DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 3

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI THỢ ĐÓNG GIÀY THÁNH THIỆN LÀM NGỌN NÚI DI CHUYỂN NHƯ THẾ NÀO?

Khi ngày ấn định đã đến, tất cả những người Ki tô hữu, đàn ông và đàn bà, trẻ con và người già, gồm hơn một trăm nghìn người, thức dậy từ sáng sớm, đến nhà thờ và tham dự Thánh Lễ. Sau Thánh Lễ, họ cùng nhau lên đường đi đến ngọn núi giống như một cuộc đi kiệu trọng thể với Thánh Giá dẫn đầu, hòa với những tiếng hát vang rền và những dòng nước mắt chan hòa. Khi đến nơi họ thấy Giáo chủ đã có mặt với toàn bộ binh đội Sarrasin của ông, tất cả đều sẵn sàng giết chết họ hoặc cải đạo cho họ; vì chúng không nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ ban ơn cho những người Ki tô hữu. Những người này rất sợ, nhưng vẫn trông cậy vào Chúa Giê su Ki tô.
Bấy giờ người thợ đóng giày lãnh nhận phép lành của vị Giám Mục và quỳ xuống làm dấu Thánh giá, đưa hai tay hướng lên trời và đọc lời cầu nguyện này:
- Lạy Thiên Chúa là Đấng toàn năng, con cầu xin Chúa do lòng thánh thiện của Chúa, xin Chúa hãy ban ơn cho dân của Chúa kẻo họ chết mất, hoặc đức tin của họ bị lụn bại, bị đốn ngã hoặc bị khinh miệt. Con thật không xứng đáng cầu xin Chúa chút nào, nhưng quyền năng của Chúa thật cao vời, và lòng thương xót của Chúa thật vô biên, xin Chúa hãy nghe lời cầu nguyện của chúng con là tôi tớ tràn đầy tội lỗi của Chúa.
Khi ông cầu nguyện cùng Thiên Chúa Đấng Tối Cao, bởi Người mà mọi ân huệ đều được thực hiện, trước sự hiện diện của Giáo chủ Calife cùng tất cả những người Sarrasin và những người khác nữa, người ta nhìn thấy núi trỗi lên và di chuyển đến nơi mà Giáo chủ đã yêu cầu. Khi vị Giáo chủ và những người Sarrasin chứng kiến việc này, họ đều hết sức kinh ngạc vì phép lạ mà Thiên Chúa đã thực hiện cho người Ki tô giáo, đến nỗi số đông những người Sarrasin đều trở thành những Ki tô hữu, đặc biệt vị Giáo chủ cũng xin được rửa tội nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, Amen. Ông trở thành Ki tô hữu, nhưng sự việc diễn ra một cách bí mật, vì khi ông qua đời, người ta khám phá thấy một cây Thánh Giá nhỏ đeo trên cổ ông. Do đó những ngươi Sarrasin không muốn chôn cất ông cùng với những Giáo chủ Calife khác, nhưng chôn ông nơi khác. Những người Ki tô giáo hết sức vui mừng về phép lạ cực thánh này và quay về nhà trong bầu không khí lễ hội, họ cảm tạ Đấng Sáng Tạo về điều Người đã làm cho họ.
Chúng tôi đã nói về Baudac, bây giờ chúng tôi sẽ nói với các bạn về Toris, thành phố sang trọng.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ TORIS SANG TRỌNG

Toris (Tauris) là một thành phố lớn và sang trọng thuộc một tỉnh rộng lớn gọi là Yrac. Tỉnh này có nhiều đô thị và thị trấn; nhưng bởi vì Toris là thành phố sang trọng nhất nên tôi sẽ nói về nó với các bạn.
Các bạn nên biết rằng người dân Toris sống về nghề buôn bán và thủ công, vì họ gia công đủ loại vải lót giường bằng lụa và nạm vàng rất đẹp và rất có giá trị. Thành phố phát đạt đến nỗi các hàng hóa từ Ấn Độ, Baudac, Mosul, Cremesor và nhiều nơi khác dồn đến; nhiều nhà buôn La tinh, đặc biệt dân thành Gênes đến đó để mua bán và sắm sửa, vì ở đó cũng có nhiều loại đá quý. Đó là thành phố mà các nhà buôn thu được nhiều lợi nhuận, vì người dân chỉ buôn bán lẻ và hết sức pha trộn với nhiều phong cách khác nhau: có người Arménie, người Jacobite, người Georgie, người Ba Tư và còn nhiều người thờ Mahomet, đó chính là dân của thành phố Toris. Thành phố còn hoàn toàn được bao bọc bằng những khu vườn đẹp tuyệt vời, với rất nhiều loại trái cây rất đẹp, rất ngon và rất to.
Bây giờ chúng ta hãy bỏ qua Toris và nói về tỉnh Ba Tư rộng lớn.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH LỚN BA TƯ

Ba Tư là một tỉnh lớn, xưa kia nó rất phồn thịnh và sang trọng, nhưng hiện nay bị tàn phá và bị thu hẹp bởi những người Tácta.
Ở Ba Tư có thành phố tên là Sava (ngày nay là Avah), nơi Ba Vua đã ra đi khi các Ngài đến thờ lạy Chúa Giêsu Ki tô giáng trần. Họ đã được an táng trong thành phố này trong ba ngôi mộ rất to và rất đẹp. Trên mỗi ngôi mộ có một ngôi nhà hình vuông xây rất đẹp, cái nọ sau cái kia. Các thi thể vẫn còn đầy đủ, đều còn râu tóc. Một người có tên là Gaspard, người thứ hai là Melchior và người thứ ba là Balthazar. Messire Marco Polo dò hỏi nhiều người dân của thành phố này về Ba Vua, nhưng ông không tìm được một người nào có thể nói gì với ông về điều này, ngoại trừ đó là ba vị vua đã được an táng xưa kia.
Cách đó ba ngày đường có một thị trấn tên là Cala Ataperistan, trong tiếng Pháp nó có nghĩa là “Lâu đài của những người tôn thờ lửa”. Đó là một danh từ rất thích đáng vì những người dân của thị trấn này tôn thờ lửa. Tôi sẽ nói với các bạn lý do vì sao. Họ nói rằng xưa kia Ba Vua vùng này đi thờ lạy một Đấng Tiên Tri đã sinh ra và mang đến cho Ngài ba lễ vật, đó là vàng, nhũ hương và mộc dược, để biết vị tiên tri đó có phải là thần linh, vua dưới thế hoặc là thầy thuốc. Vì họ nói rằng nếu Người nhận vàng, đó sẽ là vua trần thế, nếu Người nhận nhũ hương, đó là một vị thần linh, nếu Người lấy mộc dược, đó là một thầy thuốc. Vì vậy chuyện xảy ra là khi họ đến nơi Con Trẻ sinh ra, vị vua trẻ nhất trong Ba Vua đi vào đầu tiên và tìm thấy Đứa Trẻ cùng tuổi với ông. Sau đó vua thứ hai đi vào, ông này ở tuổi trung bình, cũng vậy, hình như ông cũng cùng độ tuổi với Đứa Trẻ. Ông bước ra và hết sức kinh ngạc. Rồi người thứ ba bước vào, người này lớn tuổi nhất và cũng xảy ra cùng một chuyện như hai người vào trước đó; ông bước ra tỏ vẻ đăm chiêu. Khi cả ba vị họp nhau lại, mỗi người nói lại điều họ đã nhìn thấy và họ hết sức kinh ngạc về điều này. Bấy giờ cả ba vị cùng đồng lòng đi vào một lượt, họ đi vào và tìm thấy Đứa Trẻ ở độ tuổi đúng như Trẻ phải có, tức là mười ba ngày. Đứa Trẻ nhận lấy ba lễ vật rồi cho họ một hộp đóng kín. Sau đó các vua lên đường trở về quê quán của họ.

CHUYỆN KỂ VỀ VIỆC BA VUA TRỞ VỀ NHÀ

Khi họ cưỡi ngựa đi trong nhiều ngày, họ tự nhủ họ muốn xem thứ mà Đứa Trẻ đã ban cho họ. Vậy là họ mở hộp và tìm thấy một hòn đá bên trong, họ tự hỏi điều đó có ý nghĩa gì. Nó có nghĩa là đức tin mà họ bắt đầu nhen nhúm phải luôn cứng rắn bên trong họ như hòn đá rắn. Vì lý do này và trong ý nghĩa này mà họ phải nhận lấy hòn đá; nhưng họ không hiểu hòn đá mang ý nghĩa đó, nên họ đã ném nó vào trong một cái giếng. Ngay lúc đó một ngọn lửa hừng hực từ trời rơi xuống giếng nơi chỗ hòn đá bị ném, lúc đó họ mới hiểu ý nghĩa quan trọng và tốt đẹp của nó. Họ đón lấy ngọn lửa này và mang về xứ sở của họ, họ đặt nó vào trong một nhà thờ rất đẹp và sang trọng. Thỉnh thoảng họ làm cho lửa cháy bùng lên và tôn thờ nó như một vị thần và tất cả những gì họ hiến dâng đều được nấu chín bằng ngọn lửa này. Nếu như lửa tắt, họ đi đến những thành phố xung quanh, các thành phố này cũng có niềm tin như thế sẽ cho họ lửa để họ mang về nhà thờ của họ. Đó là lý do mà dân chúng trong vùng này thờ lửa. Nhiều lần họ phải đi bộ mất mười ngày để tìm ngọn lửa này.
Đó là chuyện kể của những người ở thị trấn cho Messire Polo nghe, họ khẳng định với ông sự thật xảy ra đúng như vậy; một trong Ba Vua có gốc gác từ một thành phố tên là Sava, người thứ hai từ Ava và người thứ ba từ thị trấn mà họ thờ lửa giống như tất cả những người trong vùng này.
Bây giờ tôi sẽ nói với các bạn về những vùng thuộc nước Ba Tư với những việc làm cũng như các phong tục của họ.

CHUYỆN KỂ VỀ TÁM VƯƠNG QUỐC CỦA BA TƯ VÀ TÊN CỦA TỪNG VƯƠNG QUỐC

Các bạn nên biết rằng trong xứ Ba Tư có tám vương quốc, vì nó là một tỉnh rất lớn, các bạn sẽ gọi tất cả bằng tên.
Vương quốc thứ nhất có tên là Casvin. Vương quốc thứ hai ở về hướng nam được gọi là Cardistan; vương quốc thứ ba là Lor; vương quốc thứ tư là Cielstan; vương quốc thứ năm là Istanit; vương quốc thứ sáu là Cerazi; vương quốc thứ bảy là Soucara; vương quốc thứ tám là Tunocan ở cuối xứ Ba Tư. Tất cả các vương quốc này đều ở phương Nam, ngoại trừ một ở Levant, đó là Tunocan. Trong vương quốc này có nhiều ngựa chiến đẹp và có nhiều người đi Ấn Độ để bán chúng, vì đó là những con ngựa rất có giá trị, mỗi con giá chừng hai trăm livrơ, tiền đúc tại thành Tua; có con cao giá hơn, có con thấp hơn tùy theo từng con. Cũng có những con lừa đẹp nhất thế giới, mỗi con giá ba mươi đồng mác bằng bạc, vì chúng to lớn và chạy giỏi cũng như đi nước chập tốt. Người ta đưa những con ngựa đến tận Chisi (Kis) và Curmosa (Ormuz), đó là hai thành phố nằm trên bờ biển Ấn Độ, ở đó họ tìm được các nhà buôn mua chúng và đưa vào Ấn Độ để bán.
Trong vương quốc này có những người dữ tợn và sát nhân, vì họ giết nhau mỗi ngày như cơm bữa. Nếu quyền cai trị không phải thuộc về lãnh chúa Tácta xứ Levant, họ sẽ gây thiệt hại lớn cho các nhà buôn và mặc dầu nằm dưới quyền lãnh chúa, nhiều lần họ không ngừng gây tổn hại cho uy quyền của lãnh chúa, vì nếu họ bắt gặp các nhà buôn không trang bị vũ khí tốt, họ giết và cướp của tất cả những người đó. Đôi khi các nhà buôn không đề phòng, họ tiêu diệt tất. Tất cả đều là người Sarrasin vì họ tin vào Đấng Mahomet. Trong các thành phố này tất cả các nhà buôn và thợ thủ công đều sống bằng nghề riêng của họ, vì họ làm ra đủ loại vải lót giường bằng vàng và lụa. Vùng của họ sản xuất ra nhiều bông vải. Họ trồng nhiều lúa mì, lúa mạch, kê và panis, họ còn có đủ loại rượu nho và trái cây.
Bây giờ chúng ta hãy bỏ qua vương quốc này và nói về thành phố lớn Jasdi.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ LỚN JASDI

Jasdi (Yezd) là một thành phố rất đẹp, rất sang trọng và có nền thương mại sầm uất. Ở đây, người ta sản xuất ra nhiều vải lụa có tên là Jasdi, các nhà buôn mang qua nhiều nước để kinh doanh và kiếm lời. Họ tôn sùng Mahomet. Khi rời thành phố để tiến lên phía trước, người ta phải cưỡi ngựa đi mất sáu hoặc bảy ngày tròn, chỉ có ba khu dân cư là có chỗ trọ. Người ta có thể phi ngựa qua nhiều cánh rừng đẹp, trong rừng có nhiều chỗ đi săn lý tưởng, nhiều chim đa đa, trĩ và nhiều loài chim khác nữa, đến nỗi các nhà buôn đi qua nơi đó đều rất lấy làm thích thú. Cũng có những con lừa hoang rất đẹp. Sau bảy ngày đường, người ta đến một vương quốc rất đẹp gọi là Creman.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ VƯƠNG QUỐC CREMAN

Creman (Kirmân) là một vương quốc thuộc xứ Ba Tư, xưa kia họ theo chế độ lãnh chúa cha truyền con nối; nhưng từ khi những người Tácta chiếm đóng nó, người Tácta gửi đến đó vị vua do họ chỉ định.
Trong vương quốc này sản sinh nhiều loại đá gọi là ngọc lam Thổ Nhĩ Kỳ: họ tìm thấy chúng trong núi và rút ra từ những tảng đá lớn. Cũng có những vỉa thiếc và ondanique (loại thiếc đặc biệt, có thể là ăng ti moan). Trong xứ này, người ta còn làm đủ các loại bộ yên cương đẹp và rất tốt dành cho các kỵ sĩ như hàm thiếc, yên ngựa, đinh thúc ngựa cũng như cung, bao đựng tên và tất cả những vũ khí tuyệt vời khác để dùng. Các bà và các cô dùng kim thêu rất đẹp và rất sang trọng. Những con thú, chim, bông hoa và đủ thứ hình ảnh trên các vải lót bằng lụa đủ màu sắc; họ cũng trang trí những lều trại của các cận thần một cách tinh xảo đến nỗi ai thấy cũng trầm trồ kinh ngạc; họ còn làm những chiếc gối dựa, gối đầu, chăn đắp và tất cả những thứ khác nữa. Trong các dãy núi của xứ này có những con chim ưng tốt nhất thế giới sinh sống, nhưng chúng nhỏ hơn chim ưng di cư: chúng có màu đỏ ở ngực, dưới đuôi và giữa hai bắp đùi. Chúng bay nhanh đến nỗi trên thế giới không có bất cứ con chim nào có thể thoát khỏi chúng.
Rời thành phố Creman, người ta đi ngựa mất bảy ngày đường qua nhiều thành phố thị trấn và khu dân cư rất đẹp. Cưỡi ngựa qua đó thật là thú vị, vì chúng ta sẽ gặp được nhiều nơi săn bắn lý tưởng hoặc giăng lưới bắt chim, đây là một niềm lạc thú to lớn. Khi đã phi ngựa bảy ngày qua khỏi đồng bằng này, chúng ta sẽ gặp một ngọn núi rất lớn, và khi trèo lên ngọn núi này, chúng ta lại thấy một con dốc rất dài phải đi ngựa mất hai ngày đường, qua nhiều khu vườn trồng cây ăn quả rộng lớn. Xưa kia có nhiều nhà ở, nhưng nay không còn nữa.
Người ta chỉ còn thấy những người chăn thả gia súc ăn cỏ. Từ thành phố Creman đến con dốc này, mùa đông lạnh đến nỗi người ta khó có thể chịu đựng được, cho dù phải mặc thật ấm và trùm kín cơ thể.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ LỚN COMADI VÀ TỈNH RÉOBARLES

Khi người ta đi ngựa mất hai ngày trên con dốc này, người ta sẽ đến một đồng bằng rất lớn. Ở đầu đồng bằng có một thành phố mang tên là Comadi (đã biến mất khỏi bản đồ cũng như lịch sử), xưa kia nó là một thành phố rất lớn và sang trọng, nhưng ngày nay không được như thế, vì những người Tácta từ những xứ khác đã tàn phá nó nhiều lần. Bạn nên biết đồng bằng mà tôi đang nói với các bạn là một nơi rất nóng. Tỉnh mà chúng tôi bắt đầu nói với các bạn gọi là Réobarles. Tỉnh này sản xuất chà là, táo địa đàng (cam) và những loại trái cây khác không có ở những xứ lạnh. Trong miền đồng bằng này, có một loại chim gọi là gà gô, chúng không giống với các loài gà gô khác trên thế giới, vì chúng có màu đen trắng hỗn hợp, chân và mỏ chúng có màu đỏ chót.
Đối với các loại thú khác, trước tiên tôi sẽ nói với các bạn về bò. Chúng rất to và trắng như tuyết; chúng có chân nhỏ và bằng, sừng ngắn và to nhưng không nhọn. Giữa hai vai, chúng mang một cái bướu tròn và bằng hai lòng bàn tay. Chúng là con vật ngộ nghĩnh nhất thế giới. Khi người ta muốn chúng thồ đồ đạc, chúng nằm bẹp xuống như những con lạc đà và sau đó mới đứng lên cùng với trọng tải rất lớn, vì đó là những con vật rất khỏe mạnh. Người ta còn bắt gặp những con cừu to như những con lừa với một cái đuôi lớn và to đến nỗi nó nặng đến ba mươi livrơ. Chúng rất đẹp và béo, thịt ăn rất ngon.
Trong đồng bằng này, có nhiều thành phố và thị trấn với những vách bằng đất cao và dày để phòng chống những người Caraonas (người Indo Scythes da đen). Họ mang tên này vì họ được sinh ra từ những người mẹ Ấn Độ và bộ người Tácta. Bạn nên biết rằng khi những người Caraonas muốn rảo khắp xứ để cướp bóc, họ làm cho ban ngày trở nên tối đen bằng những phương thức ma thuật, đến nỗi người ta chỉ thấy lờ mờ bạn mình ở sát bên và màn đêm này có thể kéo dài trong bảy ngày tròn. Nhưng họ biết rõ xứ sở như lòng bàn tay, họ đi ngựa tốp này gần tốp khác và thỉnh thoảng có đến mười ngàn, có khi nhiều có khi ít hơn, đến nỗi họ chiếm cứ tất cả các con đường. Tất cả những ai ở ngoài thành phố và thị trấn đều bị bắt: không người đàn ông, đàn bà, hoặc con vật nào có thể thoát khỏi tay họ. Và khi bọn chúng bắt được họ, chúng giết tất cả những người già và bán qua các xứ khác những thanh niên và phụ nữ như là những người nô lệ. Chính vì vậy mà họ tàn phá khắp vùng và làm cho nó hầu như hoang vắng.
Vua của những người xấu xa này được gọi là Nogodar. Tên này đi đến triều đình của Ciagati, em ruột của Đại Hãn, cùng với mười ngàn kỵ binh. Y ở lại với ông chú, vì ông là vị đại thần rất có thế lực. Trong khi ở với chú, tên Nogodar này nghĩ ra một cuộc phản bội to tát. Tôi sẽ nói với các bạn nguyên nhân vì sao. Y đi khỏi triều đình của chú ở Đại Armenie và trốn với một số lớn kỵ binh rất hung tợn và mưu phản bằng cách vượt qua Badasian rồi qua một tỉnh khác gọi là Pasciai, rồi lại một tỉnh khác nữa tên là Chesciemur. Ở đó, y mất rất nhiều lính và ngựa, bởi vì đường hẹp và xấu. Khi y chiếm tất cả các tỉnh này, y tiến vào Ấn Độ tại một tỉnh giáp ranh tên là Dilivar. Y ở lại trong thành phố này sau khi cướp ngai vàng của một vị vua có tên là Asidiu Soudan, ông này là một người rất to lớn và giàu có. Nagodar ở lại đó cùng với quân đội của ông, ông chẳng sợ ai và gây chiến với tất cả những người Tácta sinh sống chung quanh lãnh thổ của ông.
Tôi nói với các bạn là chính Messire Marco cũng đã bị bắt do những người ở trong bóng tối này, nhưng nhờ ơn Chúa, ông có thể đi trốn và ẩn náu trong một thị trấn tên là Canosalmi ở gần đó, nhưng ông đã mất toàn bộ đoàn tùy tùng, chỉ có bảy người trốn thoát được.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ CON DỐC CAO CỦA THÀNH PHỐ CORMOS

Đồng bằng mà tôi đã nhắc đến trải dài mất năm ngày đường về hướng Nam, tiếp theo là một con dốc khác dài hai mươi dặm, đó là một con đường rất xấu và nguy hiểm, vì có nhiều kẻ xấu và bọn trộm cắp. Khi xuống thung lũng này, người ta đến một đồng bằng rất đẹp, gọi là đồng bằng Formose (tên khác của Cormos). Đồng bằng này dài hai ngày đường và có những con sông thơ mộng, nơi đây có chà là và nhiều thứ trái cây khác, vô số chim như chim ưng, két và những loại chim khác không giống với các loại chim chỗ chúng ta ở. Sau khi cưỡi ngựa hai ngày đường, người ta đến biển Oceane (ở cửa vào vịnh Péc xích), trên bờ sông có một thành phố mang tên Cormos (Ormuz) và một hải cảng. Tôi cho các bạn biết rằng các thương nhân từ Ấn Độ đến đó với những con tàu chất đầy đồ gia vị, đá quý, vải hiếm, vải lót giường bằng lụa và vàng, ngà voi và nhiều hàng hóa khác nữa. Họ bán chúng cho các thương nhân khác và những người này lại mang chúng đi khắp thế giới. Đó là một thành phố thương mại rất lớn. Trực thuộc nó còn có nhiều thành phố và thị trấn, nhưng nó là thủ đô của một vương quốc do vua Ruemedan Acomat cai trị. Ở đây, nhiệt độ ban ngày rất cao do mặt trời và địa điểm nằm trên chỗ đất cứng rắn. Nếu một nhà buôn ngoại quốc nào chết ở đây, nhà vua sẽ cho tịch thu toàn bộ tài sản của y.
Trong vùng này, người ta chế biến rượu rất ngon bằng chà là và gia vị, nhưng nếu không quen uống, nó sẽ làm cho bạn bị chột ruột và khiến cho bạn đi ngoài rất nhiều, nhưng sau đó nó làm cho bạn khỏe mạnh và béo ra. Khi người dân trong nước mắc bệnh, họ ăn thịt heo và bánh mì làm bằng bột; nhưng nếu khi họ ăn lúc khỏe mạnh, họ lại ngã bệnh. Khi họ mạnh khỏe họ chỉ ăn chà là, cá muối, chanh và hành ta.
Tàu thuyền của họ đóng rất tồi. Nhiều người chết vì lý do này, vì chúng không được đóng đinh sắt, nhưng được may với chỉ lấy từ sợi cây dừa: khi dập vỏ, nó giống như cái bờm ngựa, và họ dùng nó để bện chỉ may tàu, chỉ chắc chắn và không bị hỏng khi ngâm nước biển, nhưng nó không thể chống chọi nổi với bão to. Những tàu này đều có một cột buồm, một cánh buồm và một bánh lái, nhưng chúng không được che chở trừ khi được chất đầy hàng. Hàng hóa được che chở bằng da thú vật. Người ta cho ngựa đứng trên da để chở sang Ấn Độ bán. Họ không có sắt để làm đinh, vì thế họ làm những chốt gỗ để đóng thuyền, rồi vá bằng chỉ như tôi đã nói với các bạn. Do đó, đi biển trên những con tàu này rất nguy hiểm, vì trong các biển Ấn Độ có rất nhiều bão.
Dân cư là những người da đen và tôn thờ Mahomet. Họ không ở trong các thành phố vì nhiệt độ rất cao làm họ có thể chết được, nhưng họ đi ra bên ngoài vào những khu vườn, nơi có nhiều sông và suối. Dù sao đi nữa, họ không thoát khỏi được nếu như họ không làm điều mà tôi sẽ nói với các bạn. Trong mùa hè, nhiều lúc gió từ hoang mạc xung quanh đồng bằng thổi đến hết sức nóng đến nỗi nó giết chết tất cả mọi người, nếu như lúc cảm thấy gió nóng này đến gần họ không nhảy xuống nước ngập tới đầu và ở đó cho đến khi nào gió qua đi. Họ gieo lúa mì, lúa mạch và các loại ngũ cốc khác vào tháng Mười Một và thu hoạch vào tháng Ba. Sau đó không còn một cây cỏ nào trừ những trái chà là tồn tại đến tận tháng Năm, đó là do nhiệt độ quá nóng làm khô héo mọi thứ, nhưng các con tàu không bị hư hỏng vì chúng được thoa bằng dầu cá.
Khi có người chết, đàn ông hoặc đàn bà, họ hàng, bè bạn và những người láng giềng tụ họp để chịu tang với những tiếng khóc la ầm ĩ.
Bây giờ chúng ta sẽ quay lại một con đường khác, ở thành phố Creman và tôi sẽ nói với các bạn về những miền nam ở phía Bắc của thành phố này.
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện