DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

 
Mục lục truyện
Nhập Đề
 

NHẬP ĐỀ

MARCO POLO DU KÝ ĐƯỢC VIẾT NHƯ THẾ NÀO?

Gần sáu thế kỷ rưỡi qua, những người dân thành phố Gênes bàn tán về một người dân đáng kính thành Venise, ông bị bắt làm tù binh tại trận thủy chiến ở Curzola và đã kiên trì nhẫn nhục chịu đựng giam cầm ôn hòa do sự kính trọng và ngưỡng mộ của những người thắng trận. Ông bị bắt cùng với chiến thuyền, do ông chỉ huy. Người ta chuyển ông đến Gênes với một vài thuyền trưởng người Venise khác cùng đô đốc Andrea Dandolo. Nhờ lòng can đảm và uy tín của ông, ông được quản thúc dưới một chế độ ít hà khắc, nên ông có thể tiếp xúc không những với các chiến hữu của ông mà còn với các công dân của nước Cộng hòa Ligurie và các du khách tò mò muốn nghe ông. Bởi vì người đàn ông nhỏ con rậm râu với nét mặt rắn rỏi đen sạm và hằn sâu những nét nhăn do khí hậu bất thường ở Viễn Đông, hầu như mỗi ngày đều sẵn lòng kể lại những chuyến du hành của mình qua những xứ sở xa lạ và mô tả những phong cảnh, những thành phố, những tài nguyên phong phú ở đó. Ông đã từng chu du trong hai mươi bốn năm qua những vùng mà hầu như chưa ai biết đến trước đó. Đầu óc hiếu kỳ, tẩn mẩn đã ghi lại hàng ngàn nhận xét tỉ mỉ về việc cai trị, phong tục tập quán, địa lý và lịch sử của các nơi đó. Hình như những chuyện kể của ông có vẻ thi vị do óc tưởng tượng, tuy nhiên ông đã đưa ra những chi tiết rất chính xác về lối tổ chức của một xứ sở mà ông gọi là nước Tartarie, về dân cư và gia súc, về thực vật, thương mại và thủ công; chúng ta không thể nào phủ nhận việc ông đã nghiên cứu chúng rất lâu và thậm chí điều kỳ lạ đó lại có thật.
Ngoài ra, bản chất của những con người thời bấy giờ khiến cho họ chấp nhận ngay cả điều khó tin, có lẽ vì những thói quen tôn giáo làm cho họ không đi sâu vào việc phân tích và kiểm chứng.
Nhà thám hiểm về các vùng đất xa lạ này tên Marco Polo, hoặc đúng hơn là Ngài Marco Polo, vì ông ta thường nhấn mạnh chức danh này, chức danh cao quý mà ông ta nhận được trong những nước mà ông đã từng sinh sống. Nhờ đó, ông đã mang về vô số của cải, điều này cho phép ông trang bị chiến thuyền mà trên đó ông đã bị bắt làm tù binh. Dòng họ của ông rất nổi tiếng ở Venise từ gần ba thế kỷ nay và cũng có huy hiệu trong tập quốc huy của nước Cộng hòa: dòng họ của những người buôn bán cũng như hầu hết giới quý tộc tại vùng Vịnh. Cha truyền con nối, dòng họ Polo vẫn luôn buôn bán với phương Đông bằng những tàu buôn đến các chi nhánh thương mại Alexandrie và Constantinople. Tóm lại, Marco chỉ làm công việc bành trướng về phía đông những công ty thương mại của dòng họ mình. Nhưng số phận đã đưa đẩy ông quan hệ với một vị vua Mông Cổ độc đoán chúa tể toàn năng của gần như toàn bộ châu Á, trừ Ấn Độ và các đảo ngoài khơi biển Trung Hoa. Ông từng thuộc số những “yếu nhân” của nhà vua tức là thuộc số những cố vấn thân cận của triều đình, những viên chức hoặc triều thần.
Hơn nữa, người kể chuyện còn tỏ ra mãn nguyện và thậm chí hơi huênh hoang theo lối người Ý trong khi nêu thật chi tiết những bằng chứng về sự quý mến và kính trọng mà ông được ban cho ở nơi đó. Ông phô trương những quyền hạn do hoàng gia ban phát qua những lá thư ủy nhiệm được ông gọi là những lệnh bài bằng vàng của Đại Hãn. Ông kể chuyện ông đã từng cai trị một vương quốc, ký kết các hiệp ước, thậm chí tham gia vào việc chiếm lấy một trong những thành phố lớn nhất của đế quốc Tacta. Theo lời ông, ông đã mang về trong hành lý của ông hàng triệu triệu viên đá quý, những thư từ của vị vua phương Đông gởi cho Đức Giáo hoàng, cho các vua nước Pháp, Anh, Tây Ban Nha và những vị chức sắc của Giáo hội Công giáo. Người ta không bao giờ tìm lại được bất cứ lá thư nào trong kho lưu trữ tại các quốc gia trên: nên tin là chúng đã bị thất lạc.
Dù sao đi nữa, những câu chuyện của ngài Marco Polo đã mang lại cho ông một uy tín lớn lao đến nỗi ông được hưởng toàn bộ sự tự do, mà người ta có thể dành cho một tù binh chiến tranh. Những du khách từ khắp nơi tuôn đến để nghe ông kể lại những chuyến du hành của ông và mô tả những kỳ quan của nước Đại Armenia, Ba Tư, Tacta và Ấn Độ. Trí nhớ lạ lùng của ông đã giúp ông nhớ lại thật chính xác không những đặc điểm của từng vùng mà còn cả những tên riêng của các thành phố, sông ngòi, mặc dù chúng hơi bị biến dạng bởi đầu óc của người Latinh. Ông cũng kê khai từng chi tiết những số liệu, ngân sách thuế má, bảng giá trao đổi, quân số binh sĩ đến nỗi chúng ta không thể ngờ vực chút nào về tính cách xác thực của chúng và các thính giả vẫn còn kinh ngạc về điều này.
Một trong số những người quan tâm nhất, đó là một người dân thành phố Pise có tên là Rusta, sau này còn được gọi là Rusticien. Phải chăng ông ta cũng bị bắt làm tù binh cùng lúc với Marco Polo? Không thể như thế được. Theo Marco cho biết, trong chương đầu của quyển sách, Rusta cũng ở trong cùng nhà tù với ông vào năm 1298, nhưng điều đó không có nghĩa ông ta là tù binh ở đó, càng không phải ông đã bị bắt ở Curzola. Tôi nghĩ nên xếp ông ta vào số những du khách thường đến nghe chuyện kể của người đàn ông thành Venise.
