DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 5

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH LỚN PASCIAI

Nên biết rằng cách xa Balasian mười ngày đường về hướng Nam, đó là tỉnh Pasciai (có thể là Paishore). Dân cư có ngôn ngữ riêng. Họ thờ ngẫu tượng và có nước da nâu. Họ biết nhiều phương thức ma thuật và thuật phù thủy. Đàn ông mang trên tai những vòng tròn và vòng xoắn bằng vàng bạc, đá quý và ngọc trai. Đó là những người tinh ranh và khôn ngoan trong các phong tục của họ. Tỉnh này có khí hậu nóng. Thức ăn của họ là thịt và gạo.
Bây giờ chúng tôi sẽ bỏ qua tỉnh này và sẽ cho các bạn biết về một tỉnh khác ở cách đó bảy ngày đường về hướng mặt trời và có tên là Chesimur.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH CHESIMUR

Chesimur (Cachemire) là một tỉnh có dân cư thờ ngẫu tượng và có ngôn ngữ riêng. Họ biết nhiều phép thuật ma quỷ, vì họ làm cho các ngẫu tượng nói được. Họ làm thay đổi thời tiết bằng ma thuật và ra lệnh cho trời trở nên tối; họ còn làm nhiều điều đến nỗi không ai có thể tin, nếu như không thấy. Tôi cho các bạn biết họ là những người đứng đầu những người thờ ngẫu tượng và đó là nguồn gốc xuất phát ra các ngẫu tượng. Từ nơi này người ta có thể đi ra biển Ấn Độ. Họ là những người có nước da nâu và gầy ốm. Phụ nữ rất đẹp mặc dầu cũng có nước da màu nâu. Thức ăn của họ là thịt, sữa và gạo. Đó là một xứ sở ôn hòa không quá nóng hoặc quá lạnh. Tỉnh có nhiều thành phố và thị trấn. Có những cánh rừng, những hoang mạc và những hẻm vực, họ càng không sợ bất cứ ai. Họ tự quản lý nhau, vì họ có một vị vua gìn giữ họ trong sự công bằng. Họ có những vị ẩn tu theo phong tục của họ, những người này ở những nơi cô tịch và kiêng cữ việc ăn uống một cách nghiêm ngặt; họ rất đoan trang để đề phòng sự dâm ô và tránh bất cứ tội lỗi nào theo niềm tin của họ. Dân chúng xem họ như là những người rất thánh. Tôi cho các bạn biết rằng họ sống rất thọ và có nhiều ngẫu tượng trong tu viện của họ. San hô mà người ta mang vào vùng của chúng ta được bán trong vùng này nhiều hơn bất cứ nơi nào khác.
Bây giờ chúng ta sẽ bỏ qua vùng này để tiến vào nước Ấn Độ. Nhưng tôi không muốn đi vào lúc này. Vì khi trở về tôi sẽ nói với các bạn về Ấn Độ theo trình tự. Vì vậy chúng ta hãy lui lại phía vùng Baldasciam, vì người ta không thể đi bằng một con đường khác.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CON SÔNG LỚN NHẤT CỦA BALDASCIAM

Từ Baldasciam, người ta cưỡi ngựa đi trong mười hai ngày giữa hướng Đông và Đông Bắc, dọc theo một con sông thuộc về anh của nhà vua nước Baldasciam, ở đó có nhiều thành phố, thị trấn và nhà ở. Dân cư thờ Mahomet và rất can đảm trong chiến dấu. Sau mười hai ngày đường, người ta bắt gặp một tỉnh không lớn lắm, vì bán kính của nó chỉ có ba ngày đường, tỉnh này có tên là Vocan (Vokhan). Dân cư tôn thờ Mahomet và có ngôn ngữ riêng. Họ là những người lính can đảm, họ có lãnh chúa riêng, trong tiếng Pháp, nó tương đương với comte (Bá tước) nhưng họ là những người tuyệt đối trung thành với lãnh chúa của Baldasciam. Họ có nhiều loại thú rừng.
Từ xứ sở nhỏ bé này, người ta cưỡi ngựa mất ba ngày đi về phía Đông Bắc, đôi khi phải băng qua các dãy núi và trèo lên một nơi được coi là cao nhất thế giới. Trèo lên núi, người ta bắt gặp một đồng bằng nằm giữa hai dãy núi, nơi đây có một con sông rất xinh đẹp chảy qua. Đồng bằng này là bãi chăn thả tốt nhất thế giới, vì một con ngựa cái gầy ốm sẽ trở thành béo mập trong mười ngày. Ở đây cũng có tất cả các loại thú rừng nhiều vô kể. Có nhiều cừu hoang rất to; vì chúng có những chiếc sừng dài sáu paume, nên những người chăn cừu dùng chúng để làm những chiếc bát đựng thức ăn và làm hàng rào bao quanh chỗ trú của họ với các gia súc vào ban đêm.
Đi ngựa xuyên qua đồng bằng này phải mất mười hai ngày, đồng bằng này có tên là Pamier. Trong suốt mười hai ngày đường này, không có bất cứ căn nhà nào hoặc đồng cỏ nào, vì vậy điều thích hợp nhất là các khách bộ hành phải mang theo những gì cần thiết. Không một con chim nào bay lượn ở đây, vì nơi này rất cao và trời lạnh. Tôi cho các bạn biết rằng do trời quá lạnh nên lửa không sáng hoặc nóng bằng ở bất cứ nơi nào khác, người ta không thể nướng thịt cho ngon ở đó được. Người ta còn phải đi mất bốn mươi ngày mới qua được núi, đồi và thung lũng, nơi có nhiều con sông chảy qua, và cũng có nhiều hoang mạc. Trong suốt chặng đường này, không có bất cứ nhà ở hoặc đồng cỏ nào. Người đi đường nên mang theo những thứ cần thiết. Vùng này được gọi là Belor (Bolor). Dân cư sống trên cao trong các dãy núi. Họ thờ ngẫu tượng và rất hoang dã, họ chỉ sinh sống nhờ vào săn bắn thú rừng; áo quần của họ cũng được làm bằng da thú; họ là những người xấu xa và tàn bạo.
Bây giờ chúng ta hãy bỏ qua miền này và nói về tỉnh Cascar.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ VƯƠNG QUỐC CASCAR

Cascar xưa kia là một vương quốc nhưng hiện nay đã bị Đại Hãn khuất phục. Người dân tôn thờ Mahomet. Nó có nhiều thành phố và thị trấn nhưng thành phố lớn nhất và đẹp nhất là Cascar. Nó nằm giữa miền Đông Bắc và miền Đông. Dân cư sống về nghề buôn bán và thủ công, họ cũng trồng nhiều bông vải. Từ miền này, nhiều nhà buôn đã đi ra ngoài xứ để giao thương buôn bán. Họ rất tiện tằn và khốn khổ; họ ăn uống kham khổ. Trong vùng này, có nhiều người Ki tô giáo thuộc phái Nestorien và có nhà thờ riêng. Dân của tỉnh này còn có ngôn ngữ riêng và tỉnh trải dài năm ngày đường.
Bây giờ chúng tôi sẽ tạm biệt nó và nói với các bạn về San Marcan.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ LỚN SAN MARCAN

San Marcan (Samarkank, phía Nam Turkestan hiện nay) là một thành phố rất lớn và rất sang trọng. Dân cư gồm những người Ki tô giáo và Sarrasin. Họ là thần dân của cháu Đại Hãn, nhưng chú và cháu rất xung khắc nhau. Người cháu có tên là Caidou. Thành phố nằm về hướng Tây Bắc.
Tôi sẽ nói với các bạn một điều hết sức kỳ lạ xảy ra trong thành phố này.
Các bạn nên biết rằng, cách đây không lâu, Cigatan, anh của Đại Hãn, trở thành Ki tô hữu trong khi ông đang làm lãnh chúa của vùng này và nhiều vùng khác nữa. Khi thấy lãnh chúa là người theo Ki tô giáo, những người Ki tô hữu hết sức hoan hỉ, họ xây dựng trong thành phố một ngôi thánh đường nguy nga đồ sộ để dâng kính thánh Jean Baptiste: nhà thờ cũng trùng tên với vị thánh bổn mạng. Họ lấy một hòn đá rất đẹp của người Sarrasin và đặt nó làm chân cột giữa nhà thờ để chống đỡ mái ngói.
Chuyện xảy ra là khi Cigatan mất và khi những người Sarrasin thấy ông ta đã chết, vì họ thèm muốn viên đá đã từng là của họ, họ tự kháo nhau là phải lấy lại nó bằng thỏa thuận hoặc bằng vũ lực. Họ có thể làm được việc đó, vì họ đông hơn người Ki tô giáo gấp mười lần.
Họ tập hợp lại và đi đến nhà thờ của người Ki tô giáo và nói rằng họ muốn có viên đá của họ bằng mọi giá. Những người Ki tô giáo trả lời rằng viên đá thuộc về họ, nhưng họ phải trả lại một số tiền đền bù để chuộc lại viên đá. Những người Sarasin đáp lại là họ sẽ không chuộc lại viên đá bằng bất cứ thứ gì họ có trên đời. Tôi sẽ nói gì với các bạn nữa đây? Lãnh chúa biết tin này và ra lệnh cho những người Ki tô giáo dàn xếp ổn thỏa với những người Sarasin bằng tiền hoặc trả lại viên đá cho họ. Ông gia hạn cho họ hai ngày. Các bạn nên biết rằng không có bất cứ người Sarasin nào đồng ý chuộc lại viên đá vì tiền: Họ làm như vậy để làm cho những người Ki tô giáo bực mình, chứ không vì lý do nào khác, vì họ biết rõ rằng nếu lấy hòn đá ra, cả ngôi nhà thờ sẽ sụp đổ ngay. Vì vậy những người Ki tô giáo rất giận dữ và không biết phải làm gì. Cuối cùng, họ quyết định một điều thượng sách: đó là cầu nguyện cùng Chúa Giêsu Ki tô để Người chỉ bảo cho họ biết nên làm gì để nhà thờ cũng như danh thánh của Đấng bảo trợ, thánh Jean Baptiste, không bị sụp đổ. Vì vậy, khi đến kỳ hạn mà lãnh chúa giao hẹn cho họ, vào buổi sáng, họ nhìn thấy viên đá được lấy ra khỏi chân cột; nhưng chiếc cột vẫn chống đỡ được sức nặng với chân cột lơ lửng trên không và tỏ ra vững chắc như khi viên đá còn ở dưới chân nó; khoảng cách từ chân cột đến mặt đất là ba paume. Những người Sarasin mang viên đá của họ đi cùng với điều không may của họ. Đây là một phép lạ vĩ đại. Chiếc cột nói trên vẫn luôn tồn tại như thế và sẽ như thế trong bao lâu mà Thiên Chúa muốn.
Nhưng chúng ta hãy bỏ qua chuyện này và tiến lên phía trước đến với một tỉnh khác gọi là Charcan.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH CHARCAN

Charcan (Yarkund) là một tỉnh dài năm ngày đường. Dân chúng giữ luật của Mahomet, nhưng cũng có những người Ki tô giáo thuộc phái Nestorien và Jacobite. Họ thuộc quyền cai trị của vị Lãnh Chúa cháu của Đại Hãn, mà tôi đã từng nhắc đến. Họ có tất cả mọi thứ nhiều vô kể. Nhưng vì không có gì đáng kể, chúng ta sẽ bỏ qua và nói đến một tỉnh có tên là Cotan.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH COTAN

Cotan (Khoten, ở Turkestan thuộc Trung Quốc) là một tỉnh nằm giữa miền Đông và miền Đông Bắc, dài sáu ngày đường. Dân cư thuộc quyền Đại Hãn cai trị và thờ Mahomet. Có nhiều thành phố và thị trấn, nhưng sang trọng nhất là Cotan, thủ phủ của vương quốc. Các thứ hàng hóa rất nhiều nhất là bông vải. Họ có những vườn nho và vườn cây; họ sống bằng nghề buôn bán và thủ công; họ không phải là những người lính.
Bây giờ, chúng tôi sẽ khởi hành từ đây và sẽ nói về một tỉnh khác có tên là Pein.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH PEIN

Pein (Pain, phía Bắc Turkestan thuộc Trung Quốc, dưới chân dãy Thiên Sơn) là một tỉnh dài năm ngày đường, giữa Đông và Đông Bắc. Dân cư thờ Mahomet và dưới quyền Đại Hãn. Có nhiều thành phố và thị trấn, nhưng sang trọng nhất là Pein, thủ đô của vương quốc. Nhiều sông ngòi có nhiều mỏ ngọc thạch anh và cân xê đôn. Họ có nhiều hàng hóa nhất là bông vải; họ sống bằng nghề buôn bán và thủ công. Họ có một phong tục mà tôi sẽ nói với các bạn sau đây. Nếu một phụ nữ có một người chồng và người này đi du lịch và ở lại hơn hai mươi ngày, khi thời hạn này qua đi, người phụ nữ này có thể lấy chồng khác; còn người đàn ông sẽ cưới vợ khác nơi nào mà y muốn.
Chúng ta hãy bỏ qua tỉnh này và nói về một tỉnh khác gọi là Ciarciam.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH CIARCIAM

Ciarciam là một tỉnh của nước Đại Turquie (ở đây, Turkestan thuộc Trung Quốc, Ciarciam chính là Kharashar, phía Bắc hồ Bosteng) nằm giữa miền Đông Bắc và miền Đông. Dân cư thờ Mahomet có nhiều thành phố và thị trấn, nhưng thành phố chính là Ciarciam. Có những con sông chứa ngọc thạch anh và cân xê đôn được người ta đem bán ở Catay (Trung Hoa) rất được giá. Toàn bộ tỉnh này chỉ có cát và cát. Điều này khiến cho nước không được tốt và đắng, nhưng nhiều nơi vẫn có nước ngọt và trong lành. Khi một đội quân đi qua vùng, nếu là quân địch, người dân chạy trốn cùng vợ con cũng như gia súc của họ, ở cách xa hai hoặc ba ngày đường, xuyên qua những bãi cát đến bất kỳ nơi nào mà họ biết là có nước, chẳng ai biết họ đi đâu vì gió sẽ xóa vết chân của họ trên cát. Nhưng nếu có một quân đội bè bạn đi ngang qua, họ chỉ đưa gia súc đi trốn, bởi họ không muốn chúng bị đánh cắp ăn thịt, vì không có thứ gì mà đội quân không chiếm đoạt.
Từ Ciarciam, người ta cưỡi ngựa hơn năm ngày đường đi qua cát. Vì không có gì cần ghi nhận, chúng tôi sẽ tiến về phía trước, và chúng tôi sẽ nói với các bạn về tỉnh có tên là Lop, ở đó có một thành phố cũng có tên là Lop, nơi chúng tôi sẽ đến sau năm ngày hành trình. Nó là cửa ngõ đi vào một hoang mạc rất rộng lớn, đến nỗi các du khách phải nghỉ ngơi trong thành phố này trước khi tiến vào hoang mạc.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ VÀ HOANG MẠC LOP

Lop (ở phía Đông Nam Kharashar) là một thành phố lớn ở cửa ngõ đi vào hoang mạc được gọi là hoang mạc Lop (hoang mạc Gobi) nó nằm giữa phía Đông và Đông Bắc. Thành phố này thuộc về Đại Hãn. Người dân thờ Mahomet. Tôi cho các bạn biết là những ai muốn đi qua hoang mạc này đều nghỉ ngơi trong thành phố này một tuần để dưỡng sức cho họ và gia súc của họ. Sau đó họ chuẩn bị mua lương thực dành cho người và gia súc trong một tháng. Từ thành phố này họ tiến vào hoang mạc. Nó dài đến nỗi người ta cho rằng trong một năm người ta không thể đi ngựa suốt từ đầu đến cuối. Nơi nào hẹp nhất người ta phải vượt qua mất một tháng. Nó chỉ gần những dãy núi và thung lũng cát, nên người ta không tìm được thứ gì để ăn. Khi người ta cưỡi ngựa đi trong một ngày và một đêm, người ta mới tìm được nước ngọt cần thiết cho năm mươi người hoặc một trăm người với gia súc của họ nhưng không nhiều hơn nữa. Trong bốn nơi, nước không được tốt và đắng, nơi khác, nước lại ngọt; có hơn hai mươi tám nguồn nước như thế. Không có dã thú ở đó, vì chúng không tìm được thứ gì để ăn. Nhưng người ta bắt gặp một điều thật kỳ lạ mà tôi sẽ kể cho các bạn nghe sau đây. Khi cưỡi ngựa ban đêm qua hoang mạc này, nếu có người nào đi chậm lại phía sau và tách rời khỏi các bạn đồng hành để ngủ hoặc làm việc gì khác. Khi y nghĩ nên tiếp tục đi lại để đuổi kịp theo đoàn, y sẽ nghe các hồn ma nói chuyện giống như tiếng của các bạn đồng hành, vì chúng gọi đúng tên y, đến nỗi chúng thường làm cho y đi lạc và cuối cùng y không thể tìm lại được các bạn đồng hành được nữa. Bằng cách này, có nhiều người đã chết hoặc mất tích. Tôi cũng cho các bạn biết, thậm chí vào ban ngày, người ta cũng vẫn nghe các hồn ma chuyện trò. Đôi lúc người ta còn nghe văng vẳng nhiều tiếng nhạc cụ, nhất là trống hơn là những thứ khác. Người ta phải đi qua hoang mạc trong hoàn cảnh như vậy, giống như các bạn đã từng nghe nói đến.
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện