DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Mục lục truyện
Phần hai
PHẦN HAI
CÔNG LÝ SẼ ĐƯỢC THỰC HIỆN
 
26
Tôi gõ nhẹ vào cánh cửa kính phòng làm việc của Stu Kirkwood, làm gián đoạn bữa điểm tâm sáng bằng cà phê và bánh ngọt của anh ta và liệng tấm ảnh chụp nhanh gã đi xe đạp mặc chiếc áo có hình thêu con sư tử đuôi rắn lên mặt bàn.
— Tôi cần biết đây là cái gì, Stu ạ.
Tiếp sau đó, tôi đưa ra hai bản copy với cùng một biểu tượng: tấm đề-can dán phía sau thanh chống va của chiếc xe chở hàng và hình chụp được dưới tầng hầm nơi Estelle Chipman bị treo cổ. Sư tử, dê, đuôi của một con rắn hay con thằn lằn gì đó.
— Tôi không biết, - anh ta ngước nhìn tôi và nói.
— Đây là tên giết người, Stu ạ. Vậy làm thế nào để chúng tôi có thể tìm ra hắn ? Tôi nghĩ đây là chuyên môn của anh mà.
— Tôi đã nói với chị rồi, tôi chuyên về các vụ án hằn thù cá nhân nhiều hơn. Nhưng tôi có thể gửi bức ảnh này qua e-mail tới Quantico.
— Tốt lắm, — tôi gật đầu. — Vậy phải mất bao lâu ?
Kirkwood ngồi thẳng người lên.
— Tôi có quen lãnh đạo ở đó, một nhà nghiên cứu tài giỏi mà tôi đã có dịp dự hội thảo chuyên đề cùng. Để tôi thử gọi điện tối nhờ xem sao.
— Vậy nhanh lên nhé, Stu. Làm trước đi rồi hãy ăn tiếp. Và hãy cho tôi biết ngay sau khi anh thu thập được điều gì.
Lên gác, tôi giục Jacobi và Cappy vào phòng làm việc của tôi ngay. Tôi nói qua nội dung tập hồ sơ về hội Templar của Stu và cho họ xem bản copy tấm ảnh của gã đi xe đạp.
— Nhận ra gì không, mấy anh ?
Cappy săm soi tấm ảnh rồi liếc nhìn tôi.
— Chị cho rằng mấy phần tử cặn bã này có liên quan đến vụ của chúng ta à ?
— Tôi muốn biết chúng ở đâu, — tôi đáp. — Và tôi cũng muốn các anh phải hết sức cẩn thận. Tụi này đã từng dính vào những vụ còn khủng khiếp hơn vụ nhà thờ La Salle Heights nhiều. Buôn lậu vũ khí, bạo lực tập thể, giết người thuê. Theo hồ sơ, bọn chúng thường tụ tập tại một quán bar tên là Vẹt Xanh ở Vallejo. Nhớ là đừng có ập vào để bắt chúng như các anh đã từng làm trong vụ theo dõi tên ma cô ở Geary đấy nhé. Vallejo không thuộc phạm vi thi hành công lý của chúng ta.
- Chúng tôi nhớ rồi, - Cappy gật đầu. - Không được làm ầm ĩ, chỉ quậy phá chút thôi. Dù sao được một ngày ra ngoài thành phố cũng tuyệt đấy chứ. — Anh ta cầm tập hồ sơ lên và vỗ nhẹ vào vai Jacobi. Lê la quán xá, tuyệt quá còn gì !
— Mấy anh, nhớ cẩn thận, — tôi nhắc nhở. — Kẻ giết người của chúng ta là một tên bắn tỉa siêu hạng đấy.
Sau khi họ đi rồi, tôi cúi xuống xem qua những lời nhắn và giở tờ Biên Niên sử buổi sáng trên bàn ra. Có một dòng tít, với lời quy kết của Cindy: “Cảnh sát đang mở rộng điều tra vụ bắn súng vào nhà thờ. Cái chết của một phụ nữ ở Oakland được coi là có liên quan.”
Bằng việc trích dẫn tới “những nguồn tin sát thực với cuộc điều tra” và “sự tiếp xúc trực tiếp với một cảnh sát giấu tên”, Cindy đã phác họa một khả năng rằng chúng tôi đang mở rộng điều tra sang cả vụ giết người ở Oakland nữa. Tôi sẽ bật đèn xanh cho cô ấy tiếp tục theo hướng này.
Tôi quay số của Cindy.
— Nguồn tin sát thực với cuộc điều tra đang gọi điện thoại cho cậu đây, — tôi nói.
— Không phải. Cậu là Cảnh sát giấu tên, còn Nguồn tin sát thực với cuộc điều tra là Jacobi cơ.
— Ôi, khỉ thật, - tôi bật cười khúc khích.
— Tớ rất mừng khi thấy cậu vui như vậy. Nghe này, tớ đang có chuyện rất quan trọng muốn nói với cậu. Cậu có định tới dự đám tang của Tasha Catching không ?
Tôi nhìn xuống đồng hồ. Còn gần một tiếng nữa là tới giờ cử hành buổi lễ cầu nguyện.
— Có, tớ sẽ tới.
— Vậy hãy tìm gặp tớ ở đó nhé, — Cindy dặn.
 
 
27
Một cơn mưa bụi rét buốt chợt đổ xuống khi tôi vừa tới nhà thờ La Salle Heights.
Hàng trăm người mặc đồ đen tới tham dự lễ tang đang chen chúc nhau đi vào ngôi nhà thờ lỗ chỗ vết đạn. Một tấm vải bạt buông xuống che kín lỗ hổng toang hoác nơi trước kia đã từng là khung cửa kính màu đẹp tuyệt vời. Nó bay lật phật trong những cơn gió, nhẹ trông chẳng khác nào một ngọn cờ đang rũ xuống.
Thị trưởng Fernandez cũng đã ở đó cùng với một số nhân vật quan trọng khác mà tôi quen mặt trong chính quyền thành phố. Vernon Jones, nhà hoạt động xã hội, đứng cách gia đình người xấu số chỉ một sải tay. Cảnh sát trưởng Mercer cũng đã có mặt. Đám tang của cô bé trở thành đám tang lớn nhất thành phố trong nhiều năm qua. Điều này khiến cho cái chết của nó càng trở nên sầu thảm hơn.
Tôi thoáng trông thấy Cindy, trong bộ quần áo màu đen, đứng ở phía cuối nhà nguyện. Chúng tôi gật đầu với nhau.
Tôi đi tới bên Mercer và ngồi xuống giữa đoàn đại biểu của Sở cảnh sát. Ngay sau đó, dàn đồng ca nổi tiếng của nhà thờ La Salle Heights bắt đầu ngân nga một ca khúc buồn “Tôi sẽ bay xa”. Đúng là không gì có thể gây xúc động mạnh như một bài thánh ca êm đềm vang lên giữa một nhà thờ đầy chật người. Tôi cũng có những cảm xúc riêng của tôi, và nó không khác mấy so với những gì tôi cảm nhận được ngoài xã hội. Chẳng hề dễ dàng khi phải phân định một điều gì đó thành tốt hay xấu, thành sự phán quyết hay sự chuộc lại lỗi lầm. Nhưng khi tiếng hát trầm bổng vang lên khắp nhà thờ thì việc cầu xin lòng thương hại soi tỏ cho một linh hồn ngây thơ trong trắng xem ra chẳng hề có gì là sai trái cả.
Sau khi dàn đồng ca kết thúc, mục sư Aaron Winslow bước tới trước mi-crô. Trông ông thật tao nhã trong bộ áo choàng đen tuyền. Ông bắt đầu nói về Tasha Catching như đã biết cô bé trong suốt quãng đời ngắn ngủi của nó: một giọng cười ròn rã, một tư thế đĩnh đạc tuy là người nhỏ tuổi nhất trong dàn đồng ca, ước mong trở thành một nữ danh ca tiếng tăm lừng lẫy hoặc một kiến trúc sư tài năng để có thể xây dựng lại nhà cửa cho bà con xóm giềng. Vậy mà bây giờ, chỉ còn những thiên thần trên cao kia mới có thể nghe thấy giọng nói trong trẻo của cô bé.
Mục sư không nói như một giáo sĩ hiền lành chỉ biết khuyên bảo mọi người nên nhẫn nhịn, ông vẫn giữ một niềm hy vọng lớn lao, gây xúc động cho mọi người nhưng lại hết sức thực tế. Nhìn ông, tôi không khỏi nghĩ rằng chính vị mục sư đẹp trai kia là ngươi đã từng trải nghiệm cuộc sống trong những trận đánh của chiến dịch Bão Táp Sa Mạc, cũng chính ông mới vài ngày trước đây thôi, đã sẵn sàng mạo hiểm cả tính mạng để bảo vệ những đứa trẻ trong vùng.
Ông vẫn nói, giọng của ông nhẹ nhàng nhưng đầy sức mạnh, rằng ông không thể nào tha thứ, và ông muốn tội ác phải bị trừng phạt.
- Chỉ có thánh thần mới không xét đoán, và xin hãy tin tôi, tôi không phải là thánh. Tôi cũng giống như các bạn chỉ là một người đã quá mệt mỏi khi cứ phải dàn hòa với sự bất công. — Ông đưa mắt nhìn về phía cảnh sát trưởng Mercer. — Hãy tìm cho ra tên giết người. Hãy đưa hắn ra xét xử trước tòa án. Đừng làm chuyện này vì chính trị, vì lời cam kết, hay thậm chí vì một cuộc đua cho những mục đích nào đó. Hãy làm vì quyền được thoát khỏi sự hận thù của con người. Tôi tin tưởng rằng thế giới này sẽ không bao giờ bị hủy diệt bởi những hành động xấu xa đó. Chúng ta hãy tự cải thiện lại bản thân chúng ta !
Mọi người đứng dậy, họ vỗ tay và họ khóc. Tôi cũng đứng lên cùng họ. Mắt tôi đẫm lệ. Aaron Winslow đã đem lại giá trị đích thực cho một sự khởi đầu mới. Bài thuyết giảng của ông kéo dài gần một giờ đồng hồ, không nóng bỏng, không sáo rỗng, rất ít lời amen. Nhưng nỗi buồn rầu chứa đựng trong đó thì không một ai trong số chúng tôi có thể quên được.
Mẹ của Tasha trông có vẻ khỏe hơn khi bà đi theo chiếc quan tài nhỏ đưa con gái của bà về nơi an nghỉ cuối cùng.
Tôi bước ra khỏi nhà thờ trong tiếng hát du dương của dàn đồng ca. “Vòng tròn sẽ không bao giờ bị phá vỡ”. Người tôi tê cóng, trong lòng buồn bã và tuyệt vọng vô cùng.
Bên ngoài, trong lúc đứng đợi Cindy, tôi thoáng trông thấy Aaron Winslow hòa lẫn trong dòng người đưa tang và lũ trẻ con đang khóc thổn thức, ở ông toát lên vẻ ngoài mà tôi rất thích: ông là một con người chân thật, luôn say mê với công việc và với con người quanh ông.
— Bây giờ, tớ đã biết một người có thể đứng chung chiến hào với tớ rồi, — tiếng Cindy vang lên bên cạnh tôi.
— Cậu nói thế nghĩa là sao ? — Tôi hỏi lại
- Tớ cũng không biết nữa... Tất cả những gì mà tớ có thể diễn đạt bây giờ là ngày hôm qua tớ đã tới đây và nói chuyện với mục sư. Kể từ lúc ấy, tóc tớ cứ dựng ngược hết cả lên, cứ như thể tớ vừa được phỏng vấn Denzel Washington hay một nhân vật cỡ bự nào đó vậy.
— Cậu cũng biết là các giáo sĩ Cơ đốc thì không giống với linh mục Thiên Chúa giáo rồi còn gì, — tôi nói.
— Thế nào cơ ?
— Nghĩa là đứng chung một chiến hào với họ chẳng có gì đáng ngại cả. Chỉ để tránh đạn thôi mà.
— Tất nhiên rồi, — Cindy gật đầu tán thành, bắt chước tiếng nổ của một khẩu súng cối. — Pằng !
Mục sư Aaron Winslow quả là một con người rất gây ấn tượng. Bài diễn văn của ông ấy đã khiến tớ bật khóc. Nhưng đó có phải là thứ mà cậu muốn chỉ cho tớ xem hay không ?
— Không, — cô ấy đáp rồi thở dài đánh sượt, quay trở lại ngay vấn đề. Cô ấy thò tay vào túi xách, khua khoắng một lúc rồi lôi ra một mẩu giấy gấp tư. - Tớ biết cậu sẽ bảo tớ là húc đầu vào đá... Nhưng tớ cho là tớ đã quen với việc giấu dốt hộ cậu rồi.
- Đúng vậy, - tôi cười xòa. — Cậu có gì cho tớ xem thế ? Chúng ta là một hội cơ mà, phải không ?
Tờ giấy được mở ra, nó khiến mắt tôi cứ phải trợn ngược. Tôi trông thấy hình một con sư tử, dê và rắn mà tôi đã đưa cho Kirkwood để nhận dạng. Sự tự chủ nghề nghiệp không làm cho cặp mắt mở tròn của tôi trở lại bình thường.
— Cậu kiếm đâu ra thế hả ?
- Cậu có biết cậu đang được xem cái gì không Lindsay ?
- Đây chắc chắn không phải là thứ đồ chơi đang rất thịnh hành trong thành phố.
Cindy không cười.
- Đây là biểu tượng của một nhóm phân biệt chủng tộc, nhóm của những người ủng hộ thuyết người da trắng là ưu việt. Một đồng nghiệp trong tòa báo của tớ đã nghiên cứu về nó kỹ lắm. Từ sau buổi tối chúng mình gặp nhau, tớ chỉ muốn tìm cho bằng được. Biểu tượng này được một nhóm ít người sử dụng, và đó là nguyên nhân tại sao lại khó tìm ra nó đến thế.
Tôi nhìn trừng trừng vào hình ảnh mà kể từ lúc Tasha Catching bị bắn chết tới nay, tôi đã trông thấy không biết bao nhiêu lần.
— Biểu tượng này có tên chứ ? Tên nó là gì vậy ?
— Chimera. Nó được tạo nên từ thần thoại Hy Lạp. Theo những gì mà tớ đã tìm hiểu được thì đầu sư tử tượng trưng cho lòng dũng cảm, mình dê tượng trưng cho ý chí và tính kiên cường, còn đuôi rắn thì tượng trưng cho những mưu mô xảo trá nhất. Xét tổng thể, nó có nghĩa là dù cậu có dùng bất cứ thứ gì nhằm tiêu diệt nó thì nó cũng sẽ đều đánh bại.
Tôi trợn mắt lên với cái gọi là Chimera, một cơn buồn nôn dâng lên trong ruột.
— Lần này thì không đâu.
— Tớ cũng tin là vậy, - Cindy trả lời. - Nhưng kẻ sát nhân vẫn còn tự do chạy nhảy ngoài kia. Tất cả mọi người đều nghĩ rằng có một mới liên hệ chặt chẽ đang tồn tại giữa hai vụ. Biểu tượng này chính là chìa khóa, phải không nào ? Để mình cho cậu thêm một định nghĩa nữa nhé: một sản phẩm kỳ cục của trí tưởng tượng. Nghe hợp quá còn gì.
Tôi thấy mình gật đầu lia lịa. Những nhóm người hận thù. Thậm chí có thể chính là Templars. Một khi Mercer đồng ý, chúng tôi sẽ sẵn sàng xộc vào cửa sào huyệt của tất cả các nhóm khủng bố mà chúng tôi đã tìm được. Nhưng thế quái nào mà kẻ giết Estelle Chipman lại là người da đen nhỉ ? Điều đó đối với tôi chẳng hề có nghĩa lý gì.
— Cậu không giận tớ đấy chứ ? - Cindy hỏi lại.
Tôi lắc đầu.
— Tất nhiên là không rồi. Thế cái nguồn tìm hiểu của cậu... nó có nói làm cách nào để trừ khử được Chimera hay không ?
- Nó bảo có một vị anh hùng cưỡi một con ngựa có cánh đã bay đến, chặt phăng đầu của Chimera. Nhưng giờ thì kiếm đâu ra vị anh hùng, hoặc là nữ anh hùng đó ? — Cô ấy nhìn tôi nghiêm nghị. - Cậu có ngựa có cánh không, Lindsay ?
- Không, — tôi lại lắc đầu. - Nhưng tớ có một con chó giống cô-li rất dễ thương.
 
 
29   
Claire gặp tôi ở hành lang của tòa ngay khi tôi vừa trở về với một đĩa xa-lát giành cho bữa trưa.
- Chị đi đâu vậy ? - Tôi hỏi, tò mò nhìn chị trong chiếc váy màu đỏ tía quyến rũ và chiếc cặp bằng da hiệu Tumi quàng trên vai.
- Thực ra, chị định đi tìm em đấy.
Khuôn mặt của Claire toát ra một vẻ mà tôi đã quá quen thuộc. Không thể gọi đó là tự mãn hay lên mặt ta đây được, nhưng đúng là có một ánh sáng lấp lánh như muốn nói: Chị đã tìm thấy. Thậm chí hơn thế: Đôi khi, chính chị cũng phải ngạc nhiên về bản thân chị.
- Chị ăn chưa ?
Chị cười khúc khích.
— Ăn á ? Làm gì có thời gian mà ăn. Suốt từ mười rưỡi đến giờ, chị đã phải dán mặt vào chiếc kính hiển vi  bên kia vịnh theo lời đề nghị của em đấy. - Chị ngó vào túi xách của tôi và thoáng trông thấy món xa-lát trộn thịt gà cà-ri. - Trông ngon lành quá nhỉ !
Tôi kéo chiếc túi lại.
— Cái đó còn tùy. Để xem chị mang gì về cho em nào.
Claire kéo tôi vào trong thang máy.
— Chị đã phải hứa tặng Teitleman một cặp vé đặc biệt trong nhà hát để làm ông ta nguôi giận đấy, — Claire nói trong lúc hai chị em đi vào phòng làm việc của tôi. — Em cứ coi đây như là một điều ngạc nhiên giành cho Edmund đi. - Edmund là chồng của chị, vốn là một tay trống cừ khôi trong dàn nhạc giao hưởng San Francisco trong suốt sáu năm qua.
- Chị cũng phải cho em một cặp, nếu không em sẽ mách anh ấy cho mà xem, — tôi dọa dẫm và ngồi xuống, bày bữa trưa của mình ra bàn.
— Em dám à ? — Chị trợn mắt, dứ chiếc dĩa nhựa lên trên đĩa xa-lát của tôi. — Chẳng lẽ em chưa đủ mệt với công việc của mình sao ?
Tôi kéo chiếc đĩa ra xa khỏi tầm tay của Claire.
— Như em đã nói lúc nãy, còn tùy thuộc vào những gì chị mang về cho em từ bên kia vịnh.
Không chút lưỡng lự, Claire nhoài người ra xiên một miếng thịt gà.
— Sẽ rất vô lý khi một gã da đen lại giết người cùng màu da với mình do hận thù sắc tộc, phải không nào ?
— Thôi được rồi, - tôi nhượng bộ, đẩy chiếc đĩa trở lại trước mặt chị. - Thế chị đã tìm thấy gì hả ?
Claire gật đầu.
— Đa phần giống như những gì em đã nói với chị. Chỉ trầy da hay xây xát thông thường thôi thì rất khó thuyết phục được tòa. Nhưng dưới móng tay của đối tượng người ta đã tìm thấy những mẫu da khác lạ. Vì vậy chúng ta phải nhằm vào mục tiêu đó. Họ đã phát hiện ra đó là loại da sẫm màu, theo như bản báo cáo đã ghi lại thì “phù hợp với chủng người không phải da trắng”.
- Như vậy là sao ? - Tôi hỏi dồn. - Kẻ giết bà Chipman là người da đen à ?
Claire cúi xuống, xiên miếng thịt gà cuối cùng trên đĩa.
- Mới nhìn qua, chị có thể hiểu được tại sao người ta lại tưởng nhầm như vậy. Nếu không phải người Mỹ gốc Phi thì cũng là người Mỹ la-tinh hoặc người châu Á. Teitleman cũng nghiêng về kết luận này cho tới khi chị đề nghị ông ấy thực hiện lần thí nghiệm cuối cùng. - Mắt Claire chợt trở nên mơ màng. -Mà chị đã kể cho em nghe là chị đã có thời gian nghiên cứu về mô học ở Moffitt chưa nhỉ ?
- Chưa đâu, Claire. - Tự dưng tôi thấy tôi vừa mỉm cười vừa lắc đầu quầy quậy. Chị ấy luôn giỏi trên mọi lĩnh vực mà.
Claire nhún vai.
- Chưa à ? Tại sao chị lại có thể đãng trí tới vậy được nhỉ ? Tuy nhiên, về cơ bản, cái mà một phòng thí nghiệm thường quan tâm tìm hiểu là nội bào, chẳng hạn như các tế bào biểu bì tạo sắc tố, ở chủng người không phải da trắng, các tế bào sẫm màu thường tập trung nhiều ở mô hơn là trên bề mặt của da.
- Nào nào... chị Claire. Chị hãy diễn đạt dễ hiểu hơn được không ? Mẫu da đó là của người da đen hay người da trắng ?
- Tế bào biểu bì tạo sắc tố sẫm màu, - Claire nói tiếp như không nghe thấy lời yêu cầu của tôi, - thường tập trung nhiều ở người da màu. Vấn đề là, mẫu da tìm được dưới móng tay của bà Chipman không thuộc loại này. Nó chỉ là gian bào mà thôi và có màu hơi xanh không phù hợp với sắc tố thông thường. Bất kỳ một nhà nghiên cứu mô học thận trọng nào cũng sẽ nhận ra được điều đó.
— Nhận ra được điều gì cơ Claire ? - Tôi sốt ruột hỏi lại, mắt dán vào nụ cười tự mãn của người bạn thân.
- Nhận ra rằng kẻ sát nhân đáng kinh tởm kia không phải là người da đen, chị trả lời dứt khoát, - mà là một người da trắng có màu da đen cục bộ. Mực, Lindsay ạ. Cái mà người đàn bà tội nghiệp kia đã bấu móng tay vào là hình xăm trên ngực kẻ giết người.
 
 
30
Sau khi Claire đi khỏi, tôi cứ phấn chấn mãi về phát hiện mới này cho tới lúc Karen xuất hiện và đưa cho tôi một chiếc phong bì dày cộp.
- Simone Clark gửi cho chị. - Đó là hồ sơ cá nhân mà tôi đã hỏi mượn anh ta chiều qua. Edivard R. Chipman.
Tôi lôi nó ra khỏi phong bì và bắt đầu đọc.
Chipman đã từng là một cảnh sát tuần tra ở quận Trung tâm, về hưu năm 1994 với cấp bậc trung sĩ. Đã hai lần ông ta nhận được tuyên dương trước toàn đội về lòng dũng cảm của mình.
Tôi dừng lại ở tấm ảnh chân dung của Chipman. Một khuôn mặt gồ ghề, xương xẩu với bộ râu rậm kiểu Phi rất thịnh hành trong thập niên sáu mươi. Bức ảnh chắc hẳn đã được chụp vào ngày ông ta gia nhập lực lượng cảnh sát. Tôi tiếp tục đọc lướt qua phần còn lại của tập hồ sơ. Điều gì có thể khiến ai đó muốn giết bà vợ góa của người đàn ông này nhỉ ? Cả tập hồ sơ không có lấy một lời khiển trách dù nhỏ nhất, và trong suốt sự nghiệp ba chục năm làm cảnh sát của mình, viên trung sĩ mẫn cán này chưa bao giờ nổ súng. Ông ta thuộc Đội cảnh sát mở rộng ở các khu trung cư thuộc Potrero Hill và là một thành viên của nhóm Sĩ quan phục vụ công lý, luôn vận động và thúc đẩy các mối quan tâm giành cho cảnh sát người da màu. Chipman, như đa số các cảnh sát khác, đã có một sự nghiệp thật đáng tự hào, không bao giờ gây rắc rối hoặc bị kỷ luật. Trong tập hồ sơ, tôi cũng không tìm thấy một sợi dây liên hệ nào có thể kết nối Chipman với chú của Tasha Catchings là Kevin Smith.
Nhưng liệu tôi đã đọc kỹ các thông tin trong tập hồ sơ chưa nhỉ ? Có một mắt xích trong chuỗi dây xích nào đó mà tôi đã bỏ qua chăng ? Mọi giác quan của tôi căng ra. Nào Lindsay, cố lên, chúng ta biết là trong này có một điều gì đó.
Đột nhiên, tiếng gõ cửa của Lorraine Stafford đã kéo tôi trở lại thực tại.
— Chị có rảnh không, trung úy ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho cô ấy bước vào.
- Chiếc xe chở hàng, Lorraine báo cáo, là của Ronald Static, giảng viên môn nhân loại học thuộc trường đại học cộng đồng ở Mountain View. Chiếc xe đã bị đánh cắp ở bãi đậu xe của nhà trường. Lý do khiến ông ta chậm khai báo mất cắp là do ông ta đã đến Seattle để tham gia một buổi phỏng vấn xin việc.
- Ai là người biết ông ta sẽ đi vắng ?
Lorraine liếc nhìn xu ông mảnh giấy cô đang cầm trên tay.
- Vợ ông ta. Người quản lý trường đại học. Ông ta dạy hai lớp trong trường và là thầy hướng dẫn của rất nhiều sinh viên ở các trường khác nữa trong thành phố
— Có ai trong số các sinh viên của ông ta quan tâm tới chiếc xe chở hàng hay không ?
Lorraine bật cười khúc khích.
- Ông ta nói sinh viên bây giờ quá nửa tới trường bằng xe BMW và Saabs. Họ quan tâm tới một chiếc xe chở hàng cũ kỹ đã dùng được sáu năm rồi làm gì ?
- Thế còn miếng đề-can sau xe ? — Tôi không cho rằng Static lại có liên quan đến vụ giết người, nhưng ở xe của ông ta có dán một biểu tượng giống hệt với biểu tượng mà tôi đã tìm thấy dưới tầng hầm ở Oakland.
Lorraine nhún vai.
- Ông ta bảo chưa bao giờ trông thấy nó cả. Tôi đã đề nghị ông ta cho tôi kiểm chứng lại những câu trả lời của ông bằng máy phát hiện nói dối, ông ta đồng ý ngay.
- Cô cũng nên kiểm tra xem trong số bạn bè và sinh viên của ông ta có người nào có khuynh hướng chính trị lệch lạc hay không nhé.
Lorraine gật đầu.
- Tôi sẽ làm, nhưng tôi thấy người đàn ông này hoàn toàn ngay thật, Lindsay ạ. Khi tôi đến gặp ông ta, ông ta đã nhảy dựng lên như bị dứt da dứt thịt vậy.
Cho tới lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống, tôi lại thấy trong mình dậy lên một tâm trạng hết sức dao động. Tôi đã có thể chắc chắn một điều rằng hai vụ giết người vừa xảy ra đều thuộc một chuỗi sự kiện, nhưng chúng tôi chỉ có trong tay duy nhất một đầu mối là gã đàn ông mặc áo khoác có thêu hình Chimera.
Chuông điện thoại reo vang khiến tôi giật nảy người. Đó là Jacobi.
- Tin xấu đây, trung úy ơi. Chúng tôi đã lảng vảng bên ngoài cái quán Vẹt Xanh chết tiệt kia suốt một ngày trời. Chẳng thấy gì cả. Vì vậy chúng tôi đã quyết định vào trong để hỏi chuyện thằng cha phục vụ quầy rượu. Hóa ra mấy gã mà chị muốn tìm đã lùi vào quá khứ rồi. Bọn chúng đã phắn đi từ năm, sáu tháng trước cơ. Gã dữ tợn mặc áo thêu là một lực sĩ cử tạ.
— Anh nói phắn nghĩa là sao hả Warren ?
— À, thì là chuồn, là cút xéo... tới đâu đó ở mạn phía Nam. Theo lời người phục vụ quầy rượu thì còn một, hai gã thỉnh thoảng vẫn lui tới. Một gã tóc đỏ. Còn lại, phần lớn bọn chúng lang thang ngoài đường. Thường xuyên...
- Tiếp tục đi nhé. Hãy tìm gã tóc đỏ hộ tôi. - Bây giờ, việc tiếp tục lần theo dấu vết chiếc xe chở hàng đã không còn tác dụng nữa trong khi tôi vẫn chưa có một chứng cớ nào để kết nối hai vụ giết người lại với nhau trừ biểu tượng con sư tử đuôi rắn.
- Tiếp tục á ? — Jacobi rền rĩ. — Bao lâu nữa đây ? Chúng tôi không thể cứ vật vờ ngoài đường mãi thế này được.
— Tôi sẽ gửi quần áo tới cho các anh thay. — Tôi nói và đặt máy xuống.
Tôi ngồi thõng người trên ghế một lúc lâu với một cảm giác khiếp sợ cứ ngày một lớn dần. Đã ba ngày trôi qua kể từ lúc Tasha Catchings bị giết, và ba ngày trước đó là Estelle Chipman.
Tôi không có gì. Không một manh mối đáng kể. Chỉ duy nhất một thứ do chính tên giết người để lại cho chúng tôi. Con Chimera quái gở kia.
Tôi chợt bàng hoàng với một suy nghĩ... Chuỗi vụ án giết người. Mà đã là chuỗi thì nó sẽ không kết thúc cho đến khi nào chúng tôi tìm ra thủ phạm.
 
 
31
Trung sĩ cảnh sát tuần tra Art Davidson trả lời số 1-6-0 ngay khi anh vừa nghe thấy tín hiệu. "Có rắc rối đây, bạo lực gia đình. Nhà 303 Đại lộ Sô 7, trên gác. Tổ trực ban nào đang ở gần đó, trả lời đi !"
Davidson và đồng nghiệp của anh, Gil Herrera, đang ở Bryant cách địa chỉ trên có bốn khu nhà. Đã gần tám giờ và ca trực của họ sẽ kết thúc trong vòng mười phút nữa.
— Cậu có định quay lại đó không Gil ? — Davidson vừa hỏi vừa liếc nhìn đồng hồ đeo tay.
Đồng nghiệp của anh nhún vai.
— Đang ca trực của mình mà, Art. Chắc lại có một nhóm lang thang du thủ du thực nào đó.
Nhóm lang thang nào đó. Hôm nay là sinh nhật lần thứ bảy của Audra, con gái anh. Trong giờ nghỉ, anh đã gọi điện thoại về nhà và Carol bảo nếu anh trở về trước chín rưỡi thì cô ấy sẽ giữ không cho con bé ngủ vội, chờ anh về tặng cho nó chiếc gương trang điểm có in hình Britney Spears. Davidson có năm đứa con cả thảy, và chúng là toàn bộ cuộc sống của anh.
— Khỉ thật. — Davidson cũng nhún vai. — Chúng ta được trả lương cao để làm nhiệm vụ này mà, đúng không ?
Họ bật còi hiệu và chưa đầy một phút sau đã phanh chiếc Mobile 2-4 phía trước lối vào của ngôi nhà 303 tối tăm đổ nát trên đại lộ Sô 7, cạnh tấm biển xiêu vẹo với dòng chữ Khách sạn Driscoll.
— Một nơi hoang phế như thế này mà vẫn có người đến nhỉ ? — Herrera thở dài. — Không hiểu là loại người gì ?
Hai viên cảnh sát tóm lấy gậy tuần đêm và đèn pin rồi bước tới bên cửa ra vào. Davidson mở toang cánh cửa. Từ bên trong bốc ra một mùi hôi hám, tổng hợp của phân, nước tiểu và chuột cống.
— Này, có ai ở đây không ? — Davidson gọi to. — cảnh sát đây.
Đột nhiên, từ trên gác, họ nghe thấy tiếng ai đó đang kêu la. Hình như người ta đang cãi nhau.
— Vào thôi, — Herrera ra hiệu và lao nhanh lên bậc cầu thang đầu tiên. Davidson vội vã chạy theo.
Trên tầng hai, Gil Herrera sải bước dọc dãy hành lang tối tăm và dùng đèn pin gõ mạnh lên từng cánh cửa đóng kín.
— Cảnh sát đây, cảnh sát đây...
Lại có tiếng kêu la - những tiếng kêu thất thanh sợ hãi. Một tiếng gãy răng rắc, tựa hồ như tiếng của vật gì đó bị đập vỡ vụn. Davidson ngước mắt nhìn lên. Căn hộ số 42.
— Đồ khốn — một ai đó rít lên, tiếp theo là bát đĩa rơi vỡ loảng xoảng. Tiếng một phụ nữ van nài. — Có ai ngăn hắn lại không, hắn sắp giết tôi đấy. Ngăn hắn lại, tôi xin... Cứu tôi với !
— Cảnh sát đây, - Art Davidson đáp lại và rút súng ra. Anh kêu to. — Herrera, lại đây ngay !
Dùng hết sức bình sinh, anh lao mạnh người vào cánh cửa. Nó bật mở. Bên trong, căn phòng tối lờ mờ, nhưng phòng ngủ thì có đèn sáng hơn và tiếng cãi nhau... dường như vọng ra từ đó.
Art Davidson mở chốt an toàn khẩu súng của anh rồi lao nhanh qua khung cửa mở rộng vào trong phòng ngủ. Quá đỗi kinh ngạc, anh phát hiện ra trong phòng không hề có người.
Chỉ có luồng ánh sáng vàng vọt hắt ra từ một ngọn đèn trần. Một chiếc ghế sắt với một chiếc máy ghi âm khá to trên đó. Những tiếng nói phát ra từ chiếc máy.
Vẫn những câu nói mà khi nãy anh đã nghe thấy.
"Có ai ngăn hắn lại không, hắn sắp giết tôi đấy... !
— Chuyện quái quỉ gì thế này ? Davidson nheo mắt lại, không tin vào khung cảnh trước mặt mình. Anh bước tới bên chiếc loa, quỳ xuống và ngắt điện. Tiếng cãi vã huyên náo tắt ngấm. — Đồ quỷ nào bày ra trò này thế nhỉ ? — Anh lẩm bẩm. — Hình như có ai đó đang định rỡn cảnh sát thì phải.
Anh đưa mắt nhìn quanh. Căn phòng tồi tàn rõ ràng là đã lâu không có người ở. Ánh mắt của anh lướt tới bên khung cửa sổ bằng kính, rồi qua đó, qua một khoảng không, sang tòa nhà đối diện bên kia phố. Anh cho rằng anh đã nhìn thấy một vật đang động đậy. Nhưng nó là gì ?
Pằng...
Một chấm sáng màu vàng nhỏ xíu xuyên qua bóng tối lao nhanh tới. Khung cửa sổ vỡ toang và một lực cực mạnh xuyên thẳng vào mắt phải của Art Davidson. Anh chết ngay lập tức, trước khi xác của anh đổ vật xuống sàn nhà.
 
 
32
Tôi đã gần về tới nhà khi tín hiệu đầy tai họa vang lên trong máy bộ đàm. “Các tổ sẵn sàng, tới ngay nhà 303 Đại lộ Số 7, gần Townsend.”
1-0-6... lại có vụ rồi.
Tôi phanh gấp chiếc Explorer. Nghe tiếp thông báo. Tổ điều tra hiện trường tới ngay, cảnh sát tuần tra khu vực đang gọi. Tiếng tổng đài thật khẩn cấp, hối thúc. Tôi biết đây là một tình huống nghiêm trọng.
Tóc tai tôi dựng ngược cả lên. Đó là một vụ nổ súng mai phục từ xa. Giống như vụ ở nhà thờ La Salle Heights. Tôi gài số và thực hiện một cú quay đầu hình chữ U hết sức thiện nghệ, lao nhanh xe dọc Đại lộ Số 3 và hướng thẳng tới vị trí đang được đề cập đến.
Khi tôi dừng xe cách Townsend và Đại lộ Số 7 bốn tòa nhà, tôi trông thấy một khung cảnh hỗn loạn đang ngự trị. Những dải băng xanh trắng của cảnh sát, ánh đèn pin và những bộ sắc phục nhan nhản khắp nơi, tiếng ra-đi-ô liên tục vang lên xé rách màn đêm u ám.
Tôi len lên, giơ tấm thẻ cảnh sát ra ngoài cửa xe cho tới khi không thể đi tiếp được nữa. Tôi xuống xe và chạy thẳng tới tâm điểm của cảnh hỗn loạn. Tôi tóm lấy tay áo của người cảnh sát tuần tra đầu tiên mà tôi bắt gặp.
- Ai vậy ? Anh có biết là ai không ?
- Một cảnh sát tuần tra, — anh ta trả lời. - Tên là Davidson.
- Ôi Trời... — Tim tôi chùng xuống. Tôi cảm thấy buồn  nôn. Tôi biết Art Davidson. Chúng tôi đã học cùng nhau trong trường đại học. Anh ấy là một cảnh sát mẫn cán, một người tốt.
Cơn buồn nôn thứ hai lại dâng lên kèm theo một nỗi khiếp sợ. Art Davidson là người da đen.
Tôi rẽ đám đông để đi về phía khu nhà đổ nát, nơi có một hàng xe của tổ điều tra hiện trường đang đỗ. Tôi chạy lại gần chánh thanh tra Sam Ryan, người vừa từ trong tòa nhà bước ta, máy bộ đàm vẫn đang áp sát bên tai.
Tôi kéo ông ta lại.
— Sam, tôi thấy bảo đó là Art Davidson... Có phải là rủi ro... ?
Sam Ryan lắc đầu.
— Rủi ro ư ? Cậu ấy đã bị nhử đến đây, Lindsay ạ. Bị bắn tỉa trúng giữa mắt phải. Chỉ một phát duy nhất, chúng tôi nghĩ vậy. Cậu ấy đã bị nhắm bắn.
Tôi đứng dẹp sang bên, một bức tường kêu ong ong ngày một lớn dần trong hộp sọ của tôi. Tôi biết đó là hắn. Chimera. Vụ giết người thứ ba. Lần này hắn chỉ cần một phát đạn.
Tôi khua tấm thẻ của mình ra trước mặt một viên cảnh sát mặc đồng phục đang đứng chặn ở lối đi rồi chạy nhanh vào trong tòa nhà đổ nát. Mấy nhân viên trong tổ điều tra hiện trường đang vội vã chạy xuống cầu thang. Tôi bỏ qua họ và leo tiếp. Chân tôi nặng như đeo đá, và tôi gần như không thể thở nổi.
Trên tầng ba, một cảnh sát béo tròn mặc đồng phục chạy nhanh qua tôi, vừa chạy anh ta vừa kêu to.
— Tránh ra, mọi người tránh hết ra nào !
Hai nhân viên pháp y xuất hiện — sau đó tới hai cảnh sát khiêng một túi đựng xác. Tôi không thể quay đầu đi.
- Chờ đã, — tôi nói to.
Đó đúng là Davidson. Mắt anh vẫn mở trừng trừng. Một lỗ nhỏ, kích thước bằng một đồng xu, màu đỏ thẫm ở chính giữa mắt phải. Từng sợi dây thần kinh trong tôi dường như nhão ra. Tôi nhớ anh ấy đã có con. Những kẻ sát nhân có con không nhỉ ?
- Ôi Chúa ơi, — tôi thì thầm, cố gắng xem qua xác Davidson, xem qua vết đạn. Cuối cùng, tôi chạm tay vào trán của anh.
— Các anh có thể mang anh ấy đi được rồi, - tôi nói khẽ.
Tôi thẫn thờ đi tiếp lên trên. Một đám đông cảnh sát mặc thường phục đang giận giữ tập trung bên ngoài khung cửa mở rộng của một căn hộ. Tôi nhìn thấy Pete Starcher, một cựu điều tra viên trong Đội Homicide của tôi từ trong đó bước ra.
Tôi đến gần ông ta và hỏi
— Chuyện gì thế Pete ?
Starcher vốn không ưa gì tôi, ông ta là một người hết sức bảo thủ, hay hoài nghi và giễu cợt.
- Chị có việc ở đây à, trung úy ?
- Tôi quen Art Davidson. Chúng tôi đã học cùng nhau trong trường đại học. — Tôi không muốn tiết lộ cho ông ta biết nguyên nhân chính khiến tôi có mặt tại hiện trường.
Starcher khịt mũi, nhưng ông ta vẫn nói qua sự việc với tôi. Hai cảnh sát tuần tra đã bị nhử tới tòa nhà này. Chỉ có mỗi một chiếc máy ghi âm trong phòng ngủ. Có ai đó đã sắp đặt kịch bản. Davidson đúng là một gã khờ. Kẻ sát nhân chó chết kia muốn giết một cảnh sát.
Người tôi lạnh cứng. Tôi biết đó chính là hắn.
— Tôi sẽ xem qua bên trong căn hộ.
Đúng như Starcher đã mô tả, phòng khách trống trơn bao trùm bầu không khí kỳ lạ, bất bình thường. Những bức tường tróc lở, vôi vữa rơi lả tả xuống sàn nhà. Tôi đi tiếp sang phòng bên cạnh, đờ người ra vì hoảng sợ. Một vũng máu loang rộng trên sàn, bắn tung tóe lên cả bức tường gần đó. Tội nghiệp Davidson. Giữa phòng là một chiếc máy ghi âm xách tay đặt trên ghế gấp.
Tôi nhìn lên cửa sổ, tấm kính vỡ toác lởm chởm trông thật khiếp.
Đột nhiên, mọi việc như được sáng tỏ. Ngực tôi tức nghẹn.
Tôi bước tới bên cửa sổ, ngó đầu xuống dưới phố. Không có hình Chimera, nhưng tôi biết... Tôi biết bởi hắn đã nói cho tôi - qua nạn nhân, qua phát súng.
Hắn muốn chúng tôi nhận ra đó chính là hắn.
 
 
33
- Lại là hắn, phải không Lindsay ?
Tiếng Cindy vang lên trong điện thoại. Lúc này đã hơn mười một giờ, và tôi đang cố tìm cách để kết thúc một buổi tối khiếp đảm. Tôi vừa dắt Martha đi dạo về và đang muốn tắm nước nóng để gạt hình ảnh cái xác của Art Davidson ra khỏi trí óc.
- Lẽ ra cậu phải gọi điện báo cho tớ biết chứ. Vẫn là hắn, Chimera, phải không ?
Tôi nằm vật xuống giường.
— Chưa biết được, chẳng tìm thấy gì tại hiện trường cả.
- Cậu biết thừa, Lindsay, cả hai chúng ta đều biết.
Tôi chỉ muốn Cindy bỏ điện thoại xuống để tôi có thể nằm cuộn người trên giường.
— Tớ không biết, - giọng tôi run run. - Có thể là hắn thôi.
— Khẩu súng thuộc loại gì ? Có giống với khẩu trong vụ Catchings không ?
— Tớ xin cậu đấy, đừng quay tớ nữa. Tớ quen người cảnh sát này. Bạn anh ấy bảo hôm nay là sinh nhật lần thứ bảy của con gái anh ấy. Anh ấy có năm đứa con nhỏ.
- Tớ xin lỗi, Lindsay, - cuối cùng Cindy cũng hạ giọng. - Chỉ có điều tớ thấy nó giống với vụ trước quá, cũng một phát đạn cực kỳ chính xác.
Chúng tôi ngồi một lúc bên cạnh điện thoại mà không nói năng gì. Cindy nói đúng. Tôi biết cô ấy đúng. Một lát sau Cindy mới lên tiếng.
- Vậy là cậu lại có thêm một vụ, Lindsay nhỉ ?
Tôi không trả lời, nhưng tôi hiểu rõ điều mà cô ấy muốn ám chỉ.
— Một vụ giết người cùng dạng. Một tên thiện xạ máu lạnh. Hắn ta tiếp tục nhằm tới những người da đen.
— Không chỉ người da đen thôi đâu. - Tôi thở dài.
— Vậy à ? — Cindy lưỡng lự, sau đó cô ấy vội vàng nói tiếp. — Tớ thấy cánh nhà báo Oakland đang kháo nhau về tin tức lọt ra từ Đội Homicide ở đó. Bà quả phụ Chipman... chồng bà ta cũng là một cảnh sát. Đầu tiên là chú của Tasha Catchings, sau đó đến chồng bà Chipman, và bây giờ Davidson là người thứ ba. Ôi Trời ơi, Lindsay !
— Chuyện đâu còn có đó mà Cindy, — tôi nài nỉ. - Bây giờ, tớ buồn ngủ lắm rồi. Cậu không hình dung ra chúng tớ đã vất vả như thế nào đâu.
— Hãy để tớ giúp cậu, Lindsay ạ. Cả nhóm chúng ta. Chúng tớ thực lòng muốn giúp cậu mà.
— Được rồi, Cindy. Tớ sẽ nhờ tới các cậu. Tớ cần được tất cả mọi người giúp đỡ.
 
 
34
Trong đêm, tôi đã nghĩ ra được một điều. Kẻ giết người đã gọi 911.
Sáng sớm hôm sau, tôi gọi đúng số đó. Lila McKendree là người phụ trách bộ phận tiếp nhận thông tin, chính cô là  người trực tổng đài khi Davidson gọi đến.
Lila có khổ người đậm, cặp má hồng hào và rất dễ cười nhưng không ai thành thục với công việc như cô. Cô có thể sắp xếp một loạt các sự kiện một cách bình tĩnh chẳng kém gì người kiểm soát giao thông của thành phố. Cô bật lại đoạn băng cuộc gọi 911 trong phòng làm việc của bộ phận. Cappy và Jacobi cũng đến nghe trước khi quay trở lại Vallejo.
- Nó nằm ở cuộn này, — Lila giải thích và nhấn vào nút tua lại.
Trong vài giây nữa, chúng tôi sẽ được nghe giọng nói của tên giết người.
- Cảnh sát San Francisco, đường dây nóng 911, — giọng người trực tổng đài vang lên.
Cả căn phòng lặng ngắt như tờ.
Tiếng một gã đàn ông kích động đáp lại.
- Tôi gọi đến để báo cáo vụ mất trật tự... Một tên khùng nào đó đang đánh vợ hắn.
- Được rồi..., người trực tổng đài trả lời. - Tôi cần bắt đầu từ vị trí của ông. Vụ mất trật tự xảy ra tại đâu vậy ?
Từ trong loa phát ra một chuỗi tiếng động ầm ĩ như tiếng tivi hoặc tiếng ồn ào của xe cộ khiến cho giọng gã đàn ông trở nên khó nghe hơn.
- 303 Đại lộ Số 7. Tầng bốn. Hãy cử người đến càng nhanh càng tốt. Sự việc nghe có vẻ trở nên tồi tệ hơn rồi.
- Ông nói địa chỉ là 303 Đại lộ Sô Bảy phải không ?
- Chính xác - tên giết người trả lời.
- Ông có thể cho tôi biết tên được không ? — Người trực tổng đài đề nghị.
— Tên tôi là Billy, Billy Reffon. Tôi sống ngay tầng dưới. Nhanh lên nhé !
Chúng tôi nhìn nhau, ngạc nhiên. Tên giết người đã nói ra tên của hắn ? Ôi Chúa ơi.
— Thưa ông, — người trực tổng đài tiếp tục, - ông vẫn nghe thấy diễn biến của sự việc trong lúc chúng ta nói chuyện đấy chứ ?
— Cái mà tôi đang nghe được bây giờ, - hắn nói, - là người phụ nữ đang rất hoảng sợ.
Người trực tổng đài lưỡng lự.
— Vâng. Nhưng ông có thể xác định được xem liệu có xảy ra thương tích gì trầm trọng không ạ ?
— Tôi không phải bác sĩ, thưa cô. Tôi chỉ biết báo cáo vậy thôi. Hãy cử ngay cảnh sát tuần tra đến !
— Được rồi, ông Reffon, tôi sẽ gọi ngay. Điều mà tôi cần ông giúp đỡ bây giờ là ông hãy ra khỏi tòa nhà và đợi cho tới khi nào cảnh sát đến. Và hãy chỉ đường cho họ.
— Nhanh lên đi, - tên giết người thúc giục. - Nghe như có người đã bị thương rồi đấy.
Cuộc đối thoại kết thúc ở đó.
- Cuộc gọi được thực hiện bằng điện thoại di động, - Lila nói và nhún cặp vai khá rộng của mình rồi đưa tay bật lại đoạn băng. Lần này, tôi cố lắng nghe kỹ hơn để xem có thể phát hiện ra được điều gì qua giọng nói kia hay không.
Tôi gọi đến để báo cáo vụ mất trật tự... giọng nói nghe có vẻ hoảng sợ và lo lắng, nhưng cũng thật lạnh lùng.
- Thằng cha đóng kịch giỏi thật, - Jacobi cáu kỉnh.
Tên tôi là Billy. Billy Reffon...
Tay tôi siết chặt vào gờ chiếc ghế gỗ mà tôi đang ngồi khi nghe lời hướng dẫn ân cần của người trực tổng đài: “Hãy ra khỏi tòa nhà và đợi cho tới khi nào cảnh sát đến. Và hãy chỉ đường cho họ”. Trong suốt thời gian này, hắn ngồi đằng sau ống ngắm của một khẩu súng, chờ cho con mồi của hắn lộ diện.
- Nhanh lên đi. Nghe như có người đã bị thương rồi đấy.       
Chúng tôi nghe lại đoạn băng lần thứ ba.
Lần này, tôi nhận ra vẻ khinh thường trong giọng nói của tên giết người. Không hề có lấy một chút do dự dù nhỏ nhất dành cho hành động mà hắn sắp sửa thực hiện.
Trong lời giục giã cuối cùng, tôi thậm chí còn phát hiện ra lờ mờ có tiếng cười khẽ: Nhanh lên đi. Nghe như có người đã bị thương rồi đấy.
- Đó là tất cả những gì tôi có, - Lila McKendree thở dài. - Giọng nói của kẻ giết người.
 
 
35
Vụ sát hại Davidson đã làm đảo lộn mọi thứ.
Một dòng tít in đậm đăng trên trang nhất của tờ Biên Niên Sử. “Người cảnh sát bị giết tôi qua được cho là nạn nhân thứ ba trong một cuộc chơi điên rồ.” Bài báo viện dẫn tới những phát đạn bắn tỉa từ xa nhưng tuyệt đối chính xác và biểu tượng kỳ lạ của những nhóm phân biệt chủng tộc được tìm thấy tại hiện trường.
Tôi đi xuống phòng thí nghiệm và bắt gặp Charlie Clapper, vẫn mặc nguyên bộ quần áo bảo hộ, đang cúi gập người bên một chiếc bàn sắt, trệu trạo nhai bữa sáng là món khoai tây rán Doritos. Mái tóc muối tiêu của ông rối bù và bết dính, còn cặp mắt thì trĩu xuống như hai chiếc túi đựng rất nhiều đồ.
— Trong tuần tôi đã phải ngủ trên chiếc bàn sắt này hai lần rồi đấy. — Ông cau có. — Vừa thêm người nào bị giết nữa à ?
— Nếu như ông không nhận ra, thì tôi xin nói cho ông biết rằng suốt tuần vừa rồi tôi cũng chẳng được yên thân lúc nào. — Tôi nhún vai. - Nào Charlie, tôi cần ông cho biết các chi tiết của vụ Davidson. Anh ấy đã bị chính gã sát thủ mà chúng tôi đang truy lùng giết hại.
— Tôi biết. - Người đàn ông của phòng thí nghiệm thở dài. Ông nhấc người lên khỏi ghế và lê chân tới bên bàn phẫu thuật, lôi từ trong chiếc túi nhỏ kéo khóa ở giữa ra một viên đạn dẹt và sẫm màu. - Đây là vi
Đang tải bình luận,....
Mục lục truyện