Đúng vậy, nhân vật Rusta này không phải là kẻ mới đến. Ông đã từng viết nhiều bộ sách bằng ngôn ngữ phổ biến nhất nơi những người có học thức vào thời đó, tức là bằng tiếng Pháp. Chúng ta còn nợ ông một bộ sưu tập đồ sộ những tiểu thuyết thuộc loại Bàn Tròn, phỏng theo những công trình nổi tiếng cùng thể loại: Tristan, Merlin, Saint Graal, Lancelot. Disraeli còn quy cho ông một quyển Meladius de Leonnoys và xem ông là sủng thần của vua Henri III nước Anh. Có thể lắm... Việc quy cho ông là tác giả của những “Hiệp sĩ Bàn Tròn” không phải là thiếu cơ sở. Rusta, người thành Pise, đúng là một nhà văn, một nhà văn nổi tiếng từ gần ba mươi năm trước, vì tác phẩm Bàn Tròn của ông có trước năm 1272. Sở thích về tiểu thuyết mà ông đã diễn đạt trong các tác phẩm có thể quy cho ông những chuyện kể hầu như hoang đường của một nhà du lịch. Cuối cùng, ông có ý nghĩ viết thành một quyển sách, trong đó ông có thể dành cho cái nhan đề mà chúng ta đã bắt gặp trong một vài bản thảo: Le livre des Merveilles (Quyển sách về những kỳ quan).
Mặc dù tôi không thích dùng lối đàm thoại trong phân tích văn học và lịch sử, tôi buộc phải dùng nó do các sự kiện và tâm lý các nhân vật. Vì vậy tôi tưởng tượng Rusta thành Pise đang nói chuyện với Marco Polo theo ngôn ngữ lúc bấy giờ.
- Tại sao ngài không viết tất cả những gì ngài đang kể cho chúng tôi?
- Trước hết, nhà du lịch trả lời, bởi vì tôi không phải là một nhà văn. Lúc nào tôi cũng chỉ là một nhà buôn, một công chức và một nhà ngoại giao. Tôi cảm thấy mình không có đủ khả năng để dẫn dắt một câu chuyện quá dài. Để chấp bút, cần có sự hiểu biết và uy tín, tôi lại thiếu những thứ đó.
- Những đắn đo này đang làm rạng danh cho Ngài, thưa Ngài Polo, tôi chỉ có thể khen ngợi Ngài. Vì vậy tôi đề nghị Ngài hãy giao lại phần việc đó cho tôi, nếu Ngài thấy tôi xứng đáng. Ngài chỉ cần nói ra, còn tôi có trách nhiệm viết. Tất cả những gì Ngài sẽ nói với chúng tôi đều được chuyển lên trang giấy, đúng theo lời Ngài nói và dưới sự kiểm duyệt của Ngài. Nhờ đó tất cả những người trung thực quan tâm đến những xứ sở xa xôi cũng sẽ biết đến những vùng mà Ngài đã đi qua, cho dù họ không phải đến gặp Ngài ở Gênes.
- Đồng ý, thưa ngài Rusta, vì ngài đã ao ước việc đó, tôi sẽ cám ơn ngài rất nhiều.
Vậy là họ đã bắt tay vào việc, dĩ nhiên là sau khi thống nhất kế hoạch vì tác phẩm Cuộc chuyện trò thân mật về Thế giới cho thấy một cấu bố cục chỉ có thể được thai nghén trước. Hai mươi chương đầu mô tả các nhân vật và tóm tắt các sự kiện. Phần còn lại diễn tả những xứ sở đi từ vùng này qua vùng khác, từ Biển Đen cho đến vịnh Péc Xích; tiếp theo là từ vịnh Péc Xích đến tận cùng nước Trung Hoa; sau nữa là xuyên qua các đảo ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương để rồi kết thúc ở phía nam điểm khởi hành trong nước Đại Turquie. Câu chuyện kể của Polo vì vậy đi theo một lộ trình đã vạch rõ. Phải thấy rõ ở đó vai trò của một người có tay nghề, cũng như ở trung tâm các chương nói đến Đại Hãn, quyển sách chỉ là một bài biện hộ cho tính cách bá quyền của nhà chinh phục Mông Cổ.
Vì vậy, có lẽ nắm trong tay một vài điều ghi chép mơ hồ, người đàn ông thành Venise kể lại một cách chậm rãi tất cả những gì ông ta đã từng thấy hoặc nghe nói, còn người đàn ông thành Pise đang ngồi trước một bàn viết và ghi lại chính những lời của nhà du lịch. Bài biên tập của ông đã giữ lại toàn bộ vẻ tươi tắn và tất cả những ngập ngừng trong lời nói. Cũng như trong ngôn ngữ nói, việc lặp từ, nhất là các tính từ, được dùng nhiều do lối diễn đạt. Chúng ta nghe chính giọng nói của Marco Polo, chúng ta thấy được những sự mệt mỏi, những lúc tạm dừng; chúng ta gặp lại những lối diễn đạt quen thuộc được thổi phồng bởi sự nhiệt tình của người Ý. Thậm chí chúng ta thường nhận thấy ông bị quấy rầy do những kỷ niệm quá dư thừa, điệp khúc “tôi sẽ nói với anh điều gì nữa đây?” trở đi trở lại vào những lúc xuất thần nhất. Đôi khi ngay giữa chương, người kể nhớ lại đã quên một điều gì đó trong chương trước. Không cần quay lại chương này, ông xen vào đó đoạn bỏ sót, văn bản chỉ cần thêm vào “Tôi đã quên... ”, đồng thời bắt đầu bổ sung một câu thật dài.
Chuyện kể lại tiếp tục sau đó, một cách chính xác như trong nhà tù Gênes, bằng một lối diễn đạt tự nhiên đến nỗi chúng ta tin như đang tham dự vào một bài đọc chính tả.
Không thể nào chấp nhận những kết luận của giáo sư Benedetto, theo đó Rusta không viết theo việc đọc lớn tiếng của Marco Polo, nhưng dùng các tư liệu do nhà du lịch cung cấp sẵn. Giọng văn của câu chuyện không thể bỏ qua việc ứng khẩu để người đàn ông thành Pise ghi lại.
Dĩ nhiên Marco diễn đạt theo ngôn từ của ông, không phải tiếng Ý chưa tồn tại, nhưng theo phương ngữ Venise. Riêng Rusta, ông viết ngôn ngữ của ông, tiếng Toscan pha lẫn tiếng Livourne vùng biên. Giống như ông từng viết trong tác phẩm Bàn Tròn, giống như phần đông các nhà văn thuộc ngôn ngữ bình dân thế kỷ XVIII đã sử dụng, ông viết sách bằng tiếng Pháp, tôi muốn nói đến ngôn ngữ Oil, vì tiếng Pháp như chúng ta nói hiện nay chỉ được hình thành rất lâu sau này do xã hội thượng lưu Paris. Giống như Brunetto Latino và Martino da Canale, những nhà văn Ý, Rusta có thể nghĩ rằng ngôn ngữ Pháp đang lưu hành trong quần chúng và dễ đọc, dễ nghe hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.
Chúng ta có thể nghĩ rằng thứ tiếng Pháp của Rusta người thành Pise vẫn còn kém chính xác về mặt ngôn ngữ học và cú pháp hơn so với tiếng Pháp của các nhà văn cùng thời được sinh ra và giáo dục ở Pháp. Phải mất gần ba thế kỷ sau họ, các quy tắc của tiếng Pháp mới được ấn định. Chính Montaigne vẫn còn là một người nói tiếng địa phương. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi tiếng Pháp của Rusta cũng xa lạ và không chính xác như tiếng Pháp mà chúng ta bắt gặp trong các bản văn đầu tiên, cũng như văn bản viết tay 1116 mà tôi sẽ nói tới sau này. Với ý chí vô hạn và sự chuyên tâm vững vàng nhất, ông ta cũng không thể viết hay hơn những Villehardouin, Joinville và các nhà văn tiên phong khác của chúng ta. Hơn nữa, ông ta có thể để cho mình bị tác động bởi cách đọc của người đàn ông Venise và tuân theo những chỉ thị của bộ óc riêng của mình, vì bài viết của ông đầy dẫy những từ ngữ đặc Ý, điều này khiến cho những người giống như tôi chuyên chú vào việc chuyển bản văn sang tiếng Pháp hiện đại đôi khi mắc sai sót. Vì thế mà ông luôn sử dụng “assez” thay cho “moult” hoặc “beaucoup”, trong ngôn ngữ hiện đại không nên dịch bằng “assez” vì nó có nghĩa là “moins que beaucoup”, nhưng bằng “beaucoup”, từ “assez” này biểu hiện từ “assai” của tiếng Ý nó đồng nghĩa với “molto”. Chúng ta cũng gặp trong văn bản từ “nisun”, thay cho “personne”, đó là “nessuno” trong tiếng Ý, “dimentiquer” thay cho “oublier”, đó là từ “dimenticare'“trong tiếng Ý và nhiều từ khác như “vouloir bien” thay cho “aimer”, từ này xuất phát từ tiếng Ý “voler bene”. Ngôn ngữ này phong phú hơn ngôn ngữ chúng ta khi nói về tình yêu, sở thích hoặc sự trìu mến, tất cả những gì mà chúng ta chỉ gói gọn trong một từ “aimer” (yêu).
Ngoài ra, việc phát âm và chuyển sang tiếng Pháp đối với các danh từ riêng nhất là các từ Trung Hoa. Polo, con người đã từng nghe chúng qua tiếng Trung Hoa lại phát âm theo kiểu người Ý. Và Rusta người Ý lại viết chúng ra tiếng Pháp nhưng không chú ý đến những khác hiệt trong cách phát âm, điều này dẫn đến âm “c” cho tất cả các âm “tch” của Trung Hoa và âm “u” cho tất cả âm “ou” của tiếng Ý và Trung Hoa, ta chỉ cần thường xuyên tái lập việc phát âm tiếng Ý để tìm lại tiếng gốc Trung Hoa.
Cách xử lý các danh từ riêng theo kiểu tiếng Pháp - Ý đôi khi đưa đến những kết quả rất bất ngờ. Chính vì vậy Samarkand (trong ngôn ngữ Turkestan hiện nay) đối với Rusta lại trở thành San Marcan, tức là Saint Marcan. Chúng ta không phải không biết đến cách xử lý của các nhà văn xưa kia đối với danh từ riêng nước ngoài. Nếu Tallemant vào thế kỷ XVII, viết Bouquinquant thay cho từ Buckingham, chúng ta cũng có thể bỏ qua cho một nhà văn của thế kỷ XIII viết từ Canbaluc thay cho Khân Baligh, tức là Pékin (Bắc Kinh).
Sau nữa, nên lưu ý đến tất cả những gì mà các nhà sao chép bản thảo viết tay có thể làm trong khi viết các danh từ riêng. Những chữ gô tíc dễ gây quá nhiều lẫn lộn như tôi sẽ trình bày sau này về Matteo, và những nhà thư lại thời Trung cổ ít quan tâm đến điều này. Họ là những người thợ thủ công trung thực chứ không phải là những nhà ngữ văn học. Việc sử dụng tùy tiện các danh từ riêng dù sao cũng đã kéo dài trong hàng thế kỷ. Hiếm có những người quyền cao chức trọng và thậm chí các nhà văn trong chế độ cũ không biết viết tên riêng của họ một cách chính xác. Malherbe viết mỗi lúc mỗi khác danh từ Maleherbe, Malherble, Malerbe, và thậm chí Mal herbe; Peiresc lại ghi Peresq, Peyresq, Perez, Peiretz, Peyres cho từng lá thư của ông. Tôi có thể nêu lên năm hoặc sáu trang ví dụ về việc cẩu thả trong cách viết này. Do đó không có gì lạ trong việc biến đổi của các danh từ riêng do các nhà ghi chép của thế kỷ thứ XIV khi họ gặp các từ Ả Rập, Ba Tư hoặc Tacta trong cuốn sách của Marco Polo. Điều trái ngược mới có thể khiến ta kinh ngạc. Nếu tôi nhấn mạnh đến những biến dạng này, đó là vì chúng đã gây rắc rối cho các nhà chú giải muốn xác định những vùng đất, thành phố và sông ngòi do người đàn ông Venise nhắc đến; đó cũng là vì chúng đã dẫn dắt họ đến những lối giải thích đôi khi mạo hiểm, từ nguyên học từ thời Ménage, thường giống như một trò tung hứng hoặc những trò ảo thuật.
Chúng ta không bao giờ biết việc đọc của Marco Polo đã kéo dài trong bao lâu. Trong chương đầu, ông nói với chúng ta về năm 1298 và chỉ có năm này mà thôi. Rất có thể lắm vì cả hai người không có việc gì khác để làm nên bản văn không tỏ ra cầu kỳ và gọt giũa.
Đó là việc ghi lại một câu chuyện hầu như quen thuộc, cũng có thể Marco Polo đã không xem lại bản văn một khi nó đã xuất hiện trên giấy trắng mực đen. Trong những lúc đầu óc phong phú như thế, chẳng ai hơi sức đâu mà tỏ ra tự ái vụn vặt. Nếu chúng ta tin vào ngài Cépoy, ông ta chẻ xem lại câu chuyện chín năm sau, năm 1307, nhằm dâng tặng cho Charles de Valois, con của vua nước Pháp, một bản dịch chính xác hơn. Nó là một bản tiếng Pháp được trau chuốt kỹ, nhưng vẫn không làm sáng tỏ bao nhiêu mớ bòng bong của các danh từ riêng. Thậm chí tôi thiết nghĩ bản dịch còn làm phức tạp vấn đề thêm, vì vậy về phương diện này, tôi sẵn sàng dựa vào các văn bản có trước kia.
Sau khi viết xong quyển sách, Rusta đưa vào hàng cuối cùng lời cảm tạ quen thuộc và từ Amen đáp lại. Sau đó hai người từ biệt nhau. Không ai, ngay cả Ramusio đi nữa, cũng không bao giờ nói cho chúng ta biết về mối quan hệ giữa hai con người từng cộng tác chặt chẽ đã trớ nên như thế nào. Mỗi người tiếp tục con đường định mệnh của mình. Đối với nhà văn chương, việc lang thang tìm kiếm đề tài văn học đã đưa ông đến Gênes; với nhà du lịch, đó là cuộc sống tĩnh tại của một đại tư sản ở Venise.

CUỘC ĐỜI CỦA MARCO POLO

Chúng ta chỉ biết về cuộc đời của Marco Polo qua những gì ông ta đã nói trong quyển sách của ông và những gì Ramusio đưa thêm vào tác phẩm Navigationi e Viaggi (Venise 1574) và Jacopo d’Aqui viết trong Chronica libri imaginis mundi. Cần lưu ý là các chi tiết do Ramusio nêu lên có thể có những điều hoang đường hoặc viển vông nhất là trong câu chuyện cuộc trở về của ba anh em Polo ở Venise. Cuộc đời của những nhà du lịch vĩ đại thường được thêm thắt vào bằng những điều tưởng tượng có tính cách hoang đường. Riêng tôi, tôi có khuynh hướng nghĩ rằng việc trở về của Marco Polo và gia đình của ông được diễn ra trong không khí giản dị phù hợp với các tâm lý của các nhân vật hơn.
Dòng họ Polo gốc gác từ Chibenik (Sebenico) ở Dalmatie. Vì thế dòng họ ông thuộc chủng tộc Slave, giống như phần đông các dòng họ lâu đời ở Dalmatie và tên Polo mang tính cách Venise xuất phát từ một tên khác trong ngôn ngữ Dalmatie, nó có nghĩa là con quạ, ý nghĩa mà người ta có thể gán cho từ pola trong tiếng Ý, mặc dầu từ này cũng như từ đồng nghĩa mulacchia có liên quan đến từ freux (quạ mỏ hẹp) hơn là từ corneille (con quạ) (Dictionnaire d’Alberti, 1772). Đôi khi từ nguyên này được khẳng định bởi câu nói của dòng họ Polo: ba con quạ cát trên cánh đồng xanh ánh bạc.
Cho dù dòng họ Polo có nguồn gốc Slave hay không, điều chắc chắn là họ đã đến lập nghiệp ở Venise vào năm 1033 và thiết lập ở đó một dòng họ của các đại thương gia với nhiều công việc thương mại giống như đã từng có rất nhiều trong nước Cộng hòa đang làm bá chủ vùng biển Adriatique. Cho đến cuộc chinh phục Ấn Độ của Vasco de Gama, Venise là một chi nhánh thương mại bán các sản phẩm từ phương Đông; đối với giai cấp quý tộc trong vùng, lao vào việc buôn bán không có gì là mất tư cách.
Vào đầu thế kỷ XIII, một người có tên là Marco Polo, sau này có biệt danh là Il Vecchio (Người Ông), để khỏi lẫn lộn với nhà du lịch vĩ đại, sinh được ba người con trai; con cả là Andréa; tiếp theo là Nicolo hoặc Nicolao, theo những văn bản đầu tiên; và Maffeo hoặc đúng hơn là Matteo; Maffeo chỉ là do sự nhầm lẫn của các nhà ghi chép đối với chữ “t” trong các bản viết tay theo lối chữ gô tíc, chữ “t” có thể đọc thành “f’ cũng như “t”. Hơn nữa, trong tiếng Ý không bao giờ có từ Maffeo, chỉ có từ Matteo phải đọc là Matthieu. Người con cả Polo đã đi lập nghiệp ở Constantinople để giao thương với phương Đông tại đó. Để tiếp cận với các thị trường lớn của người Tacta và Ba Tư, ông đã dựng nên một chi nhánh thương mại ở Soldaya hoặc Soudak trên bờ biển phía nam Crimée hiện nay. Sự đoàn kết trong thương mại cũng như tinh thần gia tộc là nét đặc trưng của dân tộc Ý, nó khiến ông luôn liên kết với nhà mẹ ở Venise điều rất quan trọng trong lịch sử của dòng họ Polo, vì chính người con cả Polo sẽ tổ chức chuyến du lịch lần đầu tiên với hai em trai và vì thế ông sẽ là người chủ xướng những chuyến viễn du cũng như việc biên tập quyển sách vĩ đại của cháu ông là Marco.
Chính Polo ở Constantinople, bằng sự nhìn xa thấy rộng của một nhà doanh nhân Venise, đã hiểu được toàn bộ quyết định thương mại cần tận dụng từ cuộc chinh phục của người Mông cổ ở miền Tây Á. Những người mới đến Ba Tư và nước Đại Turquie (Turkestan ngày nay) đón nhận một thị trường thương mại có lợi, vì vậy họ cần phải vơ vét tối đa và càng sớm càng tốt. Vì thế ông cầu cứu đến hai người em trai là Nicolao và Matteo, những người này đã lao vào cuộc phiêu lưu với lòng gan dạ tỉnh táo và khát vọng vô song của những người đàn ông vào thời kỳ đó.
Họ khởi hành từ Venise vào năm 1250, như các bản viết tay về Marco Polo đã ghi. Năm 1255, theo niên đại lịch sử, họ đã đến Constantinople mang theo nhiều hàng hóa Venise để cho lưu hành tại chỗ, vì như chúng ta thấy, họ làm nghề buôn kim hoàn và đá quý gia công, đó là mặt hàng xuất khẩu chính của các lái buôn châu Âu đến phương Đông, cho đến thời kỳ của Tavernier và Chardin: chúng rất dễ mang và trở nên lạ lùng đối với các vị vua độc đoán của Tácta hoặc Ấn Độ, những vị vua tò mò về những thứ mới lạ xa hoa và những kẻ tích trữ không hề biết chán.
Được cung ứng mặt hàng chọn lọc không mấy giá trị, họ đến chi nhánh thương mại của anh trai ở Solđaya, nhưng chỉ lưu lại đó thời gian cần thiết để giong buồm ra khơi. Những thông tin được cung cấp cho họ khiến họ quyết định đến Saray trên sông Volga (không xa Stalingrad hiện nay bao nhiêu), nơi trú ngụ của Abarca Khan hoặc Barbai Khan, thủ lĩnh của những người Tacta ở miền Ponent, ở đó họ đã thanh toán toàn bộ vốn liếng kim hoàn với hơn một trăm phần trăm lợi nhuận (hai lần hơn giá trị thật, theo văn bản).
Có thể họ không dừng lại ở công việc làm ăn này và họ đã theo đuổi một khuynh hướng hoạt động thương nghiệp riêng của mình, vì chúng ta bắt gặp họ ở Saray từ một năm tròn khi nổ ra cuộc chiến tranh giữa Barkai và em trai là Alaou hoặc Houlagou, thủ lĩnh của người Tácta ở Levant. Cuộc xích mích đang hoành hành ở phía tây nam, tức là giữa sông Don và miền núi Caucase, và hai anh em Polo bị cản trở lúc quay về Soudad và Venise. Dĩ nhiên họ có thể ở lại Saray một cách yên ổn, nhưng sở thích phiêu lưu và bản năng thương mại dẫn họ đến cuộc hành trình mới; “không thể quay lui, bản văn ghi lại một cách giản dị lạ lùng, hình như tiến lên phía trước là điều tốt cho họ”.
Vậy là họ đi về phía đông nam đến tận Boukhara trong nước Turkestan hiện nay, nơi họ đã bị kẹt trong ba năm do cuộc chiến tranh. Chắc họ không nhớ nhiều đến tổ quốc và gia đình của họ (Nicolao có vợ và con), vì khi những sứ giả từ Houlagou đến với Đại Hãn vượt qua Boukhara và đề nghị những người Venise tháp tùng họ đến nhà vua Mông cổ, những người này tin tưởng vào sao chiếu mệnh của mình, vội chuẩn bị hành lý và đi ngựa đến tận khu nghỉ mát của Khoubilai, vị Đại Hãn, tại biên giới Mông Cổ và Trung Hoa, họ phải dành trọn một năm để hoàn thành chuyến đi. Họ gặp ở đó vị vua chuyên chế Mông Cổ mà tôi sẽ mô tả tâm tính kỳ lạ sau này. Ông không chỉ dừng lại ở việc tiếp đón họ “với sự kính trọng to lớn” hỏi han họ về những phong tục tập quán của người châu Âu, về các vị vua và Đức Giáo hoàng; ông còn giao cho họ trọng trách chuyển thư cho Đức Giáo hoàng, yêu cầu Người gửi cho ông đến 100 nhà hiền triết Ki tô giáo để tranh luận về thần học với các tu sĩ Phật Giáo trong nước, thậm chí còn cam kết cải đạo của Người chứng minh cho ông biết rằng Ki tô giáo là tốt đẹp hơn. Vị Đại Hãn có thể khá bình thản về kết quả của cuộc tranh luận này: phải có toàn bộ tính cả tin của thời Trung cổ để có thể tin tưởng là vị Đại Hãn một mức nào đó lại nghĩ đến việc từ bỏ những tín ngưỡng đang bảo đảm cho chế độ chuyên chế của ông. Vị vua đam mê những điều lạ lùng quốc tế này cũng yêu cầu hai anh em mang đến cho ông dầu thắp đèn tại Mộ Thánh.
Chúng ta có thể phỏng đoán là cả hai nhà buôn Venise không ra đi với hai bàn tay trắng. Họ đi từng chặng đường ngắn, buôn lậu dọc theo cuộc hành trình và vì vậy phải mất ba năm mới đến được Layas, gần Alexandrie, từ đó họ hướng đến Saint Jean d’Acre và biết tin là Đức Giáo hoàng vừa qua đời.
Trong thời kỳ đó, một vị Giáo hoàng không phải được bầu lên chỉ trong một tháng trời. Các Hồng y đến từ rất xa, những mánh khóe của các triều đình khiến cho những cuộc họp kín bầu Giáo hoàng kéo dài. Anh em nhà Polo quyết định chờ đợi việc bầu vị Giáo hoàng mới ở gia đình họ tại Venise. Họ đến nơi vào năm 1269 sau 14 tháng vắng mặt. Nicolao biết tin vợ mình qua đời, có thể là vì buồn chán lo lắng quá lâu và không hay tin tức gì về chồng. Nhưng đứa con mà ông đã có trước lúc khởi hành vẫn còn sống. Nó tên là Marco. Nó trạc 15 tuổi chứ không phải 12 như một vài văn bản viết tay đã ghi (điều này sẽ biến đứa trẻ thành đứa con ngoại hôn), và không phải 19 tuổi như Ramusio nói khi căn cứ vào ngày khởi hành bị tính sai (1250). Cậu bé đó chính là Marco Polo của chúng ta.
Hai anh em chờ đợi ở Veniso. Việc bầu cử Giáo hoàng kéo dài trong vòng hai năm. Vào lúc này, tiếng gọi phiêu lưu và lợi lộc một lần nữa lại vang vọng bên tai họ. Không cần quan tâm đến thư gửi cho Giáo hoàng, họ quyết định quay lại Đại Hãn và đem Marco đi theo, lúc này cậu đã 17 tuổi. Chúng ta gặp họ ở Saint Jean d’Acre, từ đây cả ba người đến Jerusalem để xin dầu Mộ Thánh. Sau đó họ lên đường hướng về Trung Hoa. Nhưng ở Layas, họ hay tin Giáo hoàng Grégoire X vừa mới được bầu chọn (ngày 1 tháng 9 năm 1271). Đó là vị sứ thần tại Syrie mà họ đã quen biết Saint Jean D’Acre. Họ vội vàng quay lại thành phố này, họ đến bái kiến thần phục trước vị Giáo hoàng mới. Thay vì 100 nhà hiền triết như Đại Hãn yêu cầu, Đức Giáo hoàng gửi cho họ hai tu sĩ dòng Đa Minh không thích phiêu lưu, chẳng có lòng nhiệt huyết tông đồ và ngay cả lòng khát khao tử vì đạo; vì vậy từ lúc nguy hiểm đầu tiên, cả hai vị quy đạo cho người khác liền bỏ rơi anh em Polo bằng cách nhường cho họ những thư ủy nhiệm và những đặc ân mà Đức Giáo hoàng đã ban cho họ.
Cả ba người dân thành Venise tiếp tục đi ngựa đến Trung Hoa. Họ đã đi đường mất ba năm. Cuối cùng họ gặp lại vị Đại Hãn ở Kai Ping Fou, gần Bắc Kinh. Khoubilai tiếp đón họ “hết sức trọng hậu” và “hoan hỉ” nhận lấy các pháp điển của Giáo hoàng và dầu thắp từ Mộ Thánh. Ông đặt tất cả vào trong bộ sưu tập riêng bên cạnh viên đá đỏ đảo Ceylan của Đức Phật: “Ông ta hài lòng đến nỗi không cho ba người La tinh ra đi nữa. Ông phong cho họ làm những quan cao cấp ở đó. Họ được mọi người phục vụ và tôn kính”.
Chúng ta không đề cập bao nhiêu đến Nicolao và Matteo. Ngài Marco. Như chúng ta sẽ gọi từ đây về sau, bây giờ đang nắm giữ một vị trí quan trọng. Chàng trai tháo vát, rất có khiếu về các ngôn ngữ và thổ ngữ, rất hiếu kì. Hơn nữa còn là quần thần tinh tế, cậu sớm được bổ nhiệm làm “cố vấn riêng và ủy viên hoàng gia”, nếu chúng ta tin Pauthier, ít ra cậu ta cũng được giao cho những sứ mạng hết sức tế nhị. Ở đây, sự phóng khoáng hoặc nhiệt tình của các nhà chú giải tha hồ được bộc lộ.
Chắc chắn Marco Polo thấy mình được giao phó cho những quyền hành quan trọng nhất, ông có thể đi xuyên qua nước Trung Hoa bằng mệnh lệnh để phục vụ cho Đại Hãn. Nhưng ông không nói nhiều về các lộ trình cũng như lý do các cuộc di chuyển của ông, các sử gia Trung Hoa ít nói hơn ông về những chuyện đó, nghĩa là không nói gì hết. Thật đáng tiếc là ông không kể cho chúng ta về các chuyến đi của ông, ông chỉ mô tả các xứ sở và các thành phố ông đã nhìn thấy và nghe nói đến. Thậm chí chúng ta cũng không xác định được vị trí những điều ông mô tả. Việc định hướng của ông được chăng hay chớ, hoặc thậm chí sai lầm, việc tính toán khoảng cách bằng những đoạn đường khó tham khảo trên bản đồ.
Việc thiếu chính xác này đã cho phép các nhà chú giải đưa ra những giả thuyết hết sức táo bạo. Nếu tin vào họ, những chặng đường mà người đàn ông thành Venise đã đi xuyên suốt qua nước Trung Hoa tăm tối và phức tạp của thời Trung cổ. Sự việc phải diễn ra như vậy. Marco Polo đã cho chúng ta biết rõ hướng phải theo, khoảng đường từ thành phố này đến thành phố khác, nhưng ông không bao giờ nói cho chúng ta là ông có theo đúng con đường đó hay không. Những lộ trình mà họ đã vạch vẫn còn đang được tranh cãi sôi nổi đến mức các nhà bình giải cổ văn hầu như không bao giờ đồng ý với nhau. Từ tất cả các mối quan hệ của chuyến đi, tôi không nghĩ rằng có một bản văn duy nhất được mọi người yêu cầu. Một vài người nghiên cứu về Polo, chẳng hạn như Percy Sykes, không do dự khi thêm vào văn bản gốc những câu hoàn toàn do họ nghĩ ra.
Điều chắc chắn, đó là trong 17 năm trời, Ngài Marco, bố và chú của ông vẫn ở lại phục vụ cho Đại Hãn. Việc hoạt động của hai anh em vẫn ở trong bóng tối. Nếu hiểu biết họ, người ta tưởng tượng họ không hoàn toàn từ bỏ những ước mơ buôn bán của họ. Họ có quá nhiều cơ hội làm giàu, và thực tế họ quá giàu lúc trở về nhà vì không từ bỏ ước mơ đó.
Chuyện kể của Marco Polo không nói cho chúng ta biết những lý do nào mà ba người đàn ông tìm cách quay về Venise sau 17 năm trời. Nhớ quê hương ư? Ít có khả năng; tình cảm này không bộc lộ bao nhiêu trong tập tục đương thời. Nói đúng hơn, tôi thấy ở đây có khát vọng tự do và quản lý theo ý mình những của cải mà họ tích cóp được: điều này là điều rất khó trước mắt một nhà tài chính chuyên chế như Khoubilai.
Văn bản sẽ cho chúng ta biết lý do họ được nghỉ việc và sứ mạng mà họ đã được giao trên đường trở về. Sau mười tám tháng lênh đênh trên Ấn Độ Dương, họ đến Ba Tư nơi họ đã làm xong việc ủy thác. Sau đó họ dùng đường bộ đi đến tận Trébizonde nằm trên bờ biển Đen, từ đó họ có thể đi bằng đường biển đến Constantinople rồi Négrepont, đảo Eubée, và cuối cùng đến Venise. Họ đến đó vào năm 1295, sau hai mươi bốn năm vắng mặt (chứ không phải hai mươi sáu như lời của Marco Polo và hầu như tất cả các nhà bình chú đã nói, do tính toán sai). Theo niên đại đã nêu, trong năm đó Marco phải trạc bốn mươi mốt tuổi, về phần tiếp theo trong tiểu sử của ông, chúng ta có sẵn ba văn bản: một của Ramusio, được biên soạn hai thế kỷ rưỡi sau khi anh em Polo về lại Venise, một đoạn văn của Zacopo d’Aqui liên quan tới việc tù đày của Marco và di chúc của ông, bản gốc của di chúc này được lưu trữ ở thư viện Venise.
Biệt thự của dòng họ Polo, nơi các nhà du lịch tìm lại lúc quay về, nằm không xa Rialto và San Giovanni Crisostomo, cuối một quảng trường nhỏ, quảng trường La Corte Salbionera, nơi người ta đến bằng một trong những đường phố hẹp âm u giống như các đường phố có rất nhiều ở Venise, đường La Solto Portico del Forno.
Về việc trở về này, Ramusio kể cho chúng ta một câu chuyện rất thú vị xuất phát từ truyện cổ phương Đông, nhưng như chúng tôi đã nói, hình như nó ít phù hợp với thực tế về tâm lý. Hình như ba nhà du lịch khi đến nhà với những bộ quần áo tơi tả (không hiểu vì sao) rất khó nhận diện bởi những người bà con đang chiếm giữ căn nhà của họ. Vì vậy có lẽ họ dùng đến một chiến thuật của các nhà đóng kịch. Họ mời tất cả các bà con đến dự một bữa tiệc lớn, họ xuất hiện trong bộ áo bằng xa tanh đỏ sậm và sớm cởi bỏ chúng để tặng cho các đầy tớ của họ.
Sau đó họ mặc những chiếc áo dài khác lần này bằng vải hoa nổi và hành động hệt như lần trước, để rồi cuối cùng mặc lại những bộ đồ bằng da thô mà họ đã mặc lúc trở về. Khi tháo lớp vải lót ra, người ta thấy một lượng lớn đồ trang sức đắt giá như: đá rubi, xa phia, hồng ngọc, kim cương và ngọc lục bảo. Chúng ta có thể nghĩ rằng trước một sự giàu có như thế, gia đình không còn phải do dự để nhận ra các nhà du lịch là những người thuộc dòng họ và tỏ ra hết sức quý mến và kính trọng họ. Tất cả các gia đình trên thế giới này không phải luôn luôn hành động như thế đối với những thành viên của mình lúc họ trở về với những chiếc túi đầy tràn hay sao?
Phần tiếp theo của câu chuyện do Ramusio kể có vẻ thực hơn và rất phù hợp với những điều mô tả hơi phóng đại của Marco Polo trong sách của ông. Ông tỏ ra thỏa mãn biết bao khi kể lại những chuyến du lịch. Khi mô tả những xứ ông đã đi qua, ông không ngừng nói về sự giàu có của chúng và luôn tính ra bằng triệu tiền vàng. Người ta sớm gán cho ông là Ngài Milioni (một vài nhà bình chú có lẽ không biết tiếng La tinh, lại viết thành Millioni), và quảng trường nhỏ mở ra trước ngôi nhà của họ được gọi là Corte del Milioni. Đó là tính cách châm biếm của những người Venise, điều đó cho chúng ta biết là những người cùng thời đó với ông ít tin tưởng vào câu chuyện kể của ông.
Tuy nhiên, không có gì phải nghi ngờ về việc ba anh em nhà Polo trở về quê nhà sau chuyến du lịch của họ qua nước Trung Hoa. Chúng ta đã thấy Marco đã dùng tiền của mình để trang bị một chiếc thuyền ga le và nắm quyền chỉ huy nó. Ngày 8 tháng 9 năm 1296, các đội tàu của hai thành phố chạm trán với nhau trong vịnh Laya, và đội tàu của Venise bị thất trận. Marco bị bắt làm tù binh, bị đưa đến Gênes và bị nhốt trong thành phố cho đến năm 1299.
Chính trong thời gian cầm tù này mà chúng ta có được quyển Cuộc trò chuyện thân mật về Thế giới. Nếu không có sự kiện đó, Marco Polo, con người do bản năng hoạt động lôi cuốn, bận tâm hoàn thành những công việc được giao chắc không bao giờ viết thậm chí đọc cho người khác viết sách của mình, ngay cả nhiều nhà du lịch mà chúng ta không bao giờ biết đến, như Colomb, Magellan, Gama Pizarre, cũng không tự viết ra câu chuyện kể về chuyến thám hiểm của họ. Đó là điều rất tốt, khám phá ra thế giới và sử dụng ngòi bút là hai việc khác nhau. Người đi chinh phục các kinh tuyến không bận tâm đến việc nghiêng mình trên bàn viết. Thám hiểm thật tuyệt vời biết bao.
Khi trở về Venise vào năm 1299, Marco rất hạnh phúc vì tìm lại được bố ông là Nicolao; nhưng ông đã qua đời một thời gian sau đó. Ông lão lang thang, người đã từng lôi kéo con trai trên các nẻo đường ở Châu Á, người mà chúng ta còn mắc nợ quyển “Cuộc chuyện trò thân mật về Thế giới” đã được an táng dưới cửa vào nhà thờ San Lorenzo, trong một quan tài bằng đá có khắc ba con quạ của dòng họ Polo.
Cuộc đời của Marco tiếp tục trong vinh quang và sự bình lặng của gia đình. Ông được chọn làm thành viên của Hội đồng thành phố. Vợ ông, Donata, đã sinh cho ông ba cô con gái rất đáng yêu như ông đã viết trong di chúc: Fantina, Bellela và Moretta. Người ta cho rằng ông mất vào năm 1323, vào độ tuổi sáu mươi chín. ít ra đi chúc của ông đề ngày 9 tháng 1 năm 1323 có nói đến tình trạng suy nhược cơ thể khiến ông lo sợ cái chết đến gần. Những ý muốn cuối cùng cũng như hầu hết các ước muốn đương thời thấm nhuần phẩm giá và sự cam chịu Ki tô giáo. Ông dành một phần tài sản cho các bệnh viện và các dòng tu, chọn nơi an táng là nhà thờ San Lorenzo nơi cha ông đã được yên nghỉ, ông còn tuyên bố giải phóng cho một nô lệ người Tacta, tên là Pierre, người mà ông đã mang về sau chuyến đi, sau cùng ông để lại phần lớn của cải cho vợ và các con gái ông.
Mộ của ông và bố Nicolao của ông biến mất vào năm 1590, khi Simeon Sorella mở rộng nhà thờ. Người ta không biết hài cốt của hai nhà du lịch trở nên như thế nào. Chúng được trả về cho mảnh đất dưỡng nuôi chúng.
MARCO POLO DU KÝ
Khi Marco Polo nói về chuyến du lịch của mình cho Rusta thành Pise trong nhà tù ở Gênes, ông không đặt nhan đề cho nó. Đó là phong tục đương thời. Các tác giả thời kỳ này không quan tâm bao nhiêu đến việc ghi tựa đề cho các tác phẩm của họ. Đó là công việc của nhà ghi chép, sau này là của nhà in. Thông thường cùng một quyển sách vào thời kỳ này không thuộc văn học giả mạo thường có những tựa đề hoàn toàn khác nhau, tùy theo người viết văn bản hoặc người phát hành bản in. Những tựa đề mà chúng ta ngày nay gán cho phần lớn các sách La Mã và Hy Lạp không được ghi bởi các tác giả của chúng nhưng bởi những người ghi chép đầu tiên, thậm chí có lúc bởi các viên thư lại thời Trung cổ, ví dụ như Plutarque, ông không bao giờ đặt tựa đề cho hai tuyệt tác “Những con người nổi tiếng và Moralia”: đây là cách gọi tên tập thể được định hình ngay sau đó. Những nhân vật vĩ đại trong quá khứ không tỏ ra tự ái như những con người vô danh tiểu tốt hiện nay trong những điều nhỏ mọn như thế. Thậm chí họ thường không muốn ký tên vào các tác phẩm của họ: con cháu sau này sẽ đảm trách công việc đó.
Từ lúc đầu Marco Polo du ký không mang bất cứ tựa đề nào, các nhà ghi chép đã dành cho nó những tựa đề phù hợp với sở thích của thời đại hoặc với xu hướng của họ mà không cần quan tâm đến chất liệu của tác phẩm, ngoại trừ trong một trường hợp duy nhất. Họ đặt tên sách hoặc là “Cuộc nói chuyện thân mật về Thế giới” hoặc “Cuốn sách về những kỳ quan của Thế giới” (trong tiếng Ý Delle Maravegliose del Mondo, trong tiếng La tinh, De Mirabilibus Mundi), hoặc: Marci Pauli de diversis hominum generibus et diversitatibus regionum mundanarum, v.v. Một bản viết tay duy nhất ghi tựa đề tóm tắt gần đúng bản chất của tác phẩm: Quyển sách của Marco Polo và những kỳ quan của Châu Á. Về phía người ghi chép, nó chỉ rõ tinh thần phê phán hoặc khoa học mà những quyển sách không có hoặc chúng không muốn có, trong khi tìm cách kích thích sự tò mò của độc giả.
Marco Polo du ký là một tác phẩm mô tả về địa lý lịch sử, dân tộc học, chính trị và khoa học (động vật học, thực vật học và khoáng vật học) của Châu Á thời Trung cổ, vì nếu như chúng ta loại trừ toàn bộ các chương cuối viết về Madagascar và Abyssinie ngày nay, phần còn lại đều dành riêng cho Châu Á và các đảo trực thuộc về mặt địa lý.
Vì vậy, vấn đề không phải là những kỳ quan của thế giới, ngay cả của thế giới được biết đến vào thế kỷ XIII - vì trong đó không nói đến Châu Âu hoặc Châu Phi - nhưng hoàn toàn về những kỳ quan của Châu Á, từ Biển Đen đến tận Thái Bình Dương, từ biên giới Xibêri đến Ấn Độ và Java. Marco Polo mô tả phần đất đai này chứ không phải thế giới. Ngược lại, đối với những người đương thời, phần đất này được mô tả lần đầu tiên do một người đã từng đi qua và nghiên cứu đến tận chân tơ kẻ tóc.
Thực ra ông không phải là người đầu tiên đi tham quan và mô tả nó. Cosmas Indicopleustes đã làm việc đó vào thế kỷ thứ VI; Arculphe vào thế kỷ VII, và Willibald, thế kỷ VIII (hai người sau không đi xa hơn Palestine); Soleyman và Abou zeyd Hassan. Cả hai đều theo đạo Hồi, vào thế kỷ IX; Benjamin de Tulède, thế kỷ XII: Jean du Plan de Carpin, khoảng năm 1245; Rubruquis, khoảng 1253 đã đi qua một vài phần lãnh thổ Châu Á và cũng đã để lại cho chúng ta những bài mô tả. Jean du Plan và Rubruquis thậm chí đã sinh sống giữa những người Tacta thuộc Mông Cổ và tham quan Trung Hoa. Nhưng tất cả những nhà du lịch châu Á đã không hoặc ít được như những người cùng thời với Marco biết đến. Một vài bản viết tay của Jean du Plan và của Rubruquis vẫn còn nằm ngủ trong các thư viện. Số khác chỉ được phát hiện rất lâu sau này, và cuốn sách lạ lùng của hai người tín hữu đạo Hồi chỉ được dịch từ tiếng Ả Rập vào năm 1718.
Những người cùng thời với Marco Polo chỉ biết đến Châu Âu qua Pline l’Ancien và người sao chép của ông là Solinus. Tất cả những điều họ biết được tóm tắt trong Les Livres du Trésor, viết bằng tiếng Pháp giữa thế kỷ XVIII, do Brunetto Latini, thầy của Dante, con người mà Nhà thơ Thần thánh trong bài hát thứ mười lăm của tác phẩm L'Inferno xếp vào số những người bị nguyền rủa vì thói giao hợp hậu môn. Cái Châu Á đó không vượt ra xa hơn sông Ấn và đảo Obropaine từ đó Marco sẽ cho chúng ta tên đích thực: Ceylan. Bên kia, về hướng đông, không chỉ có hoang mạc của những dân ăn thịt người như Brunetto đã nói. Trái lại, chính Marco đả bày tỏ cho chúng ta biết một nền văn minh tiến bộ đến nỗi Châu Âu chỉ được xem như là một mảnh đ
Đang tải bình luận,....
 
Mục lục truyện