DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần 2

CUỘC CHUYỆN TRÒ THÂN MẬT VỀ THẾ GIỚI

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ NƯỚC TIỂU ARMÉNIE

Thật ra có hai nước Arménie, một nước lớn và một nước nhỏ. Chúa công của nước nhỏ là một vị vua đã cai trị lãnh thổ của ông trong sự công chính. Ông là chư hầu của vua Tácta. Ở đó có nhiều thành phố và thị trấn, và mọi thứ với số lượng dồi dào. Đó còn là lãnh thổ có nhiều thú tiêu khiển chẳng hạn như các cuộc săn thú và bắn chim. Nhưng tôi nói cho các bạn biết rằng đó không phải là một xứ sở lành mạnh, nhưng trái lại rất tồi tệ. Xưa kia, các nhà quý tộc đều dũng cảm khi chiến đấu, nhưng ngày nay họ yếu ớt, xấu xa và không có bất cứ phẩm chất nào trừ khi họ là những người tốt bụng và uống rượu như hũ chìm. Trên bờ biển còn có một thành phố tên là Layas, đó là một thành phố thương mại sầm uất. Vì các bạn nên biết là toàn bộ đồ gia vị và những tấm vải drap bằng lụa được khảm vàng của miền sông Euphrate và tất cả các sản phẩm khác đều được mang đến thành phố này. Các nhà buôn Venise và Gênes cũng như tất cả những xứ khác đều đến đó để bán hàng hóa của họ và mua những gì họ cần. Những ai muốn đến miền Euphrate, những nhà buôn hoặc những người nào khác, đều xuất phát từ thành phố này.
Thế là chúng tôi đã nói đến Tiểu Arménie, bây giờ chúng tôi sẽ nói về xứ Turcomanie.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ TỈNH TURCOMANIE

Turcomanie có ba chủng tộc dân cư. Trước hết đó là những người Turcoman tôn thờ Mahomet. Họ là những người đơn sơ chất phát và có ngôn ngữ riêng. Họ cư ngụ ở miền núi và trên các truông cát, ở đó họ tìm được những đồng cỏ tốt cho gia súc, vì họ sống bằng nghề chăn nuôi gia súc. Trong miền này sản sinh ra những con ngựa rất tốt gọi là Turquans (bắt nguồn từ Turquie). Những cư dân khác là người Arménie và Hy lạp, họ sống lẫn lộn với nhau trong các thành phố và thị trấn. Họ sống bằng nghề thương mại và thủ công: họ chế tạo nên những tấm thảm tinh xảo nhất và đẹp nhất thế giới, cũng như những tấm drap bằng lụa đủ màu sắc, rất đẹp và rất phong phú với số lượng lớn và nhiều mặt hàng khác nữa. Các thành phố lớn của họ là Conie, Savast, Caserie (Kounieh, Siwas, Kaisarìeh hoặc Césaré) và nhiều thành phố thị trấn khác mà chúng tôi sẽ không nói đến trong lúc này, vì đây là câu chuyện quá dài. Họ sống dưới ách thống trị của lãnh chúa Tácta xứ Levant.
Bây giờ chúng tôi sẽ bỏ qua tỉnh này và sẽ nói về Đại Arménie.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ NƯỚC ĐẠI ARMÉNIE

Đại Arménie (hiện nay vùng này được phân chia giữa Turquie, Ba Tư và Nga) là một tỉnh lớn. Ban đầu nó chỉ là một thành phố có tên là Atsenga (Arsendjan), ở đây có sản xuất những vải len tốt nhất thế giới. Chúng ta còn tìm thấy ở đây những nơi tắm tốt nhất và nguồn nước tuyệt vời nổi tiếng trên thế giới. Dân cư gồm có những người Arménie và là thần dân của lãnh chúa Tácta. Tôi cũng cho các bạn biết là vào mùa hè, toàn bộ quân đội của những người Tácta xứ Levant đều cắm trại trong tỉnh này, vì họ tìm thấy ở đó đồng cỏ rất tốt cho những con ngựa chiến của họ; nhưng vào mùa đông, họ không ở lại đó, vì cái lạnh khủng khiếp đang ngự trị; vì vậy vào mùa đông họ ra đi để đến xứ nóng, nơi nào mà họ tìm thấy những đồng cỏ tốt nhất. Các bạn nên nhớ rằng trong nước Đại Arménie này, còn có con tàu của ông Noé trên một ngọn núi lớn (núi Ararat). Tỉnh này giáp giới tại miền Midi và Levant với vương quốc có tên là Mosul, dân cư ở đây là những người Ki tô giáo thuộc phái Jacobite và Nestorien, tôi sẽ giải thích điều này sau. Phía Bắc, nó giáp với vùng của dân cư Géorgiens, mà tôi cũng sẽ nói đến. Ở tại biên giới của xứ Géorgie này, bạn nên biết có một con suối có dầu tuôn ra với một số lượng lớn, đến nỗi hàng trăm tàu mới có thể chở hết một lần. Nó không thể ăn được, nhưng chỉ dùng để đốt và thoa cho những con lạc đà để chống lại bệnh Roigne. Nhiều người đến từ rất xa để mua loại dầu này, vì trong toàn bộ khu vực và trong các vùng lân cận, người ta không đốt lửa bằng loại dầu nào khác.
Bây giờ chúng ta hãy bỏ qua nước Đại Arménie để nói đến xứ Géorgie.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ XỨ GÉORGIE VÀ VỊ VUA CỦA XỨ ẤY

Trong xứ Géorgie có vị vua có tên là David Mélik, trong tiếng Pháp có nghĩa là David Roi. Ông ta là chư hầu của vua Tácta. Và xưa kia tất cả các vị vua đều sinh ra với một con chim phượng hoàng xăm trên vai phải.
Các cư dân trông xinh đẹp và can đảm trong chiến đấu, những người lính bắn cung và chiến đấu giỏi. Họ là những người Ki tô giáo theo phụng vụ Hy Lạp. Họ cắt tóc ngắn, theo lối của các giáo sĩ.
Đó là tỉnh mà Alexandre không thể vượt qua khi ông muốn tiến về phía Tây, vì đường sá chật hẹp và nguy hiểm: một bên là biển, và bên kia là những dãy núi cao sừng sững người ta không thể cưỡi ngựa đi qua được. Con đường này dài hơn bốn dặm, hẹp đến nỗi ít người cũng có thể chống lại nhiều người. Alexandre cho xây một ngọn tháp rất bề thế để kẻ thù không thể vượt qua tấn công ông. Nó được gọi là Cửa sắt (Demir Kapou, một hẻm vực gần chân núi Caucase và biển Caspierme). Trong tỉnh này còn có nhiều thành phố và thị trấn. Những nơi này sản xuất ra nhiều lụa và dệt ra đủ các kiểu vải drap khảm vàng bằng lụa trông rất đẹp. Ở đó chúng ta còn bắt gặp những loại chim bồ cắt lớn nhất thế giới. Địa hình của tỉnh hầu hết là núi non và những hẻm vực hẹp được bảo vệ bằng các công sự vững chắc đến nỗi những người Tácta không bao giờ có thể làm chủ được toàn bộ đất đai dưới quyền của họ.
Tại đây còn có một tu viện dành cho các nữ tu mang tên là Saint Leonard nơi đó có những điều kỳ lạ mà tôi sẽ kể cho các bạn sau này. Có một hồ lớn gần nhà thờ dưới chân một ngọn núi, trong hồ suốt năm không có bất cứ con cá to hoặc nhỏ nào. Nhưng vào ngày đầu tiên của Mùa Chay, người ta lại bắt gặp những con cá đẹp nhất thế giới, với số lượng lớn; loại cá này sống suốt Mùa Chay cho đến thứ bảy Tuần Thánh. Sau đó chỉ đến tận Mùa Chay năm sau, chúng mới xuất hiện trở lại. Sự kiện này diễn ra mỗi năm, đây là một điều kỳ lạ rất lớn.
Biển mà tôi nói với các bạn nằm rất gần các dãy núi và được gọi là biển Gelachelan. Chu vi của nó hơn bảy trăm dặm và cách xa tất cả các biển khác mười hai ngày đường. Nó nhận nước con sông cái Euphrate (dĩ nhiên là sai lầm, có thể là sông Volga hoặc Oural) và mười hai con sông khác, xung quanh nó còn có núi bao bọc. Bây giờ, từ ít lâu nay, các nhà buôn từ Gênes xuôi ngược trên mặt biển này bằng tàu mà họ đã mang vào trong biển, ở đó còn có sản xuất lụa gelle (lụa hồng).
Tôi đã nói với các bạn về ranh giới của Đại Arménie về hướng Bắc, bây giờ tôi sẽ nói về những ranh giới khác giữa Midi và Levant.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ VƯƠNG QUỐC MOSUL

Mosul là một vương quốc rất lớn, dân cư ở đó thuộc nhiều chủng tộc mà chúng tôi sẽ nói đến. Có những người được gọi là Ả Rập và thờ Mahomet. Những người khác là Ki tô giáo phái Nestorien và Jacobite. Họ có một Đức Thượng phụ gọi là Atolic, và vị Thượng phụ này phong chức cho các tổng giám mục, các tu viện trưởng và tất cả các giáo sĩ cấp cao khác và sai phái họ đi khắp nơi: Ấn Độ, Baudac (Baghdad) và Cata (Cathay hoặc Trung Quốc), như các Giáo hoàng ở La Mã đã làm với các vùng của những người La tinh. Vì các bạn nên biết rằng tất cả những người Ki tô hữu ở vùng này rất đông và đều là Ki tô hữu thuộc phái Jacobite hoặc Nestorien, nhưng không phải giống như Đức Giáo hoàng và Giáo Hội La Mã muốn vì họ thiếu nhiều vấn đề về đức tin. Tất cả các vải drap bằng vàng và lụa được sản xuất trong xứ này đều được gọi là Mésolin (bắt nguồn từ Mosul); từ vùng đất này, cũng có nhiều nhà buôn lớn cũng được gọi là Mosolin, họ mang đến một lượng rất lớn gia vị, vải nhẹ và các vải drap bằng vàng và lụa. Cuối cùng có một giống người khác ở trong miền núi gọi là Card (Kurdes), họ là những Ki tô hữu hoặc Hồi giáo, một giống người rất tồi tệ vì họ cướp bóc các thương nhân.
Bây giờ chúng ta sẽ bỏ qua Mosul và nói đến Baudac, một thành phố lớn.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ THÀNH PHỐ LỚN BAUDAC VÀ CHUYỆN NÓ BỊ CHIẾM ĐÓNG NHƯ THẾ NÀO?

Baudac là một thành phố lớn, ở đó có giáo chủ Hồi giáo của tất cả những người Hồi giáo trên thế giới, giống như Tòa Thánh của Đức Giáo hoàng của những người Công giáo ở La Mã. Ngay giữa thành phố có một con sông rất lớn chảy qua; nhờ sông này người ta có thể đi ra biển Ấn Độ cách Baudac hơn mười tám ngày đường. Do đó một số lớn những nhà buôn đến và đi từ đó với hàng hóa của họ, và họ đến một thành phố có tên là Chisy (đảo Kis hoặc Crưsm) và từ nơi đây họ đi vào biển Ấn Độ. Trên bờ sông giữa Baudac và Chisy cũng có một thành phố lớn có tên là Bascra (Bassora). Từ tất cả các vùng ngoại ô của thành phố, trong các cánh rừng, có mọc lên những cây chà là tốt nhất thế giới. Ở Baudac, những vải lót giường bằng lụa và vàng được gia công bằng nhiều cách. Đó là thành phố sang trọng nhất và lớn nhất trong tất cả các vùng thuộc lãnh thổ này.
Một ngày nọ, năm 1255 sau Công nguyên, Chúa của những người Tácta xứ Levant, có tên là Alaou, là em trai của Đại Hãn đang trị vì hiện nay, tập hợp một binh đội rất lớn tiến vào Baudac và dùng vũ lực chiếm đóng nó. Đây là một sự kiện lớn. Vì ở Baudac có hơn một trăm ngàn kỵ binh, chưa kể đến bộ binh. Khi chiếm lấy thành phố, lãnh chúa tìm thấy nơi cung điện Giáo chủ Calife một ngọn tháp chứa đầy vàng, bạc và những đồ châu báu khác, với một số lượng lớn đến nỗi chưa bao giờ người ta thấy chúng được tập trung ở bất cứ nơi nào. Khi ông ta nhìn thấy kho báu lớn này, ông tỏ ra hết sức kinh ngạc. Ông cho vời Giáo chủ Calife đến trước mặt ông và nói với Giáo chủ:
- Này Giáo chủ, hãy cho ta biết tại sao ngươi tích lũy một kho báu quá lớn như thế. Ngươi muốn làm gì với nó? Ngươi không biết ta là kẻ thù của nhà ngươi và ta đi chống lại ngươi với một quân đội hùng hậu để tước đoạt của cải của ngươi hay sao? Tại sao ngươi không tìm cách ban nó cho các kỵ sĩ và binh lính để họ bảo vệ ngươi, ngươi và thành phố của ngươi?
Giáo chủ Calife không biết trả lời ra sao nên ông không nói tiếng nào, vì vậy lãnh chúa nói với ông:
- Này Giáo chủ Calife, vì ta thấy ngươi rất yêu thích kho báu của ngươi, vậy ta muốn cho ngươi ăn nó.
- Lãnh chúa truyền lệnh bắt nhốt ông trong tháp kho báu và không cho ông ăn uống bất cứ thứ gì, rồi nói với ông:
- Này Giáo chủ Calife, hãy ăn kho báu của ngươi bao nhiêu tùy thích, vì nó làm ngươi rất hài lòng, và mãi mãi ngươi sẽ không ăn thứ gì khác ngoài kho báu này.
Ông ở trong đó bốn ngày và cuối cùng chết vì kiệt sức. Có lẽ Giáo chủ nên phân phát kho báu cho những người bảo vệ đất đai và người dân của ông hơn là bị bắt, bị tước đoạt hết và bị chết như đã xảy ra. Từ đó trở đi, không bao giờ còn Giáo chủ Calife nào ở Baudac hoặc bất cứ nơi nào khác.
Bây giờ tôi muốn kể cho các bạn nghe một phép lạ có thể xảy ra tại Bauđac mà Thiên Chúa đã làm cho những người Ki tô giáo.

ĐÂY LÀ CHUYỆN KỂ VỀ PHÉP LẠ XẢY RA TẠI BAUDAC VÀ MIỀN NÚI

Vào khoảng năm 1225 sau Công nguyên, ở Baudac, có một vị Giáo chủ Calife rất ghét những người Ki tô giáo. Ngày cũng như đêm ông ta mơ ước đến những biện pháp cải đạo cho những người Ki tô giáo đang sống trên vùng đất của ông, hoặc làm cho họ chết nếu được. Vì vậy ông luôn luôn hỏi ý kiến những vị tư tế thuộc giáo luật của ông, vì mọi người đều muốn tai họa rất lớn cho những người Ki tô giáo. Điều thực tế là tất cả những người Sarrasin trên thế giới luôn muốn tai họa rất lớn đối với tất cả những người Ki tô giáo trên thế giới.
Vì vậy, Giáo chủ Calife và các thầy tư tế khôn ngoan của ông tìm được một đoạn trong sách Phúc Âm của chúng ta như tôi sẽ nói cho các bạn biết, đoạn sách nói rằng nếu một người Ki tô hữu chỉ có đức tin lớn bằng một hạt cải và khiến một ngọn núi dời đi, nó sẽ dời đi ngay. Đó là sự thật; khi họ đã tìm được đoạn văn ấy, họ rất vui mừng, vì đó là một điều có thể làm cho tất cả những người Ki tô giáo trở lại với đức tin của họ hoặc làm cho họ phải chết.
Giáo chủ Calife ra lệnh cho tất cả những người Ki tô giáo sống trên lãnh thổ của ông đến, họ rất đông. Ông chỉ cho họ quyển sách Phúc Âm và bắt họ đọc đoạn văn trong đó như tôi đã nói với các bạn. Khi họ đọc xong, ông hỏi họ có thật như vậy không; những người Ki tô giáo trả lời đúng là như vậy.
- Vậy thì, Giáo chủ nói, bởi vì các ngươi nói đó là sự thật, cũng như phải có hạt giống nhỏ đức tin nơi biết bao nhiêu là người trong các ngươi; ta sẽ đề nghị với các người như sau: hoặc các ngươi sẽ làm cho hòn núi mà các ngươi thấy chuyển động (và ông đưa ngón trỏ chỉ một ngọn núi ở gần đó) hoặc ta sẽ ra lệnh cho tất cả đều chết. Nếu các ngươi muốn khỏi chết, tất cả các ngươi hãy trở thành người Sarrasin ngoan đạo của chúng tôi. Để làm điều này ta cho các ngươi suy nghĩ trong mười ngày. Tới kỳ hạn này mà không có gì được thực hiện, hoặc các ngươi sẽ chết hoặc các ngươi sẽ trở thành những người Sarrasin.
Khi nói xong, ông cho họ giải tán để họ có thể nghĩ cách hoàn thành công việc.

NHỮNG NGƯỜI KI TÔ GIÁO HẾT SỨC KINH HÃI VỀ ĐIỀU GIÁO CHỦ HỒI GIÁO NÓI VỚI HỌ NHƯ THẾ NÀO?

Khi những người Ki tô giáo nghe những lời Giáo chủ Calife nói với họ, họ tỏ ra hết sức kinh hãi, nhưng họ vẫn hoàn toàn trông cậy vào Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo của họ, Người sẽ cứu giúp họ trong cơn nguy khốn. Tất cả các nhà hiền triết Ki tô giáo đều có mặt trong số đó có nhiều linh mục và giám mục, các ngài vội nhóm họp và không tìm bất cứ điều gì khác hơn là hướng về Đấng ban phát mọi điều tốt lành, để Người bảo vệ họ do lòng thương xót của Người nhằm chống lại bàn tay của Giáo chủ độc ác. Tất cả mọi người, đàn ông cũng như đàn bà, đều đọc kinh cầu nguyện trong tám ngày đêm. Trong khi họ cầu nguyện, một Thiên Thần sứ giả của Thiên Chúa đến với một vị Giám mục trong cơn xuất thần, Ngài là một Ki tô hữu thánh thiện. Thiên sứ nói với ông:
- Con hãy đến nhà một người thợ đóng giày chỉ còn có một mắt, và con nói với người đó ra lệnh cho núi chuyển dời, và nó sẽ chuyển dời ngay.
Tôi sẽ nói với các bạn về người đóng giày là con người như thế nào. Các bạn nên biết là ông ta sống một cuộc sống rất trung thực và trong sạch. Ông ăn chay, không mắc bất cứ tội gì, đi dự lễ hàng ngày tại nhà thờ và mỗi ngày đều dâng cho Chúa một phần tiền kiếm được. Nguyên nhân ông chỉ còn có một con mắt là như sau. Một ngày nọ, một người đàn bà đến nhà ông để yêu cầu ông đóng cho một đôi giày, bà đưa chân cho ông để ông lấy số đo.
Bà ta có một bộ giò rất đẹp, và bàn chân cũng rất đẹp. Khi người đàn ông rất chính trực này nhìn thấy chân cẳng của người phụ nữ, ông ta liền bị cám dỗ, bởi vì đôi mắt ông thèm thuồng trước cảnh tượng đó. Nhiều lần ông ta đã từng nghe trong sách Phúc Âm rằng nếu như mắt ngươi gây ra dịp tội cho lương tâm, ngươi nên móc nó ra khỏi đầu trước khi phạm tội. Vì thế, khi người phụ nữ ra đi, ông dùng chiếc dùi kết giày và đâm vào trong mắt ông và do đó ông bị mất một con mắt.
Bạn thấy đó là một người đàn ông thánh thiện công chính và có đời sống tốt lành biết chừng nào!

VỊ GIÁM MỤC CHO VỜI NGƯỜI THỢ ĐÓNG GIÀY MỘT MẮT ĐẾN NHƯ THẾ NÀO?

Khi việc mục kích trong cơn xuất thần diễn ra nhiều lần cho vị Giám mục, như tôi đã kể với các bạn trên đây. Ngày nọ Ngài nói với các Ki tô hữu về sự kiện trên. Tất cả những người Ki tô hữu đều đồng ý mời người thợ đóng giày đến trước mặt họ. Khi ông này đến, họ nói với ông là họ muốn ông cầu nguyện vì Thiên Chúa đã hứa với họ là sẽ nhận lời ông. Khi ông nghe điều người ta nói với ông, ông ríu rít xin lỗi thoái thác, và nói rằng ông không phải là con người tốt lành như họ nói. Nhưng họ cầu xin ông một cách dịu dàng đến nỗi cuối cùng ông đành phải nói rằng ông không thể không vâng lời họ.
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện