DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Cá Voi Trắng (Moby Dick)

Tác giả Herman Melville
Bộ sách
Thể loại Kinh điển
Tình trạng Hoàn Thành
Định dạng eBook mobi pdf epub azw3
Lượt xem 5172
Từ khóa eBook mobi pdf epub azw3 full Herman Melville Tiểu Thuyết Kinh Điển Văn học Mỹ Văn học phương Tây
Nguồn tve-4u.org
azbooks

Moby Dick - Cá voi trắng được xuất bản lần đầu năm 1951. Tác phẩm là lời kể của nhân vật Sailor Ishmael về cuộc truy tìm đầy ám ảnh của Ahab - thuyền trưởng một con tàu săn cá voi.

Trên hành trình, Ishmael sớm nhận ra rằng Ahab đã có mục đích tìm bằng được con cá voi trắng có tên Moby Dick. Đó là một con cá voi rất thông minh, hung dữ, đầy bí ẩn. Trong một cuộc chạm trán trước đó, con cá voi đã phá hủy thuyền của Ahab, cắn cụt chân của vị thuyền trưởng, nên giờ đây ông quyết trả mối thù.

Tàu của thuyền thưởng Ahab luôn truy tìm, theo sát Moby Dick. Trong chuyến săn bắt cuối cùng, cuộc quyết đấu giữa đoàn người đi săn với con cá voi đã diễn ra.

Tác giả viết cuốn sách dựa trên kinh nghiệm của mình về biển cả, đọc sách về cá voi, nguồn cảm hứng từ các tác phẩm của Shakespeare và Kinh thánh. Con cá voi trắng mô tả trong tác phẩm dựa trên một con cá voi có thật, và cái kết của tác phẩm dựa trên một sự kiện chìm tàu bởi một con cá voi.

Trong Moby Dick, tác giả Melville sử dụng biểu tượng cách điệu, ngôn ngữ và ẩn dụ để khai mở nhiều chủ đề phức tạp như: cuộc sống trên tàu săn cá voi giữa các thủy thủ đoàn đa dạng về văn hóa, đẳng cấp xã hội, thiện ác và sự tồn tại của Thiên chúa… Ngoài văn xuôi, Melville còn sử dụng nhiều phong cách, thể loại văn học khác trong tác phẩm, từ các bài hát, thơ, cấu trúc trong tác phẩm sân khấu của Shakespeare, các bài diễn văn…

Khi tác giả Herman Melville còn sống, tác phẩm chưa thực sự thành công. Chỉ có 3.200 bản sách được bán trong suốt cuộc đời tác giả. Cho tới khi ông qua đời (năm 1891), cái tên Herman Melville gần như bị quên lãng. Nhưng những nghiên cứu sau đó khiến cho tiểu thuyết Moby Dick - Cá voi trắng trở thành tác phẩm hay nhất của văn học Mỹ.

Khoảng những năm 1900, một vài nhà phê bình dành thời gian nghiên cứu và có những lời khen ngợi đối với Melville và tiểu thuyết của ông. Năm 1917, tác giả Carl Van Doren là người đầu tiên ca ngợi Melville; một nghiên cứu của ông vào năm 1921 có tên “The American Novel” đã gọi Moby Dick - The Whale là đỉnh cao của chủ nghĩa lãng mạn Mỹ.

Một cuốn sách minh họa tiểu thuyết Moby Dick - The Whale được xuất bản vào năm 1930. Cuốn tiểu thuyết đã được chuyển thể và gợi cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm nghệ thuật như phim, sách, phim hoạt hình, truyền hình, và hơn một chục phiên bản truyện tranh.

Năm 2017, trong diễn văn nhận giải Nobel của nhà thơ, nhạc sĩ Bob Dylan có trích dẫn Moby Dick và cho biết đây là một trong ba cuốn sách có ảnh hưởng nhất tới ông.

Tại Việt Nam, Moby Dick - Cá voi trắng đã được chuyển ngữ cách đây khoảng 50 năm trước. Mới đây, phiên bản đầy đủ của tác phẩm tái xuất với bạn đọc Việt.

Nhà văn Herman Melville (1819-1891) sinh trưởng và sống tại New York. Ông là một nhà văn, nhà thơ, người viết tiểu luận. Những tiểu thuyết đầu tiên trong sự nghiệp của ông là các tác phẩm bán chạy, ăn khách. Nhưng danh tiếng của Melville bị suy giảm thê thảm vài năm sau đó. Quãng thời gian Melville qua đời là lúc gần như ông bị lãng quên.

Tuy nhiên, tiểu thuyết Moby Dick - Cá voi trắng đã được khám phá lại ở thế kỷ 20, được coi là một trong những kiệt tác hàng đầu của văn học Mỹ nói riêng, văn chương thế giới nói chung.

***

 

ẢO VỌNG

CỨ GỌI TÔI LÀ ISHMAEL. Cách đây ít năm - đừng bận tâm chính xác là bao lâu - hễ khi túi hẻo hay rỗng túi và chẳng có trò gì thật thú trên đất liền, tôi lại nảy ra ý tưởng đáp thuyền ra đi ít lâu để ngao du phần thế giới nước. Đó cũng là một cách để tôi gạt bỏ nỗi u uất và điều hòa khí huyết. Cứ mỗi khi tôi thấy mặt sưng mày sỉa; cứ mỗi khi tâm hồn là tháng Mười một mưa phùn ẩm ướt; cứ mỗi khi vô tình tôi thấy mình tần ngần trước những hàng bán quan tài và nhập vào cuối dòng người đưa tang ở bất cứ đám ma nào tôi gặp; và đặc biệt là cứ mỗi khi nỗi chán nản vô cớ thắng thế, đến độ cần phải có nguyên tắc đạo đức vững lắm mới ngăn được tôi lập tức bước ra phố, ngang nhiên hất mũ người ta - những khi đó tôi thấy cần phải ra khơi càng sớm càng hay. Đối với tôi đó là một cách thay thế cho khẩu súng và viên đạn. Tay bình thản vung gươm, Cato gieo mình vào lưỡi kiếm mà tự tận; tôi chỉ lặng lẽ xuống thuyền. Không có gì lạ. Giá mà người ta biết được, hầu hết mọi người, tùy mức độ, lúc này hay lúc khác, thảy đều mang những xúc cảm hướng về đại dương gần giống như tôi.

Đây là thành phố đảo của dân xứ Manhatto1, bao chung quanh là những bến tàu hệt những rạn san hô quanh các hải đảo Tây Ấn - giao thương như sóng trào vây bọc lấy hòn đảo. Theo tay trái lẫn tay mặt, phố đều dẫn ta đi về phía nước. Ở cực Nam là khu Pháo Đội, nơi con đê hùng vĩ hằng ngày được sóng gột rửa và gió hong khô, những con sóng ngọn gió mà mây giờ trước còn hút bóng đất liền. Hãy nhìn nhưng đám người ngắm biển ở đó.

Hãy dạo một vòng thành phố vào một buổi chiều Chúa nhật mơ màng. Đi từ mũi Corlears đến phố Coenties Slip, rồi từ đó đi tới Whitehall, về phía Bắc. Ta sẽ thấy gì? Ở khắp nơi hàng ngàn người đứng âm thầm như lính gác, đăm đăm thả hồn ra biển. Có người đứng tựa cột, có người ngồi trên đầu cầu tàu, có người ngó lên mạn các hải thuyền từ Trung Quốc tới, và có người lại ngồi cao chót vót trên các dây buồm, dường như đương cố gắng nhìn biển cho rõ hơn. Nhưng hết thảy nhưng người này đều là dân ở đất liền, suốt tuần bị nhốt sau bốn bức tường - buộc chặt vào quầy hàng, đóng đinh vào ghế ngồi, hay gắn chắc vào bàn viết. Chuyện này là thế nào đây? Phải chăng những đồng cỏ xanh tươi đã biến mất? Những người nọ tới đây làm gì?

Kìa hãy trông! Lại thêm những đám đông khác đương xăm xăm đi ra phía biển và dường như muốn nhảy tòm xuống nước. Lạ nhỉ! Không có gì làm cho họ vừa lòng ngoại trừ giới hạn tột cùng của đất liền, đi dạo dưới bóng mát những kho hàng ở xa kia đối với họ không đủ. Không. Họ phải tiến tới sát mé nước, gần hết mức, miễn là đừng rớt xuống. Rồi họ đứng đó, hàng dặm dài bọn họ - hàng hải lý. Toàn là người ở nội địa, họ tới đây từ những ngõ và ngách, phố và đại lộ, từ khắp ngả Đông, Tây, Nam, Bắc. Nhưng ở đây họ thảy nhập làm một. Nói tôi nghe, phải chăng sức hút của cây kim la bàn trên những hải thuyền kia đã kéo họ tới đây?

Một ví dụ nữa. Hãy tưởng tượng ta ở một vùng đồng quê, trên một cao nguyên nào đó có hồ nước. Chọn đường nào tùy thích, chín phần mười nó sẽ đưa ta xuống một thung lũng và bỏ ta lại bên một vụng suối. Có gì đấy thật huyền diệu trong chuyện này. Hãy để cho một người thuộc dạng đãng trí nhất mặc sức thả hồn trong mộng mị sâu kín, rồi dựng hắn dậy, để mặc hắn bước đi, chắc chắn hắn sẽ dẫn ta tới bên một bờ nước, trừ phi trong vùng ấy không có lấy một bờ nước nào. Giả như có bao giờ khát nước ở giữa vùng sa mạc Mỹ châu bao la, hãy thử thí nghiệm đó, nếu trong đoàn tình cờ có sẵn một vị giáo sư ngạch siêu hình. Thật vậy, như ai nấy đều biết, bờ nước và suy tư muôn đời đi đôi với nhau.

Song đây là một nghệ sĩ. Anh muốn vẽ cho ta một góc mơ màng, âm u, lặng lẽ và quyến rũ nhất trong toàn thể phong cảnh thơ mộng vùng thung lũng Saco. Yếu tố cốt yếu của bức họa sẽ là gì nhỉ? Kia lừng lững những cái cây, mỗi thân cây rỗng tưởng chừng bên trong có chứa một tu sĩ với cây thập tự; đây mơ màng đồng cỏ, trên lim dim vài chú mục súc; và tỏa lên từ túp lều tranh ở xa một làn khói mơ màng. Đi sâu vào trong khu rừng xa, một con đường chạy ngoằn ngoéo, leo lên tận những mỏm núi trùng điệp tắm mình trong màu xanh của sườn núi. Nhưng mặc dù bức tranh khiến ta say đắm, mặc dù cây thông này buông rơi những lời than thở như lá rơi trên đầu gã mục đồng, thảy vẫn vô vị nếu trước con mắt đăm chiêu của chú mục đồng không có một làn nước huyền diệu. Hãy tới thăm vùng đồng cỏ ở Hoa Kỳ vào tháng Sáu để ngập bước tận đầu gối hàng mấy mươi dặm trong những đám ly da báo, yếu tố thu hút còn thiếu ở đây là gì? Nước - ở đó một giọt nước cũng không có. Nếu thác Niagara chỉ là một dòng cát liệu ta có băng ngàn dặm để tới chiêm ngưỡng? Tại sao thi sĩ nghèo ở Tennessee bỗng nhiên được đầy hai túi bạc lại do dự không biết nên sắm cái áo, buồn thay lại là vật anh hết sức cần, hay dùng tiền đó vào một cuộc tản bộ du ngoạn bãi biển Rockaway? Tại sao hầu hết những chàng trai mạnh khỏe và vạm vỡ, với một tâm hồn rắn rỏi ngang thân hình, lại có lúc thèm ra biển đến điên lên như vậy? Tại sao lần đầu tiên đáp tàu với tư cách hành khách bạn lại cảm thấy một xung động huyền diệu khi nghe nói bạn và con tàu đã rời xa không còn nhìn thấy đất liền nữa? Tại sao người Ba Tư lại thờ phụng biển cả như thần thánh? Tại sao người Hy Lạp lại gán cho biển một tư cách thần linh riêng biệt, anh em của thần Zeus chúa tể các vị thần? Chắc chắn tất cả không phải không có ý nghĩa. Và câu chuyện về chàng Narcissus kia còn có ý nghĩa sâu xa hơn: chính vì không nắm giữ được cái hình ảnh giày vò, đẹp đẽ của mình trong gương nước mà chàng đã nhảy xuống nước và chết đuối. Nhưng chính hình ảnh ấy, bản thân chúng ta cũng nhìn thấy trên mọi sông hồ và biển cả. Đó là hình ảnh cái ảo mộng mơ hồ của cuộc đời; và ra khơi chính là chiếc chìa khóa vạn năng.

Còn thì khi tôi nói tôi đã nhiễm phải cái thói đi biển mỗi khi bắt đầu cảm thấy mờ mắt hay ngộp thở vì ở lâu trên đất liền, tôi không có hàm ý là tôi từng đi biển với tư cách một hành khách. Bởi vì đi với tư cách một hành khách bạn phải có túi tiền, mà một cái túi tiền chỉ là một miếng giẻ rách nếu như rỗng tuếch. Vả lại, hành khách thường hay bị say sóng, trở nên cáu bẳn, đêm lại khó ngủ và, nói chung không được hưởng thụ nhiều nhặn gì cho cam; không, tôi không đời nào ra đi với tư cách một hành khách, và mặc dù cũng là một thủy thủ vào loại lão luyện, tôi không bao giờ ra đi với tư cách thuyền trưởng hay thuyền phó, hay đầu bếp. Tôi nhường vinh quang và quyền lợi của các chức vụ ấy cho những ai ưa thích. Về phần tôi, tôi ghê tởm những khó nhọc, thử thách và khổ não đủ loại, dù cao cả đáng trọng đến đâu. Chỉ lo thân thôi đã là quá đủ rồi, hơi đâu chăm sóc nào tàu thủy, thuyền ba cột buồm, thuyền hai cột buồm lớn, thuyền hai cột buồm nhỏ, thôi thì đủ loại. Chẳng hạn như đi biển với tư cách đầu bếp - mặc dù tôi thú nhận đó là một chức vụ ít nhiều vinh quang vì đầu bếp là một loại sĩ quan trên tàu, nhưng chẳng hiểu sao tôi chẳng bao giờ thích nấu nướng gà vịt - dù một khi các con vật đó được nấu lên, phết bơ cho đúng cách, ướp muối tiêu cho vừa phải, thì tôi sẽ là kẻ ca tụng các món ăn đó một cách kính cẩn, nếu không nói là tôn sùng hơn ai hết. Lời ca tụng đó xuất phát từ sự sùng bái của người Ai Cập thời xưa đối với món cò quăm nướng và hà mã quay giòn, xác ướp của những sinh vật ấy ta vẫn còn thấy trong các bếp lò vĩ đại kim tự tháp.

Không, mỗi khi tôi đi biển là đi với tư cách thủy thủ đơn thuần, được ở ngay trước cột buồm, tuột thẳng xuống boong đằng mũi, ngất ngưởng trên ngọn cột buồm chính. Đúng, bọn họ hay sai phái tôi loanh quanh việc này việc nọ, bắt tôi nhảy từ đầu cột buồm này sang đầu cột buồm khác, như một chú châu chấu trên đồng cỏ tháng Năm. Và mới đầu, loại công việc này cũng khá khó chịu. Nó chạm tới vấn đề danh dự, nhất là nếu ta xuất thân từ một trong những gia đình lâu đời trong vùng, như nhà Van Rensselaer, Randolph hay Hardicanute chẳng hạn. Khó khăn hơn hết thảy là nếu trước khi phải thò tay vào một thùng dầu hắc ín, ta từng là một ông giáo làng vẻ vang, khiến cho những học trò lớn phổng nhất cũng phải kính sợ. Sự chuyển hướng từ địa vị một ông giáo sang một thủy thủ là một sự chuyển đổi kịch liệt, xin đảm bảo với bạn thế, và nó đòi hỏi ta phải uống một thang thuốc sắc đậm đặc của triết thuyết Seneca và phái khắc kỷ rồi mới có thể nhăn nhó mà chịu đựng được. Nhưng cả chuyện này rồi cũng nhạt dần với thời gian.

Có sao đâu, nếu lão thuyền trưởng bủn xỉn nào đó bắt tôi cầm chổi quét boong tàu? Sự mất phẩm giá đó đáng kể ra sao, ý tôi là nếu đo theo thang bực giá trị của Tân Ước? Bạn có cho rằng tổng thiên thần Gabriel sẽ coi rẻ tôi, vì tôi đã phục tòng lão già bủn xỉn ấy trong trường hợp đặc biệt đó? Ai mà không là nô lệ? Nói tôi hay xem. Chao, vậy nên, dù lão thuyền trưởng già có ra lệnh cho tôi, có đánh đấm tôi chăng nữa, tôi cũng biết tự thỏa mà cho thế là thường; cho là ai nấy đều được đối xử cùng một lối theo cách này hay cách khác - ý là trên phương diện hoặc thể chất hoặc siêu hình; nên miếng đòn của tạo hóa truyền quanh chẳng từ một ai, mọi bàn tay đều chà xát xương đòn của nhau và thảy đều bằng lòng.

Lại nữa, tôi luôn luôn đi biển với tư cách thủy thủ, vì họ phải trả tiền để làm phiền tôi, trong khi, theo chỗ tôi biết, họ không hề trả một xu nhỏ nào cho hành khách. Trái lại, hành khách phải tự trả tiền. Mà trên cõi đời này trả tiền và nhận tiền là hoàn toàn khác biệt. Hành động trả tiền có lẽ là hình phạt khó chịu nhất mà hai kẻ trộm táo truyền lại cho chúng ta. Còn được người ta trả tiền cho ư - thú nào sánh được đây? Thái độ lịch sự của con người lúc nhận tiền thật phi thường sao, xét nỗi chúng ta thành thật tin tưởng rằng tiền là cội rễ của hết thảy mọi sự xấu xa trên dương thế, và rằng không bao giờ một người có tiền lại có thể lên thiên đường. Chà, chúng ta tự dấn thân vào tội lỗi mới vui vẻ làm sao!

Cuối cùng, tôi luôn luôn đi biển với tư cách thủy thủ, vì được tập tành lành mạnh và hít thở không khí trong sạch nơi boong mũi. Vì trên thế gian này, những ngọn gió từ phía trước thổi lại vẫn thường xuyên hơn ngọn gió từ sau lưng thổi đến (ấy là nếu bạn không vi phạm định lý của Pythagoras), thành thử thường thường ông thuyền trưởng kỳ cựu ở boong lái bao giờ cũng phải hưởng thừa luồng không khí đã thổi qua những thủy thủ ở boong đằng mũi. Ông ta lại cho rằng mình đã được thở luồng không khí ấy trước tiên, nhưng không phải thế. Chẳng khác gì tập thể thường dẫn dắt những người lãnh đạo trong nhiều việc mà những người này không hề biết. Vì sao mà sau khi đã nhiều lần nếm mùi biển cả, với tư cách một thủy thủ trên tàu buôn, giờ đây tôi lại tơ tưởng đến chuyện đi săn cá voi? Điều này thì chỉ có tay sĩ quan cảnh sát vô hình là Định mệnh, kẻ luôn luôn kiểm soát tôi, ngấm ngầm bám gót tôi, chi phối tôi một cách không tài nào hiểu nổi, là có thể trả lời hay hơn bất cứ ai. Và chắc chắn, việc tôi du hành trong chuyến đi săn cá voi này cấu thành một phần cái chương trình vĩ đại mà ông trời đã vạch trước từ lâu. Chuyến đi được xen vào, như một quãng giải lao ngắn hay một bản độc tấu giữa các tấn tuồng dài hơn. Theo tôi, phần này trên áp phích quảng cáo có thể được ghi như sau:

“Cuộc đại tranh cử tổng thống Hoa Kỳ

“CHUYẾN SĂN CÁ VOI CỦA MỘT NGƯỜI TÊN ISHMAEL

“CUỘC XUNG ĐỘT ĐẪM MÁU TẠI AFGHANISTAN”

Mặc dù tôi không thể nói tại sao những vị quản tuồng đời là Định mệnh lại giáng cho tôi vai trò cực nhọc tàn tệ này trong một hành trình đánh cá voi, trong khi dành cho bao kẻ khác những vai hoa lệ trong các bi kịch cao siêu hay những vai ngắn dễ dàng trong các hài kịch thượng lưu, hoặc những vai tươi vui trong những vở trào lộng; song giờ đây đã kiểm điểm lại mọi tình huống hoàn cảnh, tôi cho rằng có thể thấy rõ một phần nào những căn nguyên và động cơ xảo trá, ngụy trang muôn hình dạng, đã xui khiến tôi tự nguyện tiến hành cái phân vai tôi đã đóng, và hơn nữa còn phỉnh phờ tôi đến nỗi tôi tin vào cái ảo tưởng rằng đó là một lựa chọn kết quả của ý chí không thành kiến và óc suy xét sáng suốt của riêng tôi.

Trong những lý do này, động cơ chính là ý tưởng không thể gạt bỏ đi được về bản thân con cá voi to lớn kia. Con quái vật huyền bí và vĩ đại kích thích toàn thể óc tò mò của tôi. Rồi đến nhứng miền biển hoang vu, xa vắng, nơi nó cuộn tấm thân to như hải đảo; những nguy hiểm không tên và không sao mô tả được mà cá voi gây ra; bấy nhiêu thứ, cộng với mọi kỳ quan hiện hữu của nghìn phong cảnh lẫn thanh âm vùng Patagonia, đã thúc đẩy tôi đến với ước mơ của mình. Có lẽ, với những người khác, những chuyện đó không kích thích cho lắm, nhưng với tôi, niềm háo hức muốn được biết những thứ xa xăm luôn giày vò tôi không ngớt. Tôi vốn ưa đáp thuyền tới những miền cấm hải hay cấm địa, tới những bờ biển man dã. Tôi không phải là không biết tới cái hay, nhưng cũng rất mau ý thức được cảm giác kinh hoàng, và có thể vẫn quen chơi với cảm giác đó - nếu không bị ai ngăn cản - bởi đành phải thân thiện với những kẻ sống ở cái nơi mà mình đến sống.

Vậy nên, bởi những lý do này, chuyến đi săn cá voi được hoan nghênh nhiệt liệt; các cửa lũ vĩ đại của thế giới huyền bí đã rộng mở, và trong số những ý niệm kỳ quái thúc giục tôi theo đuổi công cuộc của mình, có hai hình ảnh phảng phất trong đáy sầu tâm hồn tôi, đó là những đám rước cá voi dài vô tận và, ở giữa chúng, một bóng ma khổng lồ có chỏm tựa hồ một đồi tuyết lơ lửng trong không.

Mời các bạn đón đọc Cá Voi Trắng (Moby Dick) của tác giả Herman Melville.

bizbooks
san-uu-dai-sach-hang-thang-dung
tiki-top-sach-nen-tang-nhat-dinh-phai-doc
bizbooks
hỗ trợ trực tuyến
Mr. Nam
0966.554.875
dtv-ebook
tiki-10-sach-tu-duy-nen-doc
thi-tran-buon-tenh
Giá bìa 169.000   

Giá bán

98.584 

Giá bìa 169.000   

Giá bán

98.584