tín đồ ngẫu tượng, những người Sarrasin, Do Thái và nhiều người không tin vào Thiên Chúa, đã nhạo báng những người Ki tô giáo về Thánh giá mà Naian đã mang trên cờ hiệu của ông, điều mà họ không thể chịu đựng nổi và họ nói với những người Ki tô giáo:
- Các ngươi hãy xem Thập giá của vị thần của các ngươi đã giúp đỡ Naian, người Ki tô hữu đang tôn thờ vị ấy như thế nào?
Lời nói này truyền đến thấu tai Đại Hãn. Khi ông nghe được, ông hết sức quở trách những người đã nhạo báng các Ki tô hữu và nói với những người sau này rằng họ có thể tự an ủi, nếu Thập giá đã không giúp đỡ Naian, vì Thập giá đã có lý do chính đáng; Thập giá là điều tốt lành, nó không thể làm khác đi điều nó đã làm, vì Naian là kẻ bất trung và phản bội. Con người đã phản lại Chúa của mình. Vì vậy, việc xảy đến cho ông là điều xứng đáng.
- Thập giá của Thiên Chúa các người đã hành động rất chính đáng, vì nó không giúp ông ta chống lại luật pháp.
Ông ta nói điều này lớn tiếng đến nỗi mọi người đều nghe thấy. Những người Ki tô giáo trả lời với Đại Hãn:
- Thưa Chúa thượng rất vĩ đại, Chúa thượng nói rất hay, vì thập giá của chúng tôi không muốn giúp đỡ người sai trái, nên đã không giúp đỡ Naian, con người đã làm những điều dữ và bất nghĩa.
Từ đó những kẻ ngoại đạo không dám trách móc người Ki tô giáo một lời nào nữa, bởi vì họ nghe theo lời của chúa thượng nói với những người Ki tô giáo về thập giá mà Naian đã mang theo như là cờ hiệu nhưng nó đã không giúp ông ta được gì.

ĐẠI HÃN TRỞ VỀ THÀNH PHỐ CANBALUE NHƯ THẾ NÀO?

Sau khi Đại Hãn đánh thắng Naian theo cách mà các bạn đã nghe, ông trở về thành phố chính của Canbalue, và ở đó giữa những lễ hội và trò giải trí. Một lãnh chúa khác có tên là Caidu, hay tin Naian bị thất trận và bị giết, ông rất đau khổ và nằm yên lo chuẩn bị chiến tranh, vì ông sợ bị đối xử như Naian.
Bây giờ tôi sẽ nói với các bạn điều Đại Hãn thực hiện đối với các cận thần của ông có công trong cuộc chiến. Ai là người chỉ huy 100 người lính ông cho chỉ huy 1000. Ai chỉ huy một nghìn, ông cho chỉ huy 10 nghìn. Cứ thế ông ban cho mỗi người tùy theo công trạng xứng đáng của mình. Ông còn ban cho họ lệnh bài chỉ huy: Người chỉ huy 100 người nhận một lệnh bài bằng bạc, người chỉ huy một ngàn, một lệnh bài vàng hoặc bạc mạ vàng; người chỉ huy 10 nghìn, một lệnh bài vàng khắc hình đầu sư tử. Bây giờ tôi sẽ nói với các bạn trọng lượng của các lệnh bài và ý nghĩa của chúng. Những người có quyền lãnh đạo một trăm và một ngàn, lệnh bài của họ cân nặng 120 saies (các nhà chú giải chưa thống nhất, nhưng Rubruquis cho rằng các lệnh bài phải nặng). Lệnh bài có khắc hình sư tử được ban cho quyền lãnh đạo 10 nghìn, cũng nặng 120 saies. Trên tất cả các lệnh bài đều có ghi lệnh như sau: “Bởi sức mạnh của thần linh vĩ đại và ân huệ lớn lao mà người đã ban cho vương quốc của chúng ta, cầu cho uy danh của Đại Hãn được chúc phúc; ước gì tất cả những ai không vâng phục người sẽ phải chết và biến mất.
Tôi cũng cho các bạn biết rằng tất cả những ai có lệnh bài này cũng nhận được những chứng chỉ ghi lại tất cả những gì họ phải làm trong quyền lãnh chúa của họ. Người nào có quyền lãnh chúa trên 100 ngàn người hoặc lãnh dạo một đội quân nói chung có một lệnh bài bằng vàng nặng gần 300 saies, trên đó cũng có ghi điều luật giống như trên các lệnh bài khác, và phía dưới dòng chữ ghi có hình con sư tử và dưới con sư tử có mặt trời và mặt trăng, Tất cả những ai có lệnh bài cao quý này đều có đặc ân là bất cứ khi nào họ cưỡi ngựa, trên đầu phải có một tán che gọi là lọng mà người ta mang ở đầu một ngọn giáo biểu hiện cho quyền lãnh chúa cao trọng của họ, bất cứ khi nào họ ngồi, họ phải ngồi trên một chiếc ghế bằng bạc. Đại Hãn còn cho các Đại lãnh chúa này một lệnh bài có khắc một con chim ưng; điều này cũng dành cho các đại cận thần, để họ có đầy đủ quyền lãnh chúa và quyền xét xử như chính Đại Hãn, vì khi họ muốn phái các sứ giả đến nơi nào đó họ có thể trưng dụng ở bất cứ người lãnh đạo nào con ngựa hoặc bất cứ thứ gì khác theo ý muốn của họ.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ LỐl SỐNG CỦA ĐẠI HÃN

Đại Hãn, lãnh chúa của các lãnh chúa, được gọi là Cublay, có hình dáng như sau: ông có dáng vẻ tốt đẹp, không nhỏ, không lớn, nhưng tầm vóc trung bình; da thịt trông rất ra dáng và tất cả các chi đều cân đối, khuôn mặt trắng hồng như một bông hoa hồng, đôi mắt đen và đẹp, mũi thẳng và rất lịch sự. Ông có bốn bà vợ và ông xem tất cả bốn người đều là những bà vợ chính thức. Con cả của bốn bà vợ này, về pháp lý, phải là lãnh chúa của vương quốc khi người bố qua đời. Bốn bà vợ được gọi là nữ hoàng, nhưng mỗi người đều có một tên khác. Mỗi nữ hoàng đều cai quản một hậu cung rất đẹp và rất lớn, vì không có phụ nữ nào có đến ba trăm tiểu thư xinh đẹp và duyên dáng, nhiều quan giám mã can đảm và nhiều đàn ông, đàn bà khác đến nỗi mỗi bà đều quản lý đến 10 ngàn người trong hậu cung của mình. Mỗi lần Chúa thượng muốn ngủ với bà nào, ông cho mỗi người vợ đó vào phòng ông hoặc có khi ông đi tìm trong phòng của các bà. Ông còn có nhiều cung phi, tôi sẽ nói với các bạn vì sao như thế. Có một dòng họ người Tácta rất đẹp người được gọi là Ungeat (Oungouts), mỗi năm đều gởi đến cho Đại Hãn một trăm cô gái còn trinh, trong số những cô xinh đẹp nhất trong nước. Ông ra lệnh cho những cung phi kỳ cựu ở trong cung canh giữ họ: những người này bắt các cô ngủ với họ cùng giường để xem các cô có hơi thở thơm tho không và tất cả các chi của họ có lành lặn không. Những cô nàng xinh đẹp, tốt và lành lặn về mọi mặt sẽ được đưa vào phục vụ cho Đại Hãn bằng cách này: trong ba ngày và ba đêm, sáu trong số các cung phi này phục vụ Đại Hãn trong phòng và trên giường ông, họ phải làm theo tất cả những gì ông muốn. Sau ba ngày ba đêm, các cô ra đi và sáu cô khác lại vào thay thế. Và cứ thế, suốt năm, cứ mỗi ba ngày và ba đêm, các cung phi thay phiên hết sáu người này đến sáu người khác.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CON TRAI CỦA ĐẠI HÃN

Đại Hãn có hai mươi hai đứa con trai do bốn bà vợ, người con cả có tên là Cinghis, nhằm tôn vinh tình yêu của Cinghis Khan tốt bụng, lãnh chúa đầu tiên của những người Tácta. Vị Cinghis này, người con lớn nhất của Khả Hãn, phải trị vì sau khi bố ông qua đời. Chuyện xảy ra là khi ông ta mất, ông còn có một con trai tên là Temur, và người này phải trở thành Đại Hãn sau cái chết của ông nội, và đó là điều phải lẽ, vì ông là con trai của con trai trưởng của Đại Hãn. Vị Temur này khôn ngoan và can đảm, vì nhiều lần ông đã chứng tỏ như thế. Các bạn nên biết rằng Đại Hãn còn có hai mươi lăm người con trai khác do các cung phi của ông sinh ra, chúng tài giỏi và can đảm trong chiến trận. Mỗi đứa con là một vị quan lớn. Trong số những đứa con do bốn bà vợ chính thức, có bảy người là những vị vua của các tỉnh và vương quốc lớn nhất; tất cả đều giữ vững vương triều của mình, vì họ là những người khôn ngoan và dũng cảm, đó là điều phải lẽ, vì bố của họ, vị Đại Hãn, là người đàn ông khôn ngoan nhất và dũng cảm nhất trong mọi việc, vị chỉ huy quân đội tuyệt vời nhất, người lãnh đạo nhân dân và vương quốc cừ khôi nhất và có lòng can đảm nhất trong dòng tộc của những người Tácta.
Tôi đã nói với các bạn về Đại Hãn, các bà vợ và các con trai của ông, bây giờ tôi muốn kể cho các bạn biết ông ta đã cai quản triều đình của ông như thế nào.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CUNG ĐIỆN CỦA ĐẠI HÃN

Các bạn nên biết rằng Đại Hãn ở trong thành phố thủ đô của Catay, có tên là Canbaluc (Khân Baligh, tức là thành phố của Khan, Bắc Kinh ngày nay) trong ba tháng mỗi năm: tháng Mười Hai, tháng Giêng và tháng Hai. Trong thành phố này, ông có một cung điện lớn, tôi sẽ kể cho các bạn biết nó như thế nào.
Phía trước cung điện có một bức thành lớn hình vuông mỗi cạnh dài một dặm, tức là chu vi của nó dài bốn dặm. Nó rất đồ sộ, cao hơn mười bước chân, toàn bộ đều sơn màu trắng và có khoét lỗ châu mai. Ở mỗi góc tường là một dinh thự lớn rất đẹp, rất sang trọng, trong đó cất giữ bộ giáp của Đại Hãn: những chiếc cung kiểu Tácta, yên cương và hàm thiếc, dây cung và tất cả những quân trang quân dụng khác. Ngoài ra giữa hai dinh, có một dinh khác giống với các dinh ở bốn góc, vì vậy, dọc theo tường thành có tám dinh chứa đầy những bộ giáp của Đại Hãn. Nhưng các bạn nên biết rằng, trong mỗi dinh chỉ có một dụng cụ mà thôi, vì nếu như dinh này đầy những chiếc cung, dinh kia lại đầy yên cương, và dinh khác nữa thì lại đầy hàm thiếc, ở mặt phía Nam, bức tường này có trổ năm cửa ra vào, với một cửa chính ở giữa chỉ mở ra khi bộ giáp lớn ra chiến trường. Vậy là mỗi bên cửa chính, có hai cửa phụ, tức là có năm cửa với cửa lớn ở giữa. Người dân đi vào những chiếc cửa nhỏ này. Bên trong bức tường này, có một bức tường khác dài hơn là rộng. Bờ thành cũng có tám dinh hoàn toàn giống như tám dinh khác của tường bên ngoài, trong đó cũng cất giữ bộ giáp của Chúa thượng. Và cũng có năm cửa ở phía nam và một cửa khác ở mỗi cạnh, ở trung tâm của hai bức tường này là cung điện đồ sộ của Chúa thượng, nó được xây cất theo cách mà tôi nói với các bạn sau đây.
Bạn nên biết nó là cung điện lớn nhất như chưa bao giờ có. Nó không có tầng lầu nhưng chỉ có tầng trệt, nền điện cao hơn nền đất xung quanh đến mười paumes. Mái điện rất cao. Vách cung điện và các phòng đều dát vàng và bạc, có vẽ rồng, thú vật, kỵ sĩ và những hình ảnh của nhiều loài vật khác nhau. Mái che chỉ được làm bằng vàng, bạc và tranh hội họa. Căn phòng lớn và rộng đến nỗi sáu ngàn người có thể cùng ngồi ăn bên trong. Có bao nhiêu phòng là có bấy nhiêu điều kỳ diệu. Mỗi phòng đều rộng lớn, đẹp đẽ và sang trọng đến nỗi không có người nào trên thế gian này có thể bố trí cho đẹp hơn. Tất cả những rằm mái che đều có màu đỏ chót, vàng, lục, xanh lơ và những màu khác nữa. Chúng được đánh véc-ni đẹp và tinh xảo đến nỗi tỏa sáng như thủy tinh và cả cung điện tỏa sáng ra xung quanh rất xa. Các bạn nên biết rằng mái che này được làm chắc khỏe và vững vàng đến nỗi nó có thể tồn tại vĩnh viễn.
Giữa hai bờ thành mà tôi đã nói với các bạn, có những đồng cỏ rất đẹp và những cây ăn trái đủ loại cũng như đủ loại động vật như nai, hoẵng, dê đực, hươu cái và những con thú cung cấp xạ hương với liều lượng lớn, và tất cả những loài thú rất đẹp, rất đa dạng. Mọi chỗ đều tràn đầy, ngoại trừ những con đường để cho mọi người đi đi lại lại.
Trong một góc tường, một cái hồ rất đẹp có nuôi nhiều loài cá do Chúa thượng sai đưa vào. Khi nào muốn, ông cho bắt lên bao nhiêu tùy thích. Một con sông chảy vào hồ để rồi từ đó chảy ra, nhưng hồ được bố trí khéo léo đến nỗi không có con cá nào có thể thoát ra ngoài được, vì có những lưới sắt hoặc thép chắn lại. Về phía bắc, cách cung điện một tầm tên bắn, có một ngọn đồi nhân tạo, dài hơn một dặm và toàn bộ đều có cây bao phủ, những cây này không bao giờ rụng hết lá và luôn luôn xanh tốt. Tôi cho các bạn biết rằng, nơi nào có những loài cây xinh đẹp mà Chúa thượng biết đến, Chúa phái người đi tìm rồi bưng toàn bộ bộ rễ cùng với lớp đất bao quanh cây, sau đó đưa cây về trồng trên đồi; dù các cây có lớn bao nhiêu, các con voi cũng chuyên chở đi được. Bằng cách này, Chúa thượng có những loài cây đẹp nhất thế giới. Chúa đã cho bao phủ toàn bộ ngọn đồi màu gỉ sắt bằng màu xanh rất xanh, đến nỗi cây cối hoàn toàn có màu xanh lục, ngọn đồi toàn một màu xanh, nên người ta không nhìn thấy màu nào khác ngoài màu xanh. Vì vậy, nó được gọi là Núi Xanh (hiện nay gọi là King shan). Nó thật xứng đáng với tên gọi này. Trên đỉnh núi, có một dinh thự rất đẹp và rất lớn, bên ngoài cũng như bên trong đều toàn một màu xanh, đến nỗi núi, cây cối, dinh thự trông rất mát mắt và tuyệt vời do hương thơm diệu kỳ. Tất cả những ai ngắm nhìn nó đều trở nên vui vẻ và sung sướng. Đại Hãn đã cho xây dựng nó thành nơi giải trí thơ mộng, tiện nghi, nó đem lại sự thanh thản và niềm vui trong tâm hồn ông.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CUNG ĐIỆN CỦA CON TRAI ĐẠI HÃN, NGƯỜI KẾ VỊ ÔNG

Các bạn nên biết rằng gần cung điện này, Chúa thượng đã cho xây dựng một cung điện khác giống như cung điện của ông và không thiếu thứ gì. Ông truyền xây dựng nó cho con trai ông, khi nó lên ngôi Đại Hãn. Vì thế, ông cho xây hoàn toàn giống hệt cung điện của ông, để sau khi ông qua đời con trai ông có thể có tất cả những lối sống và thói quen của ông. Con trai này có ấn tín của vương quốc, nhưng không đầy đủ, khi nào Đại Hãn vẫn còn trị vì.
Tôi đã kể với các bạn về các cung điện của Chúa thượng và con trai ông, bây giờ tôi muốn nói với các bạn về thành phố lớn Catay nơi xây dựng các cung điện này, và tại sao chúng được xây dựng và xây dựng như thế nào. Thành phố được gọi là Canbaluc. Nói đúng hơn, xưa kia, ở đó có một thành phố to lớn và sang trọng có tên là Canbaluc, trong ngôn ngữ của chúng ta từ này có nghĩa là thành phố của Chúa thượng. Nhưng theo các nhà chiêm tinh, thành phố này có thể nổi loạn và gây nguy hại lớn cho vương quốc, nên Đại Hãn cho xây một thành phố Canbaluc mới gần thành phố cũ với một con sông chảy qua ở giữa. Ông ra lệnh buộc dân cư của thành phố cũ dời qua ở thành phố mà ông đã cho xây. Thành phố được gọi là Taidu (Tatou, tên nguyên thủy của Bắc Kinh). Nó to lớn như tôi sẽ nói với các bạn sau. Chu vi của nó là hai mươi bốn dặm. Mỗi mặt có sáu dặm, vì nó rất vuông vắn từ bên này cũng như bên kia. Nó được bao bọc hoàn toàn bằng những bức tường bằng đất phình ra dưới chân đến mười bước, nhưng trên cao hẹp lại, vì chúng co hẹp lại nên trên cao chỉ còn có ba bước. Toàn bộ bức thành được bố trí những lỗ châu mai màu trắng và cao hơn mười bước. Thành phố có mười hai cửa ra vào, và trên mỗi cửa có một dinh thự lớn rất đẹp, mỗi phía có ba cửa ra vào và năm dinh thự, bởi vì có một dinh thự rất lớn và rất đẹp ở mỗi góc. Các dinh này có những phòng rất lớn trong đó cất giữ vũ khí của những người canh gác thành. Các đường phố thẳng tắp đến nỗi người ta nhìn thấy chúng từ đầu đến cuối và cửa này nhìn thấy cửa kia ở hai đầu đường phố. Trong thành phố còn có những dinh thự rất lớn và đẹp, nhiều nhà trọ xinh xắn cũng như nhiều nhà ở. Giữa thành phố là một dinh thự rất lớn có một chiếc chuông to gióng lên ban đêm, để không ai được đi qua thành phố sau khi chuông điểm ba lần, không ai dám đi ra ngoài vào giờ đó ngoài phụ nữ đang đau đẻ hoặc người bệnh; hơn nữa, những người đi ngoài phố phải mang đèn theo. Như tôi đã nói với các bạn, mỗi cửa thành được lệnh canh gác bởi một nghìn người mang vũ khí, bạn đừng tưởng rằng họ canh gác bởi vì họ sợ một ai đó, họ chỉ làm việc đó nhằm để làm vinh danh và canh gác cho Chúa thượng đang ở trong thành phố này, và thứ đến họ không muốn các quan chỉ huy gây ra bất cứ tổn hại nào cho thành phố.
Tôi đã nói với các bạn về thành phố, bây giờ tôi sẽ nói cho các bạn biết Chúa thượng cai quản triều đình ra sao và về những việc làm khác của ông.

ĐẠI HÃN ĐƯỢC CANH GÁC BỞI 12 NGÀN LÍNH NGỰA NHƯ THẾ NÀO?

Bạn nên biết rằng Đại Hãn được canh gác, vì sự cao trọng của ông, bởi 12 ngàn lính ngựa, những người này được gọi là Quesitans (tiếng Mông Cổ là Kesietou, những con người hạnh phúc), từ này trong tiếng Pháp có nghĩa là: kỵ sĩ trung thành với Chúa thượng. Ông được canh gác không phải vì sợ bất cứ người nào, nhưng vì sự cao sang vĩ đại của ông. Mười hai ngàn người này nằm dưới quyền chỉ huy của bốn vị quan, mỗi vị quan chỉ huy ba ngàn người, và ba ngàn người này ở cung điện của Chúa thượng ba ngày và ba đêm, ăn uống luôn trong cung. Sau đó họ ra đi và ba ngàn quân khác đến thay thế cùng lúc, rồi ra đi để cho những người khác trở lại, sao cho đội canh gác luôn luôn có ba ngàn lính ngựa.
Khi Đại Hãn ngồi vào bàn để chủ trì một cuộc hội họp nào đó, ông ngồi theo cách như sau. Bàn của ông được đặt cao hơn các bàn khác rất nhiều. Ông ngồi ở phía Bắc, sao cho khuôn mặt quay về hướng Nam, người vợ đầu của ông ngồi bên cạnh ông bên tay trái. Bên tay phải, thấp hơn một chút, có các con cháu, họ hàng và những người thuộc hoàng tộc ngồi. Họ ngồi thấp đến mức đầu của họ chỉ đến ngang chân của Chúa thượng.
Các quan đại thần khác ngồi thấp hơn nữa ở những bàn khác. Tiếp theo là các bà vợ, vì tất cả các bà vợ của con Đại Hãn, của các cháu và các bà con khác của ông đều ngồi bên tay trái, thấp hơn nữa. Vì mỗi người ngồi ở nơi do Chúa thượng bố trí, các bàn phải được sắp xếp sao cho Chúa thượng có thể nhìn thấy tất cả từ đầu đến cuối, cho dù số lượng bàn nhiều đến đâu đi nữa. Bên ngoài căn phòng này, có hơn bốn mươi ngàn người đang túc trực, và có nhiều người mang quà tặng, những người từ các nước ngoài mang những vật xa lạ đến dâng cho Chúa thượng. Trong một nơi của căn phòng mà Đại Hãn đang ngồi, có đặt một chiếc vò bằng vàng ròng đựng rượu nhiều bằng một thùng rượu thông thường, mỗi góc của vò rượu lớn này, đều có một vò nhỏ hơn, sao cho rượu của vò lớn chảy vào trong các vò rượu nhỏ bao quanh; tất cả đều đầy thức uống ngon có nêm gia vị hảo hạng chất lượng cao. Người ta rót rượu vào những chiếc cốc lớn bằng vàng ròng, lớn đến nỗi mười người uống cũng đủ. Người ta đặt chiếc cốc này giữa hai người, với hai cốc hanap nhỏ bằng vàng, có vai để họ có thể rót rượu ổ chiếc cốc đặt ở giữa. Các bà vợ cũng có những chiếc cốc riêng. Những chiếc cốc lớn và những chiếc cốc hanap này giá trị bằng cả một kho tàng lớn, vì Đại Hãn có một số lượng cốc chén này và những thứ khác bằng vàng bạc lớn đến nỗi bất kỳ ai không nghe nói và không nhìn thấy cũng không thể nào tin được.
Các bạn cũng nên biết rằng những người dâng thức ăn, thịt và đồ uống cho Đại Hãn đều là các cận thần. Miệng và mũi của họ được che lại bằng những tấm vải nạm vàng và lụa để hơi thở hoặc mùi vị của họ không thấm vào trong thịt và trong đồ uống của Chúa thượng. Khi Chúa sắp uống, tất cả các nhạc khí với số lượng nhiều và đủ loại bắt đầu trỗi lên. Khi ông cầm cốc trên tay, tất cả các cận thần và tất cả những người hiện diện đều quỳ gối và tỏ dấu thần phục; bấy giờ Chúa thượng mới uống; mỗi lần ông uống, mọi người đều làm như các bạn đã nghe nói.
Tôi sẽ không nói với các bạn nhiều về các món ăn, bởi vì mọi người đều có thể tin là số lượng thức ăn rất nhiều và đủ thứ. Những bà vợ của các cận thần và của các kỵ sĩ cũng ăn chung với các phu nhân khác. Sau khi ăn, các bàn ăn được dọn dẹp, một số lớn các nghệ sĩ tung hứng và nhảy múa điêu luyện bước vào phòng, trước mặt Chúa thượng và tất cả những người khác, tất cả mọi thứ đều tạo nên không khí lễ hội trước mặt mọi người, đến nỗi ai nấy cũng đều hân hoan vui sướng. Khi mọi việc hoàn tất, mọi người lui ra và trở về nhà.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CUỘC LỄ MÀ ĐẠI HÃN TỔ CHỨC NHÂN NGÀY SINH CỦA ÔNG

Tất cả những người Tácta đều mừng ngày sinh của mình mỗi năm. Đại Hãn sinh vào ngày 28 âm lịch của tháng Chín. Vào ngày này, người ta tổ chức ngày lễ lớn nhất của cả năm, ngoại trừ lễ mà họ tổ chức vào ngày đầu năm như tôi sẽ kể cho các bạn sau.
Vào ngày sinh của mình, Đại Hãn mặc những bộ y phục nạm vàng. Ngày hôm đó, mười hai ngàn cận thần và kỵ sĩ cùng ăn mặc rất đẹp, cùng màu sắc, cùng kiểu giống như của Chúa thượng, không phải là y phục của họ cũng đắt, nhưng đó là những y phục bằng lụa dát vàng và một chiếc thắt lưng bằng vàng; những thứ y phục này đều do Chúa thượng ban cho họ. Những bộ y phục này có đính nhiều ngọc trai và đá quý nên giá trị của chúng là hơn mười ngàn đồng vàng Byzance (một đồng vàng Byzance bằng 12 franc vàng, tổng cộng là 120.000 franc vàng trước năm 1914 và 24 triệu vào thời đại nhôm). Nên biết rằng, mỗi năm 13 lần, Đại Hãn ban cho mỗi một trong số 12 ngàn cận thần và kỵ sĩ những bộ y phục như tôi đã nói. Mỗi lần ông đều mặc bộ y phục cùng màu với họ, và mỗi lần màu y phục đều khác nhau. Qua đó, các bạn có thể thấy đó là một điều cực kỳ vĩ đại mà không một vị vua nào trên thế gian này có thể làm hoặc duy trì nó, ngoại trừ Đại Hãn ra.
Cũng trong ngày sinh này, tất cả những người Tácta trên thế giới và tất cả các miền, tỉnh dưới quyền cai trị của ông đều dâng lên cho ông những món quà đắt giá, mỗi người tùy theo sự giàu có của mình. Ngoài ra còn có nhiều người khác đến với những quà tặng to lớn để xin ông ban cho những ân huệ. Chúa thượng bổ nhiệm mười hai cận thần để phụ trách việc ban cho từng người ơn gì thích hợp với họ. Hơn nữa, vào ngày hôm đó, tất cả những tín đồ ngẫu tượng, những người Sarrasin, những người Ki tô giáo, những dân tộc khác nữa đều đọc kinh cầu nguyện, mỗi người cầu nguyện thần linh của mình, bằng những tiếng hát rộn ràng dưới ánh nến tỏa sáng và hương thơm ngào ngạt để thần linh che chở bảo vệ cho Chúa thượng và ban cho ông sống lâu, vui vẻ và tràn đầy sức khỏe.
Bầy giờ chúng tôi sẽ nói với các bạn về một đại lễ khác mà họ mừng vào ngày đầu năm và được gọi là Lễ Trắng.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐẠI LỂ MÀ ĐẠI HÃN TỔ CHỨC VÀO NGAY ĐẦU NĂM

Người ta mừng ngày đầu năm vào tháng Hai. Đại Hãn và tất cả thần dân của ông mừng lễ như tôi sẽ kể cho các bạn sau đây. Theo tục lệ, Đại Hãn và tất cả các thần dân đều mặc những chiếc áo dài trắng; ngày hôm đó, mỗi người, đàn ông cũng như đàn bà, trẻ em cũng như người lớn, đều mặc bộ đồ trắng. Họ làm điều đó, bởi vì bộ đồ trắng hình như là thứ mang lại sự may mắn cho họ, họ mặc nó vào ngày đầu năm để suốt năm họ được khỏe mạnh và sung sướng. Ngày hôm đó, tất cả người dân của tất cả các tỉnh, vùng, vương quốc và miền thuộc quyền cai trị của Đại Hãn đều mang đến cho ông những món quà lớn bằng vàng, bạc, ngọc trai, đá quý và nhiều bộ y phục sang trọng. Họ làm như vậy để suốt năm Chúa thượng có thể có nhiều châu báu, niềm vui và hoan lạc. Ngoài ra họ còn tặng cho nhau những vật có màu trắng, họ ôm nhau, hôn nhau và hết sức hân hoan để cho suốt năm họ có được niềm vui và có được sự may mắn bất ngờ. Bạn nên biết rằng, trong ngày này, người ta dâng cho Chúa thượng hơn một trăm ngàn con ngựa trắng rất đẹp và rất oai vệ. Trong ngày này, tất cả các con voi của Chúa thượng, gồm năm ngàn con, đều được cho mặc những tấm drap thêu rất đẹp và rất lộng lẫy; mỗi con voi đều mang trên lưng hai rương chứa đầy những chén đĩa của Chúa thượng, chúng cũng mang những yên cương cùng màu của ngày Lễ Trắng. Đến với Đại Hãn còn có một số lớn lạc đà cũng được bao phủ bằng những tấm vải sang trọng và chở những vật dụng cần thiết cho cuộc lễ này. Tất cả mọi thứ đều diễn hành qua trước mặt Đại Hãn, và đó là cảnh tượng ngoạn mục nhất trên thế gian này.
Tôi cũng cho các bạn biết rằng vào buổi sáng của ngày lễ, trước khi dọn bàn ra, tất cả các vua, tất cả các cận thần, tất cả các bá tước, quận công, hầu tước, nam tước, hiệp sĩ, chiêm tinh gia, hiền triết, người phụ trách chim săn, và nhiều sĩ quan khác của tất cả các vùng đất xung quanh đều đến tề tựu trong phòng đại sảnh trước mặt Chúa thượng. Những người nào không thể vào thì ở ngoài tại nơi Chúa thượng nhìn thấy được. Họ được bố trí như sau: trước tiên là các con trai, các cháu và những người trong hoàng tộc của Đại Hãn, thứ đến là các vua, các quận công, rồi sau đó là mỗi người tùy theo tầng lớp thích hợp. Khi mỗi người ngồi vào chỗ của mình, một trong các nhà hiền triết đứng lên và hô to tiếng:
- Hãy cúi mình và bái phục.
Toàn thể cử tọa liền cúi mình đặt trán xuống đất và đọc lời cầu nguyện hướng về phía Đại Hãn và thờ lạy ông cứ như ông là một vị thần linh. Bằng cách này, họ cúi đầu bái lạy ông bốn lần. Sau đó họ đi đến một bàn thờ được trang hoàng rất đẹp, và trên bàn thờ này có một cái bàn màu đỏ chót trên đó có ghi tên của Đại Hãn. Họ cầm một bình hương bằng vàng thật đẹp để xông hương bàn thờ và chiếc bàn đỏ chót ở trên một cách hết sức cung kính. Sau đó, mỗi người quay về chỗ của mình. Khi họ làm, tất cả các việc đó, họ dâng các tặng phẩm như tôi đã nói với các bạn ở trên, đó là những tặng phẩm rất sang trọng và rất có giá trị. Khi dâng các tặng phẩm xong và Đại Hãn đã nhìn thấy tất cả những tặng phẩm này, người ta cho dọn tất cả các bàn ăn ra. Khi dọn bàn xong, mỗi người liền ngồi vào chỗ của mình theo thứ tự như tôi đã nói với các bạn ở trước. Khi mọi người ăn xong, những người làm trò đến trình diễn cho mọi người xem như bạn đã nghe nói. Khi mọi việc kết thúc, mọi người mới quay về nhà.
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện