DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 7

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG NGƯỜI CAI TRỊ SAU CINGHIS KHAN VÀ NHỮNG PHONG TỤC CỦA NGƯỜI TÁCTA

Bạn nên biết rằng sau Cinghis Khan vị lãnh chúa đầu tiên của họ có Cui Khan trị vì; vị thứ ba là Bacui Khan; vị thứ tư là Alton Khan; vị thứ năm là Mongy Khan (danh sách do Marco Polo đưa ra không chính xác: do không nhớ hoặc kém thông tin, ông lầm lẫn trong việc nối tiếp nhau và các tên). Vị thứ sáu là Cublay Khan, lãnh chúa hiện nay và mạnh hơn năm lãnh chúa trước ông ta, cho dù năm vị đó gộp chung lại. Tôi sẽ nói thêm cho các bạn điều này: nếu tất cả những người Ki tô giáo và tất cả những người Sarrasin trên thế giới, các vua chúa và các hoàng đế của họ họp nhau lại, họ cũng không có nhiều quyền lực và cũng không thể làm nhiều việc như Cublay (Khoubilai Khan. Đừng quên Marco Polo là Bộ trưởng kiêm Đại sứ của ông; sự nhận định của ông nói lên điều này) có thể làm. Ông ta là chúa của những người Tácta trên thế giới, của vùng Levant cũng như Porent. Tôi sẽ cho các bạn thấy quyền hành to lớn của ông ta trong quyển sách này. Các bạn nên biết rằng tất cả các khả hãn hậu duệ của lãnh chúa đầu tiên là Cinghis Khan được an táng trong một ngọn núi có tên là Altai. Dù lãnh chúa có chết ở bất cứ nơi đâu người ta cũng sẽ chôn ông trong ngọn núi này, bên cạnh những vị khác, cho dù ông ta có chết cách đó cả trăm ngày đường. Tôi sẽ kể cho các bạn một điều hết sức kỳ diệu: khi họ đưa xác đi chôn, tất cả những người họ bắt gặp trên đường đi đều bị giết bởi những kẻ mang xác và họ nói: Các ngươi hãy đi phục vụ lãnh chúa của bạn trong thế giới khác.
Vì họ tin tưởng như vậy. Họ cũng làm như thế đối với những con ngựa, vì khi lãnh chúa chết họ giết những con ngựa chiến nhất để lãnh chúa dùng bên kia thế giới theo niềm tin của họ. Và tôi nói sự thật với các bạn rằng khi Mongu Khan chết, hơn hai mươi ngàn người có mặt trên đường đi đều bị giết như tôi đã nói với các bạn.
Vì chúng tôi đã bắt đầu nói về những người Tácta, tôi sẽ nói các bạn về những việc khác. Mùa đông, dân cư ở trong những đồng bằng và những nơi ấm có nước, rừng và đồng cỏ cho gia súc của họ. Mùa hè họ tìm những nơi mát mẻ trên các dải núi và trên những thung lũng. Họ cất những căn nhà bằng cây sào (đều làm bằng những cây sào, nỉ và dây). Những căn nhà có hình tròn. Họ mang chúng theo đến bất cứ nơi nào họ đến, vì họ buộc chung các cây sào chắc chắn và gọn gàng đến nỗi họ mang đi không mấy khó khăn. Mỗi lần họ dựng và căng các căn lều, cửa lều đều quay về hướng Nam. Họ có những xe kéo lợp bằng nỉ đen không cơn mưa nào có thể thấm qua được, họ dùng những con bò và lạc đà để kéo xe. Trong xe, họ chở vợ và con gái của họ. Phụ nữ mua bán và làm tất cả những công việc cần thiết cho chồng và gia đình họ, vì đàn ông không làm việc gì ngoài săn bắn, bẫy chim, đánh trận và chế tạo vũ khí với tư cách là những người hào hiệp. Họ sống bằng thịt, sữa và phó mát và ăn tất cả các loại thịt ngựa, chó, chuột Ai Cập, vì chúng có nhiều trong các đồng bằng, trong các hang dưới mặt đất. Họ uống sữa ngựa. Hơn bất cứ thứ gì khác, họ không bao giờ đụng đến vợ người khác vì họ coi việc đó là một điều xấu xa và đê tiện. Phụ nữ đều tốt và chung thủy với chồng, và làm rất tốt công việc riêng dành cho họ.
Họ cưới xin bằng cách này: Mỗi người có thể lấy đến một trăm người vợ nếu họ có khả năng nuôi được. Họ cho bố mẹ vợ một của hồi môn. Họ thích và săn sóc kỹ hơn những người vợ đầu tiên của họ. Họ sinh nhiều con hơn các dân tộc khác vì họ có nhiều vợ như tôi đã nói. Họ có thể lấy em vợ nếu bố họ mất, họ có thể lấy vợ của bố, trừ khi người đó không phải là mẹ của họ. Chỉ là con trưởng mới làm việc đó, những đứa con khác thì không. Họ cũng có thể lấy vợ của anh trai họ khi người này mất. Khi họ lấy nhau, họ làm đám cưới rất linh đình.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THẦN LINH CỦA NHỮNG NGƯỜI TÁCTA VÀ LUẬT PHÁP CỦA HỌ

Bạn nên biết rằng luật pháp (Đức tin) của họ là điều mà tôi sẽ nói các bạn sau đây. Họ thờ một vị thần mà họ gọi là Nacigay và cho rằng vị đó là thần Thổ địa, thần giữ gìn con cái, gia súc và lúa mì. Họ rất kính trọng và tôn vinh thần, và mỗi người đều giữ một tượng của thần trong nhà họ, tượng được làm bằng nỉ và vải drap. Họ cũng làm ra tượng của vợ và các con của thần. Họ đặt tượng người vợ bên trái và các con cũng được nặn giống như thần. Khi họ ăn họ lấy thịt mỡ thoa lên miệng của thần, của vợ và của con cái. Sau đó họ lấy một ít nước sốt thịt và rưới trước cửa nhà và họ nói rằng vị thần của họ và gia đình của họ đều có phần ăn riêng.
Họ uống sữa ngựa được chế biến theo cách như rượu trắng và uống rất ngon. Họ gọi đó là chemin (Quemis theo một vài văn bản; Cormos theo Rubruquis) hơn bất cứ thứ gì khác, vì họ là những tay bắn cung cừ và là những người giỏi nhất thế giới. Trên lưng họ mang những bộ áo giáp bằng da thú rất bền. Họ là những chiến binh giỏi và dũng cảm khi ra trận. Họ chịu đựng công việc giỏi hơn các dân tộc khác nhiều lần, khi cần họ có thể đi hàng tháng mà không cần dùng thức ăn nào hơn là sữa ngựa và thịt những con thú mà họ giết bằng cây cung của họ. Những con ngựa của họ ăn cỏ trên những cánh đồng, họ không cần mang theo lúa mạch, rơm hoặc lúa đại mạch. Những con ngựa này rất vâng lời chủ của chúng. Khi cần, họ có thể ngồi suốt đêm trên lưng ngựa với toàn bộ vũ khí của họ, còn ngựa vẫn tiếp tục gặm cỏ. Họ là những dân tộc trên thế giới chịu đựng được những nỗi vất vả cực khổ nặng nề nhất và có nhu cầu tiêu xài ít nhất vì vậy họ là những người rất giỏi chinh phục đất đai và các vương quốc. Quả đúng như vậy, như các bạn đã nghe và sẽ nghe trong quyển sách này vì điều chắc chắn là hiện nay họ đang làm chủ cả một phần đất lớn nhất trên thế giới.
Họ sống gọn gàng ngăn nắp theo cách mà tôi sẽ nói với các bạn sau. Các bạn nên biết rằng khi lãnh chúa Tácta ra trận, ông mang theo một trăm ngàn kỵ binh. Ông bổ nhiệm một sĩ quan cho mỗi mười hai người, mỗi một trăm người, mỗi một ngàn người và mỗi một mười hai ngàn người, đến nỗi ông chỉ cần chỉ huy mười người là đủ, và mười người này chỉ cần điều khiển mười người khác và nhờ như vậy mỗi người đều thực hiện công việc của mình rất tốt và trật tự cứ như là điều kỳ diệu. Bạn nên biết rằng họ gọi binh đoàn một trăm người là một tục, một ngàn người là một toman và những tên gọi khác cho hàng trăm, ngàn, hàng chục. Khi các đội quân di chuyển họ luôn có hai trăm người cưỡi ngựa, nai nịt gọn gàng, luôn đi trước hai ngày để thám thính. Họ cũng làm giống hệt ở đằng sau và bai bên cánh nhờ cách theo dõi khắp phía, quân đội của họ không bao giờ bị bất ngờ. Khi các đội quân phải đi xa hơn, họ không mang theo yên cương nhưng chỉ có hai túi da để đựng sữa uống, một nồi đất nung để nấu thịt ăn, và một căn lều để che mưa nắng. Khi cấp bách họ cưỡi ngựa đi mười ngày không cần mang theo lương thực và đốt lửa. Bấy giờ, họ sống bằng máu của những con ngựa của họ bằng cách chọc vào động mạch chúng và để máu ngựa chạy vào miệng họ; họ uống hả hê sau đó họ đóng vết thương lại.
Họ có sữa khô tựa như bột nhão, họ mang theo đường loại sữa này. Khi muốn ăn họ cho nó vào nước và lắc mạnh đến khi nó loãng ra và họ hút nước đó. Khi họ ra trận chống lại kẻ thù, họ chiến thắng kẻ thù bằng cách sau: họ không xấu hổ khi chạy trốn và khi chạy trốn, họ quay lại và bắn tên vào kẻ thù và gây thiệt hại cho chúng. Họ tập cho ngựa quen quay lại nhanh đến nỗi đó là điều kỳ diệu, còn nhanh hơn những con chó nữa. Họ vừa chiến đấu vừa chạy trốn cũng cứ như khi họ đánh giáp lá cà, vì khi chạy trốn, họ bắn tên một cách hết sức điêu luyện vào những kẻ đuổi theo họ và đinh ninh rằng đã thắng trận. Khi họ đánh thắng và giết hoặc làm bị thương ngựa hoặc người, họ quay lại và tất cả đều lăn xả vào cuộc chiến một cách tài tình và trật tự với tiếng hét thật to đến nỗi họ loại trừ kẻ thù ra khỏi vòng chiến thật hhanh, vì họ rất can đảm, rất mạnh và rất chai lì.
Tất cả những điều tôi đã kể cho các bạn là cuộc sống và thói quen của những người Tácta xưa. Nhưng tôi cho các bạn biết rằng hiện nay, họ rất suy thoái, những người sống ở Catay đã sống theo tập tục của những người thờ ngẫu tượng trong vùng và họ đã rời bỏ luật pháp của họ, còn những người sống tại xứ Levant (ông muốn nói ở xứ Levant thuộc Châu Âu tức là ở phía Tây Châu Á) đã nhiễm theo lối sống của những người Sarrasin.
Họ thi hành quyền xét xử bằng cách này. Khi có ai ăn cắp một vật nhỏ, người ta nhân danh quyền lãnh chúa đánh họ bảy, hoặc mười bảy, hoặc hai mươi bảy, hoặc ba mươi bảy, hoặc bốn mươi bảy và đến một trăm bảy gậy tùy theo tội mà họ đã làm, nên nhiều người chết vì những trận đòn đó. Nếu ai đánh cắp một con ngựa hoặc một vật gì đó quan trọng, người đó có thể bị mất mạng và bị cắt thành từng mảnh bằng kiếm. Thật ra, họ có thể chuộc tội lại bằng cách cho lại gấp chín lần thứ mà họ đã đánh cắp. Mỗi lãnh chúa hoặc cá nhân nào có gia súc đều cho đóng dấu riêng của mình, cho dù đó là ngựa đực, ngựa cái, lạc đà, bò đực, bò cái hoặc tất cả các loại gia súc lớn; rồi họ thả chúng đi ăn cỏ ngoài đồng bằng mà không cần người chăn giữ. Chúng lẫn lộn với nhau, sau đó, mỗi con quay về chủ của mình nhờ con dấu đóng. Gia súc của họ to và béo hơn bình thường; họ cho những mục đồng chăn dắt chúng.
Họ còn có một tập tục khác mà tôi đã quên mất. Khi người nào có một đứa con gái và con gái đó chết trước khi kết hôn, và khi người khác cũng có một đứa con trai và đứa con trai này cũng chết trước khi kết hôn. Các bậc bố mẹ đều làm lễ cưới cho một đứa chết này với đứa kia. Họ kết hôn cho chúng và làm giấy kết hôn. Khi giấy kết hôn được thực hiện xong, họ đốt chúng đi và họ cho rằng khói bay lên sẽ đến với con cái họ trong thế giới bên kia và những đứa con đó trở thành chồng vợ.
Từ đó họ xem như là bà con xuôi gia, cứ như thể là con cái họ còn sống. Tất cả những thứ gì họ bằng lòng cho mỗi đứa làm của hồi môn, những người phải cho thứ đó đều cho vẽ nó lên giấy và đốt đi. Họ cho rằng những người chết sẽ có tất cả mọi thứ ở bên kia thế giới.
Vậy là tôi đã trình bày và nói về những phong tục tập quán của những người Tácta cho các bạn, nhưng tôi đã không kể ra điều gì về công trình to lớn của Đại Hãn, lãnh chúa cho tất cả những người Tácta cũng như về hoàng cung. Tôi sẽ kể lại cho các bạn trong cuốn sách này vào thời gian và địa điểm thích hợp vì đó là những việc kỳ diệu cần viết ra. Bây giờ tôi sẽ quay lại câu chuyện của tôi nói về đồng bằng lớn khi chúng ta đã bắt đầu quan tâm đến những người Tácta.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ ĐỒNG BẰNG BANGU VÀ NHỮNG PHONG TỤC CỦA DÂN CƯ

Xuất phát từ Caracoron và Altai nơi chôn cất các thi thể của vua chúa Tácta như tôi đã kể với các bạn, người ta đi trong 40 ngày về hướng Bắc thì sẽ gặp được một đồng bằng gọi là đồng bằng Bangu (đó là đồng bằng bao quanh hồ Baikal ở Sibérie). Dân cư được gọi là những người Mécris; đó là những dân tộc rất bán khai và sinh sống bằng nghề nuôi gia súc, nhất là nai (tuần lộc) được sử dụng như ngựa. Họ có cùng phong tục như những người Tácta và thần phục Đại Hãn. Họ không trồng lúa mì và làm rượu. Mùa hè, họ săn các con thú và chim chóc nhưng mùa đông họ không làm nghề đó, vì thời tiết rất lạnh.
Khi cưỡi ngựa đi trong 40 ngày qua đồng bằng lớn này, người ta bắt gặp biển Océane và những dãy núi, nơi có giống chim ưng làm tổ, vì trong những dãy núi này không có đàn ông, đàn bà, súc vật, chim chóc sinh sống ngoại trừ một loài chim được gọi là barghenlac, nguồn thức ăn dành cho chim ưng. Chim barghenlac to lớn như gà gô, chân giống như chân chim két, đuôi giống chim én, chúng bay rất nhanh. Khi Đại Hãn muốn có những con chim ưng non, ông phái người đến tận nơi để bắt. Trên các đảo trong biển này, có những loài chim ưng kền kền sinh sản. Nơi này nằm tận cùng phía Bắc đến nỗi sao Bắc đẩu vẫn còn nhìn thấy rõ đến tận giữa trưa. Trong các đảo này người ta bắt gặp nhiều chim ưng kền kền đến nỗi chúa muốn bao nhiêu cũng có; vì những chim mà người Ki tô giáo mang vào Tartarie không đến tận tay Đại Hãn, nhưng đến với Argon và những lãnh chúa khác của Levant. Vậy là tôi đã kể cho các bạn toàn bộ sự việc của các tỉnh này lên tận phía Bắc cho đến Biển lớn nơi không còn đất đai nữa. Bây giờ tôi sẽ nói cho các bạn về những tỉnh khác cho đến tận các tỉnh của Đại Hãn; và chúng tôi sẽ trở về một tỉnh mà chúng tôi đã mô tả trong quyển sách này, tỉnh có tên gọi là Campicion.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ VƯƠNG QUỐC ERGINUL

Từ Campicion, người ta cưỡi ngựa đi trong năm ngày đến nơi mà người ta nghe nhiều hồn ma nói chuyện ban đêm. Sau năm ngày đường về phía xứ Levant, người ta bắt gặp một vương quốc gọi là Erginul thuộc quyền cai trị của Đại Hãn. Nó trực thuộc tỉnh lớn Tangui, nơi có nhiều vương quốc. Dân cư theo Ki tô giáo phái Nestoriens, tín đồ thờ ngẫu tượng và Mahomet. Trong vương quốc này có nhiều thành phố, nhưng thành phố lớn nhất là Erginul. Từ thành phố này hướng về phía Đông Nam, người ta có thể đi đến những miền của nước Catay. Từ phía này người ta bắt gặp một thành phố có tên là Fingui và nhiều thành phố, thị trấn khác thuộc về Tangut và do Đại Hãn cai trị. Trong vùng này có nhiều bò rừng (bò Yak) to lớn như những con voi và rất đẹp mắt vì toàn thân chúng đều có lông trừ trên lưng. Lông chúng có màu trắng và đen, sợi lông dài hơn bốn paume, chúng trông đẹp lạ lùng. Có nhiều bò yak nuôi trong nhà được bắt khi chúng còn nhỏ, đến nỗi người dân có rất nhiều. Người ta bắt chúng thồ hàng, chúng làm rất nhiều việc. Chúng cày đất, và do sức lực khỏe mạnh, chúng cày mạnh gấp hai lần những con vật khác.
Trong vùng này người ta tìm thấy xạ hương tốt nhất thế giới và tôi sẽ cho các bạn biết vì sao. Ở đây có một loại thú rừng giống như linh dương, có lông như lông nai, rất dày, chân và đuôi giống như của linh dương, nhưng nó không có sừng nhưng nó có bốn chân, hai răng trên và hai răng dưới dài hơn ngón tay và rất mảnh. Đó là một con thú rất đẹp. Và người ta thu xạ hương của loài này. Khi bắt được con vật này người ta tìm thấy gần rốn, giữa da và thịt, người ta tìm thấy một bọc máu mà người cắt và lấy ra cùng với lớp da. Máu ở trong bọc này chính là xạ hương tỏa mùi rất nồng. Trong vùng này có một số lượng rất lớn loài thú này.
Cũng có những con gà lôi rất lớn, chân to gấp hai lần con gà lôi của chúng ta, đuôi của chúng dài đến 10 paume. Có nhiều loài chim khác có lông nhiều màu sắc rất đẹp.
Tỉnh rộng lớn đến hai mươi sáu ngày đường. Dân cư sống về buôn bán và thủ công, và có nhiều lúa mì. Họ là tín đồ thờ ngẫu tượng, họ là những người béo có mũi nhỏ và có tóc đen không có râu cằm, trừ một vài chiếc lông thay cho râu mép. Phụ nữ không có lông ở bất cứ nơi nào, trừ mái tóc trên đầu, họ rất đẹp và dù sao cũng trắng trẻo. Người dân rất khoái trò dâm đãng, họ lấy nhiều vợ vì niềm tin và phong tục của họ không cấm điều đó. Không có bất cứ phụ nữ nào thuộc dòng họ hèn hạ, miễn là họ xinh đẹp, miễn là những kẻ có thế lực nhất trong xứ cưới hỏi họ. Hơn nữa, những người đó còn cho bố mẹ của cô gái rất nhiều vàng bạc, khi họ đồng ý cưới.
Bây giờ chúng tôi sẽ xuất phát từ đây và nói với các bạn về một tỉnh khác về phía Đông.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH EGREGAIA

Từ Erginul, đi ngựa về hướng đông trong tám ngày, người ta sẽ đến một tỉnh gọi là Egregaia (có lẽ là Ning Tria. Lưu ý không nên chấp nhận một cách dễ dàng những khẳng định của các nhà chú giải), ở đó có những thành phố và thị trấn, nó trực thuộc xứ Tangut. Thành phố chính có tên là Calacian. Dân cư là tín đồ ngẫu tượng, nhưng cũng có ba nhà thờ đẹp của những người Ki tô giáo phái Nestorien. Họ thuộc quyền cai trị của Đại Hãn. Trong thành phố này, người ta sản xuất nhiều hàng len lạc đà đẹp nhất thế giới. Họ cũng làm ra len trắng, vì họ có nhiều lạc đà trắng. Họ sản xuất rất nhiều, các nhà buôn mang len đến nước Catay và sang các miền khác trên thế giới.
Bây giờ từ tỉnh này, chúng ta sẽ đi về hướng đông và nói về một tỉnh có tên là Senduc. Chúng ta hãy đi về vùng đất thuộc vua Jean.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH LỚN SENDUC

Bây giờ chúng tôi sẽ đi vào một vùng đất của vua Jean, gọi là Senduc (có thể là Ta Thoung trong nước Mông Cổ, bên kia Vạn lý trường thành). Đó là một tỉnh hướng đến xứ Levant, trong tỉnh có nhiều thành phố và thị trấn. Nó thuộc về Đại Hãn, vì tất cả các hậu duệ của vua Jean đều thần phục Đại Hãn. Người ta gọi thành phố đứng đầu là Tenduc. Vị vua của tỉnh này là một vị vua thuộc dòng họ của vua Jean. Ông tên là Torge và cai trị lãnh thổ của Đại Hãn, nhưng chỉ có một phần thuộc lãnh thổ của vua Jean cai quản. Và tôi cho các bạn biết rằng tất cả các vị vua thuộc dòng họ vua Jean luôn lấy vợ là những cô gái thuộc dòng dõi của Đại Hãn.
Trong tỉnh này người ta tìm thấy các thứ đá để làm thủy tinh xanh, nó cũng như một mỏ đá trong đất, và nó rất nguyên chất. Có nhiều loại đá như thế. Người ta cũng tìm thấy nhiều mặt hàng được làm bằng lông lạc đà rất mảnh và có nhiều màu khác nhau. Dân cư sinh sống nhờ gia súc và huê lợi từ đất đai. Họ buôn bán và làm thủ công chút ít. Quyền cai trị thuộc về những người Ki tô giáo như tôi sẽ nói với các bạn, nhưng cũng có nhiều tín đồ thờ ngẫu tượng và những người Sarrasin. Những người Ki tô giáo nắm quyền lãnh đạo và tạo thành một chủng tộc và gọi là Argon, tương đương như Gasmul vì họ được sinh ra do sự kết hợp của hai chủng tộc. Những người Argon Tenduc là những người thờ Mahomet. Họ là những người xinh đẹp hơn và thông minh hơn những người ngoại đạo. Chính vì vậy họ nắm quyền lãnh đạo và là những nhà buôn giỏi. Bạn nên biết rằng thành phố Tenduc này là thành phố chính nơi vua Jean đặt trụ sở của ông khi ông cai trị những người Tácta. Hơn nữa những người thừa kế của ông vẫn còn ở đó vì Jorge mà tôi đã nói với các bạn thuộc dòng dõi của vua Jean, như tôi đã nói với các bạn. Ông ta là lãnh chúa thứ sáu kể từ vua Jean. Đó là nơi mà chúng tôi gọi là xứ sở của Gog và của Magog, nhưng họ gọi nó là Ung và Mungul, vì trong tỉnh này, trước khi những người Tácta đi khỏi nơi đó, có hai chủng tộc sinh sống: Ung, đó là những người bản xứ và Mungul, đó là những người Tácta. Do đó những người Tácta đôi khi cũng được gọi là Mungul (Mongol).
Khi cưỡi ngựa đi về hướng Đông trong bảy ngày xuyên qua tỉnh này, người ta đến những miền thuộc về nước Catay đồng thời gặp trên đường đi nhiều thành phố và thị trấn. Dân cư tôn thờ Mahomet; cũng có những tín đồ thờ ngẫu tượng và những người Ki tô giáo phái Nestorien. Họ sống bằng nghề buôn bán và thủ công, họ chế tạo ra những tấm drap dệt vàng mà họ gọi là nasich, molisin và naques (Nassidj và Nack, tiếng Ả Rập, chỉ những tấm thảm thêu và những tấm lụa cải hoa bằng sợi vàng; molisin là một loại biến chất của mossolin), và những tấm ra bằng nhựa với nhiều kiểu dáng khác. Tất cả dân cư đều là thần dân của Đại Hãn.
Từ tỉnh này, chúng ta sẽ đi ba ngày tiến về phía trước. Sau ba ngày chúng ta sẽ bắt gặp một thành phố có tên là Ciagannor (Tcha Gan Noor gần hồ cùng tên phía Tây dãy núi Khing Gan), trong thành phố này có một cung điện nguy nga của Đại Hãn. Ông ở đây thỏa thích vì có những hồ và sông đầy những chim thiên nga và nhiều loại khác, cũng như có những đồng bằng nhiều chim hạc, gà gô, trĩ và nhiều loại chim khác nữa. Vì vậy ông săn bắn thoải mái ở đó để giải trí, dùng chim cắt, chim ưng kền kền để bắt những con chim nhỏ.
Sau thành phố này có một thung lũng nơi chúa công đã cho xây nhiều căn nhà nhỏ để nuôi nhiều gà gô. Điều kỳ diệu là số gà gô rất nhiều. Nhiều người canh giữ những gà gô này. Khi Đại Hãn đi đến đó, ông cần bao nhiêu cũng có.
Bây giờ chúng ta sẽ đi đến trước trong ba ngày giữa miền Bắc và miền Đông Bắc.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CIANDU VÀ CUNG ĐIỆN TUYỆT ĐẸP CỦA ĐẠI HÃN

Khi cưỡi ngựa đi như tôi đã nói với các bạn, sau ba ngày chúng ta gặp một thành phố có tên là Ciandu (Chang Tou, ở phía Đông dãy Khing Gan và ở phía Tây Bắc, Bắc Kinh) do Đại Hãn hiện nay cho xây dựng. Chúng ta nhìn thấy một cung diện bằng đá cẩm thạch và đá thường rất đẹp. Các hình đều được sơn son vàng với những hình thú chim, cây, hoa thuộc nhiều loại khác nhau trông rất đẹp mắt và tinh tế đến nỗi đúng là một điều vui thú cũng như kỳ quan để ngắm. Quanh cung điện này có một bức tường bao bọc ít nhất 16 nghìn dặm đất đai, trong đó có những con suối, sông lớn, sông nhỏ và nhiều đồng cỏ thật đẹp. Ở đó, cũng có đủ loại thú rừng mà chúa công cho nuôi để làm mồi cho chim cắt và chim ưng kền kền được nhốt trong lồng; không tính chim cắt có hơn hai trăm con chim ưng kền kền. Mỗi tuần đích thân chúa đến đó để ngắm chúng trong lồng. Thỉnh thoảng, chúa cưỡi ngựa đi săn trong các đồng cỏ, cùng với một con báo ngồi sau lưng chúa. Khi chúa trông thấy một con thú ưng ý, chúa thả cho con báo nhảy xuống tóm lấy con thú rồi cho chim trong lồng ăn. Chúa làm điều đó nhằm mục đích tiêu khiển.
Trong đồng cỏ này còn có một cung điện khác, nó hoàn toàn được làm bằng tre, như tôi đã nói cho các bạn biết toàn bộ bên trong đều được mạ vàng và được gia công một cách tinh tế. Phía trên là những cây tre được đánh véc ni kỹ đến nỗi không có thứ nước nào có thể làm cho chúng thối mục. Những cây tre này to hơn ba paume, dài mười hai hoặc mười lăm bước và được cắt ngang, từ mắt này đến mắt kia. Cung điện được làm bằng những thân tre này, nó được phối hợp một cách khéo léo đến nỗi nó có thể tháo ra, ráp vào rất nhanh. Vì vậy người ta có thể tháo nó ra từng mảnh nhẹ đến nỗi người ta có thể mang nó đi bất cứ nơi nào chúa công ra lệnh. Khi nó dựng đứng lên, hơn hai trăm dây nhỏ bằng lụa đỡ lấy nó. Chúa trú ngụ trong đồng cỏ này, đôi khi trong cung điện bằng cẩm thạch và có khi trong cung điện bằng tre, mỗi năm chừng ba tháng: tháng sáu, tháng bảy và tháng tám; chúa ở lại đó ba tháng này vì ở đó không khí mát mẻ. Đến ngày hai mươi tám tháng Tám, chúa ra đi.
Tôi sẽ nói với các bạn lý do chúa rời bỏ cung điện mỗi năm vào ngày hai mươi tám tháng Tám. Các bạn nên biết rằng chúa duy trì một trại lớn để nuôi ngựa cái trắng làm giống không có bất cứ vết đốm nào khác, chúng gồm hai mươi ngàn ngựa cái toàn màu trắng. Không ai có thể uống sữa của những con ngựa này, ngoài chúa và tất cả những người thuộc dòng tộc của chúa và bộ tộc tên là Horiat, bộ tộc này thuộc dòng dõi lớn và cũng được uống sữa đó, Cinghis Khan đã ban cho họ đặc ân này vì trận chiến thắng mà họ đã đạt được bên cạnh chúa xưa kia. Khi những con ngựa trắng này chạy ngang qua xứ sở, nếu có đại lãnh chúa nào đó, dù có quan trọng đến đâu đi nữa, gặp phải chúng, người đó cũng không dám băng qua đường, cho đến khi nào các con ngựa cái qua hết; y thích đi đường vòng mất nửa ngày hơn; vì tốt nhất là phải trân trọng chúng, và không một ai dám đến gần chúng. Ngày hai mươi tám tháng Tám khi chúa công rời cung điện như tôi đã kể cho các bạn, người ta vắt toàn bộ sữa của các con ngựa đó và tưới sữa xuống đất và trong không khí, bởi vì các nhà chiêm tinh thờ ngẫu tượng nói rằng tưới sữa như thế là điều rất tốt vào ngày hai mươi tám tháng tám hàng năm để đất, không khí, những ngẫu tượng của họ và các linh hồn lang thang trong không khí và trong đất, có thể có phần của chúng để chúng che chở cho chúa công, con cái, các bà vợ, tài sản của ông cũng như các thần dân trong nước của ông cả những thú vật, ngựa, lúa mì và tất cả mọi thứ khác. Sau đó chúa khởi hành và lên đường trở về.
Bây giờ tôi sẽ kể cho các bạn nghe một điều kỳ diệu mà tôi đã quên kể. Trong ba tháng hàng năm mà chúa ở lại trong đồng cỏ đó, nếu có lần nào thời tiết xấu, chúa có những nhà hiền triết, thuật sĩ và chiêm tinh bên mình, những người này biết nhiều về thuật phù thủy và thuật chiêu hồn, họ có thể làm sao cho không có bất cứ đám mây nào hoặc bất cứ thời tiết xấu nào diễn ra bên trên lãnh địa, cho dù lớn đến đâu đi nữa cũng không xảy ra. Những nhà hiền triết này được gọi là Tebet và Quesmur (họ mang tên của xứ sở, gốc gác của họ: Tây Tạng và Cachemire), vì họ thuộc hai chủng tộc khác nhau, và đều là tín đồ thờ ngẫu tượng. Tất cả những điều họ làm đều là công việc của ma quỷ; nhưng họ làm cho những người khác tin rằng họ làm việc đó do sự thánh thiện và do quyền năng của Thiên chúa. Họ còn có một phong tục mà tôi sẽ nói với các bạn sau đây: khi một người nào bị kết án tử hình và y chết bởi công lý, họ lấy xác y nấu chín và ăn thịt, nhưng nếu y chết do cái chết tự nhiên, họ không ăn thịt y.
Hai loại người mà tôi đã nói với các bạn còn làm một điều lạ kì khác như thế này: Khi Đại Hãn ngồi, trong cung điện của thành phố lớn, trước một cái bàn to hơn tám khuỷu tay (50 cm x 8), trước mặt ông trong nền phòng, cách ông mười bước chân có những cốc đầy rượu nho, hoặc những nước giải khát ngon khác làm bằng gia vị hợp sở thích của họ. Các thuật sĩ, mà tôi đã nói, dùng phép thuật để cho những chiếc cốc bay lên khỏi vị trí của chúng, không có ai đụng đến chúng, và bay đến trước mặt chúa công, khi chúa công muốn uống. Mỗi người hiện diện ở đó đều chứng kiến việc này, số người hiện diện hơn hai mươi ngàn người. Đó là điều có thật và không có gì dối trá, vì các nhà hiền triết trong nước chúng ta biết thuật chiêu hồn sẽ nói với các bạn là điều đó có thể thực hiện được.
Khi đến ngày lễ kính các ngẫu tượng của họ, các thuật sĩ này đến với chúa công và nói rằng: “Thưa Chúa công, lễ kính ngẫu tượng của chúng tôi sắp đến (và họ nêu tên ngẫu tượng). Thưa chúa công, chúa công biết rằng ngẫu tượng này sẽ gây nên thời tiết xấu và thiệt hại cho tất cả mọi vật, khi ngẫu tượng này không nhận được của cúng tế. Vì vậy chúng thần cầu xin chúa công hãy ban cho nhiều của cải có đầu đen (và họ nói lên số lượng thích hợp). Vì vậy, thưa chúa công, chúng thần muốn có được nhiều hương thơm, nhiều cây lô hội và nhiều thứ này cũng như nhiều thứ khác (tùy theo ý muốn của họ) để chúng thần có thể tôn vinh và dâng những của lễ cao trọng cho các ngẫu tượng của chúng thần, để các thần linh có thể cứu thoát chúng thần và tất cả mọi việc của chúng thần”.
Chúa công truyền lệnh cho các cận thần đứng xung quanh thuận theo ý họ. Khi họ được điều họ yêu cầu, họ làm lễ trọng thể kính các ngẫu tượng của họ với những đèn nến lớn và nhiều thứ hương thơm mà họ làm bằng nhiều thứ gia vị. Sau đó họ cho nấu thịt cừu và đặt trước ngẫu tượng đồng thời họ đi rải nước trái cây khắp nơi vừa nói với các ngẫu tượng nhận lấy của cúng bao nhiêu tùy thích. Họ mừng lễ kính các ngẫu tượng bằng cách đó vì các bạn nên biết rằng mỗi một ngẫu tượng của họ đều có tên và ngày lễ riêng như tên và ngày lễ kính các vị thánh của chúng ta hằng năm. Họ có những tu viện và dòng tu rộng lớn như một thành phố nhỏ với hơn một ngàn tu sĩ tùy theo niềm tin của họ. Họ ăn mặc giàu sang hơn những người khác. Họ cạo nhẵn đầu và râu cằm. Cũng có những người trong số họ có thể lấy vợ và có nhiều con cái.
Họ càng có một thứ tu sĩ khác nữa gọi là sensy, họ là những người kiêng cữ nghiêm ngặt, tùy theo tín ngưỡng, họ sống cuộc sống hãm mình ép xác vì họ suốt đời không ăn gì hơn là ngoài bột cám trộn với nước nóng. Đó là thức ăn duy nhất của họ, vì họ không ăn bất cứ thứ gì khác ngoài cám. Họ chỉ uống nước và ăn chay trường, đây là một lối sống cực kỳ khổ hạnh. Họ có nhiều ngẫu tượng lớn nhưng đôi khi họ tôn thờ lửa. Những tín đồ ngẫu tượng khác không theo lề luật này, cho rằng những người đó là những người dị giáo bởi vì họ không tôn thờ các ngẫu tượng theo cách của họ. Các tu sĩ không lấy vợ vì bất cứ lý do nào. Họ mặc đồ màu đen và vàng, ngủ trên những chiếc chiếu. Ngẫu tượng của họ tất cả đều là phụ nữ, tức là tất cả những tên của họ đều là phụ nữ.
Bây giờ chúng tôi sẽ bỏ qua chuyện này ở đây và nói với các bạn về những việc làm vĩ đại và những điều kỳ diệu của vị Đại lãnh chúa của các lãnh chúa gọi là Cublay.

ĐÂY LÀ NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG VIỆC LÀM VĨ ĐẠI CỦA ĐẠI HÃN ĐANG TRỊ VÌ HIỆN NAY VÀ ĐƯỢC GỌI LA CUBLAY KHAN

Tôi muốn bắt đầu kể cho các bạn trong cuốn sách này tất cả những sự kiện quan trọng và tất cả những điều hết sức kỳ lạ của Đại Hãn đang trị vì hiện nay và được gọi là Cublay Khan, điều này có nghĩa là Đại lãnh chúa của các lãnh chúa hoàng đế. Đúng là ông xứng đáng với danh hiệu này, bởi vì mỗi người đều phải biết rõ rằng đó là con người có thế lực nhất về các dân tộc, đất đai, kho tàng, con người chưa bao giờ có trên thế gian, cho dù là hiện nay, từ thời Adam, vị tổ phụ đầu tiên cho đến nay. Tôi sẽ bày tỏ trong cuốn sách này mà tôi đã nói với các bạn, mỗi người sẽ công nhận ông là lãnh chúa vĩ đại nhất chưa bao giờ có trên thế giới này và đang hiện diện lúc này.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CUỘC CHIẾN TRANH VĨ ĐẠI MÀ ĐẠI HÃN TIẾN HÀNH ĐỂ CHỐNG LẠI VUA NAIAN, CHÚ CỦA ÔNG

Cublay Khan thật sự thuộc về dòng dõi vương triều của Cinghis Khan, vị lãnh chúa đầu tiên của tất cả những người Tácta trên thế giới. Đó là vị lãnh chúa thứ sáu như tôi đã nói với các bạn trên kia. Ông nắm quyền cai trị vào năm Chúa Ki tô thứ 1256, vì trong năm đó, ông bắt đầu trị vì và nắm quyền lãnh đạo bằng lương tri, lòng can đảm và giá trị vĩ đại của ông theo luật pháp và lý lẽ, vì các anh em và họ hàng của ông đã tranh cãi điều đó với ông. Bởi vì ông ta, bằng luật pháp và lý lẽ phải nắm quyền cai trị, như là sự kế thừa trực tiếp thuộc dòng dõi vương triều, ông đã trị vì bốn mươi hai năm, từ khi bắt đầu cho đến năm 1298 này, ông có thể thọ tới tám mươi lăm; vậy là có thể ông lên ngôi lúc bốn mươi ba tuổi. Trước khi làm lãnh chúa ông đã đi đánh trận nhiều lần và là một chiến binh dũng cảm và vị chỉ huy rất giỏi. Nhưng từ khi trở thành lãnh chúa, ông chỉ ra trận có một lần. Đó là vào năm Chúa Ki tô thứ 1286, và tôi sẽ nói với các bạn lý do vì sao.
Có một vị lãnh chúa nổi tiếng người Tácta tên là Naian và là chú của Cublay Khan. Đó là một người đàn ông trẻ tuổi, lãnh chúa của nhiều đất đai và nhiều tỉnh đến nỗi ông có thể đưa ra trận 300 nghìn lính ngựa; và ông tự kiêu do tuổi trẻ của mình. Đôi lúc ông là chư hầu của cháu ông là Đại Hãn, và phải như thế, nếu nói về lý. Nhưng khi tự thấy mình có quyền hành to lớn, ông nghĩ rằng mình không muốn là chư hầu của Đại Hãn nữa, nhưng trái lại ông muốn nắm lấy quyền lực, nếu được. Vậy là ông phái những sứ giả đến với một vị lãnh chúa Tácta khác có tên là Caidu, một vị vua đầy thế lực, cháu của Đại Hãn, bà con với Naian và chư hầu của Đại Hãn. Nhưng ông phản lại chú và muốn làm hại chú. Naian nhắn với ông rằng mình sẽ tập trung toàn bộ sức lực to lớn của mình để đem quân chống lại Đại Hãn, chú của ông, còn Caidu cũng tập trung toàn bộ quân đội chống lại Đại Hãn, để khi đánh ông này, bằng số đông, mỗi người từ một phía, họ có thể cướp lấy quyền lãnh đạo bằng vũ lực. Khi nghe tin tức do Caian truyền đến mình, Caidu rất đỗi vui mừng. Ông trả lời rằng ông sẽ thực hiện điều đó, và ông tập hợp toàn bộ quân đội lại, quân số lên đến một trăm ngàn lính ngựa... Tôi sẽ nói với các bạn về điều gì nữa đây?... Cả hai cận thần, Naian và Caidu chuẩn bị kỹ càng và cho tuyển lính bộ và lính ngựa thật nhiều để đi đánh Đại Hãn.

ĐẠI HÃN TẤN CÔNG CHỐNG LẠI NAIAN NHƯ THẾ NÀO?

Khi Đại Hãn biết tin trên, ông chuẩn bị một cách anh dũng, bởi vì họ làm một việc trái với lý lẽ và ông không sợ họ. Vì ông không sợ bất cứ thứ gì do lương tri cao cả và lòng can đảm của ông. Ông tuyên bố sẽ không mang vương miện nữa nếu như ông không giết được hai vị lãnh chúa Tácta phản bội và bất trung với ông. Ông chuẩn bị lực lượng trong mười hoặc mười hai ngày, nhanh và bí mật đến nỗi không ai khác ngoài vị cố vấn riêng của ông biết được điều gì. Ông tập hợp hơn 360 ngàn lính ngựa và hơn 100 ngàn lính bộ; và nếu ông tập trung quá ít người, đó là vì ông chỉ điều động các đội quân ở xung quanh, vì ông không thể điều động nhanh các đội quân khác đang ở rất xa, những đội quân đông đảo đã đi đến những vùng và tỉnh khác nhau để chiếm đất đai theo lệnh của ông. Vì nếu tập trung toàn bộ lực lượng của mình, đó là một lực lượng lớn đến nỗi là điều không thể tin, nghe, nói được. Vì 360 ngàn lính ngựa do ông tập hợp, chỉ là những người lính phụ trách chim săn và những người săn bắn, đánh cá xung quanh ông. Khi tập hợp số ít người này, ông được các nhà chiêm tinh cho biết có thắng trận và tiêu diệt được quân địch hay không. Những người này nhìn xuyên qua phép thuật của họ và nói với ông rằng ông sẽ chiến đấu một cách gan dạ và ông sẽ chiến thắng và đạt được vinh dự và vinh quang. Vì vậy ông rất vui mừng và bắt đầu ra trận cùng với quân đội. Họ cưỡi ngựa trong hai mươi ngày đến một đồng bằng rộng lớn, ở đó đã có Naian và toàn bộ quân đội của y gần hơn 400 ngàn lính ngựa. Quân của Đại Hãn đến rất sớm và bất ngờ đến nỗi quân địch không hay biết gì. Vì Đại Hãn đã cho giữ chặt các con đường nên không có ai qua lại mà không bị bắt. Đó là lý do mà Naian không biết tí gì về việc Đại Hãn đến và quân lính của y hết sức sửng sốt và kinh ngạc. Khi quân đội của Đại Hãn đến, Naian đang ở trong lều với vợ và đang ngủ trên giường. Vì Đại Hãn tập trung quân đội một cách rất bí mật và nhanh như tôi đã nói, nên Naian vẫn đang hưởng lạc trên giường với người vợ mà ông rất yêu thương.

 
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện