Đào Tiểu Vũ eBook

Sự Tuyệt Chủng của Con Người Kinh Tế - Michael Shermer

Tác giả Michael Shermer
Bộ sách
Thể loại Kinh tế
Tình trạng Hoàn Thành
Định dạng eBook prc pdf epub azw3
Lượt xem 244
Từ khóa eBook prc pdf epub azw3 full Michael Shermer Kinh tế
Nguồn
Thêm vào yêu thích Đọc online
Vì sao chúng ta cứ ôm khư khư mớ cổ phiếu để rồi sau đó mới nhận ra rằng lẽ ra phải bán phứt chúng đi? Vì sao chúng ta sẵn sàng mua một chiếc áo mang thương hiệu của một nhà sản xuất nổi tiếng với giá cao hơn, cho dù phải bẻ ngược cổ áo mới nhìn thấy tên của nhãn hiệu đó? Vì sao chúng ta như phát điên khi thấy người khác làm công việc tương tự mình lại được trả lương cao hơn, cho dù trước đó chúng ta hoàn toàn mãn nguyện với những gì mình đang có?  Rốt cuộc là vì sao? Đơn giản là vì quá trình tiến hóa đã khiến chúng ta hành động như vậy.

Từ góc nhìn hoàn toàn mới mẻ, tác giả Michael Shermer đã hé lộ cùng độc giả những yếu tố tâm sinh lý góp phần hình thành nên phương thức tư duy của con người về tiền bạc. Ông cũng giải thích cặn kẽ quá trình biến đổi của loài người từ phương thức giản đơn săn bắt–hái lượm thuở hồng hoang tiến hóa thành con người tiêu dùng-doanh nhân hiện đại, đồng thời giải thích cách thức thị trường tư bản – vốn được coi là một phần trong học thuyết tiến hóa của Darwin – vượt qua quá trình chọn lọc tự nhiên để lớn mạnh trở thành phương thức thỏa mãn nhu cầu ưu việt nhất của loài người.

Dựa trên nền tảng Kinh tế học thần kinh – một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, Shermer đã cố gắng tìm hiểu xem điều gì đang thực sự diễn ra bên trong não bộ mỗi khi chúng ta đưa ra những quyết định có liên quan đến tài chính như giao kèo mua bán, thâu tóm mối làm ăn và tạo dựng niềm tin trong kinh doanh. Shermer đã nỗ lực quan sát và phân tích các thí nghiệm về Kinh tế học hành vi (Behavioral Economics) để tìm hiểu nguyên nhân vì sao chúng ta lại thích những vấn đề có ít sự lựa chọn cũng như luôn tìm cách né tránh thất bại, bất chấp mọi dự đoán của kinh tế học truyền thống. Bên cạnh đó, những khám phá mới mẻ của ông về hành vi của loài linh trưởng cũng như quá trình tiến hóa của loài người đã góp phần giải đáp một loạt các câu hỏi như vì sao chúng ta lại đánh giá các loại mặt hàng thông qua hệ thống tiền tệ? tại sao chúng ta lại thèm muốn thứ người khác đang sở hữu? vì sao chúng ta hay bị các xúc cảm về giới tính chi phối trong quá trình hợp tác và lựa chọn đối tác trong kinh doanh?

Từ những phát hiện độc đáo rút ra trên cở sở những thí nghiệm về hành vi của con người đối với tiền bạc, cuốn sách này thực sự là một công trình khoa học công phu và nghiêm túc về đời sống kinh tế của loài người.
***
Nhận xét về cuốn sách:

“Shermer thật cừ khôi khi có thể hòa quyện tính phức tạp của khoa học với cảm nhận mong manh của tâm lý loài người để đưa ra những kiến giải về thương mại và tài chính thế giới hậu hiện đại vốn vô cùng khó đoán định. Những phân tích bao quát, sáng tạo và giàu thông tin về hành vi của con người hiện đại, khởi đầu từ ví tiền của anh ta.” – KIRKUS REVIEWS

“Kinh tế học không chỉ nghiên cứu đồng tiền. Nó là khoa học về bản năng con người, sự công bằng, lòng tin và hạnh phúc. Michael Shermer cho thấy những chuyên gia thực thụ về Con người kinh tế chính là các nhà tâm lý học, sinh vật học và linh trưởng học.” – FRANS DE WAAL

“Viết bằng sự nhiệt tình và tinh tế vốn có, tác phẩm này là cuốn sách tuyệt vời nhất của Michael Shermer. Với cái nhìn toàn diện về lịch sử đồng thời tiếp thu những tinh hoa của khoa học hiện đại, Shermer đã nỗ lực thực hiện một nghiên cứu tổng hợp về tâm lý học và thần kinh học để chứng tỏ rằng thị trường rất có đạo đức, và tự do thương mại phù hợp với bản năng loài người. Shermer đã trình bày những luận điểm ủng hộ tự do kinh tế, chính trị, xã hội trong một tác phẩm giàu thông tin và hết sức lý thú.” – DINESH D’SOUZA

“Số nhà kinh tế học hiểu Charles Darwin cũng hiếm hoi như số nhà sinh vật học hiểu Adam Smith vậy. Song, về bản chất họ hết sức đồng điệu –  cho rằng trật tự xuất hiện từ cạnh tranh và sáng tạo chứ không được sắp đặt sẵn. Michael Shermer đã kết nối hai trí tuệ lớn để giải thích cách trí tuệ con người tạo ra thị trường đấy nhân tính.” – MATT RIDLEY
***
KINH TẾ HỌC CHO MỌI NGƯỜI

Phúc âm thánh Matthew, trang 25, dòng 14-29, thuật lại lời dạy của Jesus Chúa cứu thế về tài năng như sau: “Vì phàm ai đã có thì sẽ được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi.” Nếu không xét đến ngữ cảnh, câu nói trên không thể hiện chút trí tuệ nào của một nhà tiên tri vĩ đại, người từng tuyên bố rằng lòng nhân từ sẽ ngự trị thế giới; song nếu xét trong ngữ cảnh phù hợp, có thể hiểu Jesus cho rằng nếu biết cách đầu tư tiền của (tính bằng đơn vị “talents”) thì con người sẽ trở nên giàu có hơn. Một người đầy tớ được trao cho năm talents nếu biết cách đầu tư sẽ đem về cho chủ mười talents. Một người đầy tớ được trao cho hai talents nếu biết cách đầu tư sẽ đem về cho chủ bốn talents. Nhưng nếu được trao cho một talent và người hầu đó đem cất kỹ vào hộp thì cuối cùng cũng chỉ có thể trả lại một talent duy nhất cho chủ. Khi đó, ông chủ sẽ yêu cầu người đầy tớ ngại rủi ro này trao một talent đó cho người biết cách biến năm talents thành mười talents – nghĩa là người kiếm được nhiều tiền nhất lại được ban thêm của cải. Vậy là kẻ giàu càng giàu thêm.

Hẳn lời dạy của Chúa Jesus thâm sâu hơn câu chuyện mang tính kinh tế về lựa chọn phương cách đầu tư đúng đắn, song tôi muốn xem lời dạy này như một ngụ ngôn về tâm hồn của thị trường. Vào những năm 1960, nhà xã hội học Robert K. Merton đã tiến hành một nghiên cứu quy mô lớn về cách thức các ý tưởng khoa học được khám phá, công nhận trong một thị trường ý tưởng – ông coi khoa học như một thị trường. Merton nhận thấy các khoa học gia lỗi lạc thường có uy tín lớn hơn mức xứng đáng đơn giản bởi họ là những tên tuổi lớn, trong khi các cộng sự giúp việc và các nghiên cứu sinh – những người đảm nhận phần lớn công việc – lại chẳng hề được biết đến. Một hiệu ứng phổ biến tương tự cho thấy những ý tưởng sáng tạo và những câu danh ngôn thường được nâng tầm và đem lại sự vẻ vang cho cá nhân nổi tiếng nhất liên quan đến chúng.

Merton gọi đây là Hiện tượng Matthew. Các chuyên gia về thị trường xem đây là Lợi thế tích lũy. Trong ngữ cảnh kinh tế rộng hơn, tôi sẽ đề cập đến nó như Hiệu ứng bán chạy nhất. Một sản phẩm bán chạy khi vừa được tung ra thị trường sẽ khiến những người khác tin đây là một sản phẩm tốt và mong muốn sở hữu nó, điều này sẽ kéo thêm nhiều người đến mua, và thông điệp cứ thế lan tỏa đến vô số khách hàng khác. Sản phẩm này lập tức trở thành món hàng bán chạy nhất. Trên thương trường ai cũng biết hiệu ứng này, thế nên nhiều tác giả và nhà xuất bản quyết tâm đặt bằng được cuốn sách của họ vào danh mục sách bán chạy nhất của New York Times. Khi sách của bạn nằm trong danh mục này, các hiệu sách sẽ lập tức xếp nó vào giá sách bán chạy nhất (đôi khi còn ghi rõ “Danh mục sách bán chạy nhất theo xếp hạng của New York Times”).

Cuốn sách sẽ được đặt ngay bên ngoài, các ẩn bản xếp ngay ngắn như một khối gỗ. Điều này giúp các khách hàng tiềm năng vừa bước vào hiệu sách đã nhận ra đây là một cuốn đáng đọc. Lượng mua tăng lên khiến cuốn sách lập tức được các biên tập viên mục New York Times Book Review nâng hạng trên danh mục sách bán chạy, điều này như một thông điệp tích cực gửi đến độc giả khiến số ấn bản bán được ngày càng tăng thêm, cuốn sách trụ hạng lâu hơn, doanh số bán tiếp tục tăng cao hơn nữa. Tất cả xoáy quanh như một vòng tròn, và các tác giả giàu nhất lại càng giàu thêm.

Để lượng hóa Hiệu ứng bán chạy nhất, nhà xã hội học Duncan Watts, công tác tại Đại học Columbia, cùng với hai cộng sự Matthew Salganik và Petter Dodds đã tiến hành một thí nghiệm trong đó 14 nghìn người đăng ký làm thành viên một trang web, nơi họ có thể nghe, xếp hạng và tải về các ca khúc do các ban nhạc vô danh trình bày. Một nhóm thành viên được cho biết tên của các ca khúc và ban nhạc, trong khi nhóm thứ hai chỉ được biết số lần mỗi bài hát được tải về. Các nhà nghiên cứu đã gọi đây là điều kiện “ảnh hưởng xã hội”. Họ muốn biết thông tin về số người tải một ca khúc về có ảnh hưởng đến quyết định tải hoặc không tải nó về của các chủ thể khác không. Đúng như dự đoán, số liệu biểu thị lượng tải về đã ảnh hưởng đến những thành viên thuộc nhóm chịu “ảnh hưởng xã hội”: những bài hát có số người tải về nhiều hơn tiếp tục được các thành viên mới tải về nhiều hơn, trong khi lựa chọn của nhóm biết tên bài hát và ban nhạc lại cho kết quả cực kỳ khác biệt. Điều này không có nghĩa là chất lượng của một cuốn sách, một ca khúc hay bất kỳ sản phẩm nào khác không có ảnh hưởng tới quyết định của người mua. Tất nhiên, nó có ảnh hưởng và ảnh hưởng đó có thể lượng hóa được. Nhưng hóa ra khi người tiêu dùng đưa ra lựa chọn chủ quan dựa trên đánh giá mang tính tương đối của các khách hàng khác thì ảnh hưởng của sự xếp loại khách quan về chất lượng sản phẩm thường trở nên mờ nhạt.

Những thị trường nơi việc buôn bán diễn ra dựa trên những bảng xếp hạng, xếp loại và danh mục hàng bán chạy nhất dường như vận hành theo ý muốn của riêng nó, giống như một cơ thể chung. Thực chất, đây mới chỉ là một trong những hiệu ứng sẽ được đề cập trong cuốn sách này, minh chứng cho mức độ ảnh hưởng của tâm hồn tới thị trường, và rộng hơn nữa là sự tồn tại tinh thần riêng của thị trường. Hãy cùng suy ngẫm một câu chuyện kinh tế khác qua bài học về sự tiến hóa có liên quan đến Hiệu ứng bán chạy nhất.

***

Hãy tưởng tượng bạn là một chủ nhà băng sở hữu một lượng tiền hữu hạn có thể cho vay. Nếu bạn cho những khách hàng có mức độ rủi ro cao vay, thực sự bạn đang chơi một canh bạc liều lĩnh vì con nợ của bạn có thể không trả được nợ và tài sản của bạn cũng tiêu tán. Điều này tạo ra một nghịch lý: Những người cần tiền chính là những người có mức độ rủi ro cao nhất và vì thế khó lòng vay được tiền, trong khi đó những người ít cần tiền nhất lại có mức độ rủi ro thấp nhất – và thế là người giàu càng giàu thêm. Hai nhà tâm lý học tiến hoa John Tooby và Leda Cosmides đã gọi đây là Nghịch lý chủ nhà băng, và họ đã áp dụng nó vào một vấn đề sâu sắc hơn: chúng ta nên kết bạn với ai? Họ cho rằng Nghịch lý chủ nhà băng “cũng tương tự như một vấn đề nghiêm trọng mà tổ tiên chúng ta gặp phải trong quá trình thích nghi với cuộc sống: lúc một người nguyên thủy cần được giúp đỡ nhất cũng là lúc người đó có mức độ rủi ro cao, và vì thế không còn đủ hấp dẫn để được trợ giúp”.

Nếu xem cuộc sống giống như một nền kinh tế và những nguồn lực là bất cứ thứ gì chúng ta sẵn có để giúp đỡ người khác – đặc biệt bao gồm tình bạn – theo logic của Nghịch lý chủ nhà băng, sẽ có những lựa chọn rất khó khăn khi đánh giá mức độ tin cậy của những người chúng ta gặp. Theo thuyết tiến hóa, lòng vị tha là vấn đề lớn hơn được đặt ra ở đây: tại sao tôi phải hy sinh gene của tôi vì gene của người khác? Hoặc mang tính kỹ thuật hơn, vị tha là hành động làm giảm khả năng sinh tồn của tôi đồng thời làm tăng khả năng sinh tồn của người khác.

Các lý thuyết chuẩn mực cho rằng có hai con đường tiến hóa dẫn tới sự vị tha: lựa chọn theo huyết thống (một giọt máu đào hơn ao nước lã) và vị tha tương hỗ (có đi có lại). Giúp đỡ những người gần gũi thân thiết hoặc những người sẽ đền đáp lòng vị tha của tôi nghĩa là tôi đang giúp chính mình. Vì thế, sự lựa chọn sẽ hướng đến những người có xu hướng vị tha ở mức độ nào đó. Bị giới hạn bởi các nguồn lực, chúng ta không thể giúp đỡ tất cả mà phải đánh giá mức độ rủi ro của mỗi người, và sẽ có một số người ít rủi ro hơn những người khác. Một lần nữa Nghịch lý chủ nhà băng lại xảy ra: Những người nguy khốn nhất lại ít có cơ may được giúp đỡ nhất, và thế là người giàu càng giàu thêm. Nhưng không phải khi nào cũng vậy, có những người bạn lúc sóng êm biển lặng giả vờ tỏ ra vị tha, nhưng khi trời nổi giông bão thì họ chẳng buồn cứu giúp chúng ta. Ngược lại, những người bạn thực sự là những người luôn bảo vệ lợi ích của chúng ta mà không hề đòi hỏi sự đền đáp. “Những bạn bè xấu thường đeo mặt nạ trung thành”, Tooby và Cosmides phân tích, “ Nếu bạn sống ở thời nguyên thủy và không có ai quan tâm sâu sắc đến lợi ích của bạn, khi đó bạn rất dễ bị tổn thương trước các sự kiện bất ngờ – trở thành con tin của số mệnh.” Môi trường sống càng tồi tệ, càng cần thiết phải có những người bạn thực sự, và trong quá khứ, môi trường sống của con người không hề giống một chuyến dã ngoại êm đềm.

Tiến hóa là một quá trình chọn lọc theo khả năng thích nghi và hành xử theo Nghịch lý chủ nhà băng, trong đó chúng ta phải (1) cố gắng để được những người xung quanh ghi nhận sự thành thực và đáng tin cậy, (2) trau dồi những thuộc tính được ưa chuộng nhất trong cộng đồng, (3) tham gia những hoạt động cộng đồng nhằm nhận diện và củng cố những thuộc tính thiên về xã hội, (4) tránh những hoạt động cộng đồng gây mất uy tín và để lại tai tiếng, (5) chú ý đến những đặc điểm đáng tin cậy ở người khác và (6) rèn khả năng phân biệt bạn bè chân thành và bạn bè hời hợt. Vì thế, Tooby và Cosmides kết luận, Nghịch lý chủ nhà băng, giải thích cho vấn đề thuộc lĩnh vực tâm lý học tiến hóa: “Nếu bạn có tầm quan trọng đặc biệt hoặc duy nhất với ai đó – dù vì bất cứ lý do nào – người đó cũng sẽ có sự quan tâm trên mức thông thường đối với sự tồn tại của bạn khi gặp khó khăn. Sự quan tâm ấy khiến người đó trở nên quan trọng với bạn. Lý do ai đó “đầu tư” vào bạn chính là vì bạn cũng “đầu tư” vào người đó. Hơn nữa, khi nhận ra điều này ở mức độ nào đó, có thể sự quan tâm ban đầu họ dành cho bạn sẽ gia tăng.” Với sự gia tăng này, người nghèo có thể trở nên giàu có nhờ sự phát triển nền tảng tình bạn.

***

Năm 1859, Charles Darwin xuất bản cuốn Nguồn gốc các loài. Cuốn sách gây tranh cãi đến mức vào năm 1861, Hiệp hội vì tiến bộ khoa học Anh phải dành một phần đặc biệt trong cuộc họp thường niên thảo luận về nó. Người ta trao đổi, phân tích tốt xấu, và có ý kiến gay gắt chỉ trích cuốn sách của Darwin quá nhiều lý thuyết và ông chỉ nên “đưa ra dẫn chứng và để chúng yên”. Nhà kinh tế chính trị và hoạt động xã hội Henry Fawcett - người bạn đồng thời là đồng sự của Darwin – đã viết thư cho ông sau cuộc họp, miêu tả thái độ tiếp nhận của giới khoa học với học thuyết này (Darwin thường không tham dự những sự kiện như vậy vì lý do sức khỏe yếu và bận bịu gia đình). Darwin đã trả lời Fawcett, giải thích mối quan hệ khăng khít giữa lý thuyết và thực tiễn:

Khoảng ba mươi năm trước, có nhiều tranh luận cho rằng các nhà địa chất chỉ được phép quan sát chứ không phát triển thành lý thuyết, và tôi nhớ rõ có người đã nói cứ đà này thì con người chỉ có cách xuống mồ đếm cát sỏi và mô tả màu sắc của chúng. Thật kỳ lạ nếu ai đó không thấy bất cứ quan sát nào cũng phải nhằm ủng hộ hoặc phản biện một quan điểm nào đó, nếu muốn nó có ích.

Tôi đã dùng câu nói này để minh họa trong bài báo đầu tiên viết cho cho tạp chí Scientific American, trong đó tôi phát triển nó thành một nguyên tắc mang tên Châm ngôn của Darwin, thể hiện ở ý sau cùng: bất cứ quan sát nào cũng phải nhằm ủng hộ hoặc phản biện một quan điểm nào đó, nếu muốn nó có ích.

Châm ngôn của Darwin trở thành triết lý khoa học của cuốn sách này: nếu muốn các quan sát trở nên hữu ích, chúng phải được kiểm chứng trước một quan điểm nào đó – luận đề, mô hình, giả thuyết hay kiểu mẫu. Các sự kiện không thể tự phát ngôn nên chúng cần được giải mã qua lăng kính ý tưởng, vì nhận thức dựa trên quan niệm.

Khoa học là sự kết hợp tuyệt vời giữa số liệu và lý thuyết – giữa nhận thức và quan niệm – chúng cùng nhau tạo thành nền tảng vững chắc của khoa học, công cụ mạnh nhất con người tạo ra nhằm tìm hiểu sự vận hành của thế giới. Nếu không còn tách rời lý thuyết, quan niệm với số liệu, nhận thức chúng ta sẽ đạt đến cách nhìn nhận khách quan của Archimede – nhìn bằng đôi mắt của Chúa – về bản thân và thế giới.

Trong cuốn sách này tôi sẽ phản bác một quan điểm đáng mỉa mai cho rằng Darwin và học thuyết của ông không có chỗ đứng trong lĩnh vực khoa học xã hội, đặc biệt khi nghiên cứu về hành vi xã hội và kinh tế của con người. Trong khi nhiều nhà khoa học kịch liệt phản đối việc đưa Thuyết sáng tạo hay Thuyết thiết kế thông minh vào giảng dạy trong giờ Sinh học tại các trường công, đồng thời điên đầu vì tình trạng giáo dục khoa học thảm hại và số lượng ít ỏi những người chấp nhận học thuyết của Darwin (chưa đầy một nửa dân số Mỹ tin vào sự tiến hóa của con người), hầu hết các nhà khoa học khác – chủ yếu là các nhà khoa học xã hội – đã lên án bằng tất cảm xúc mãnh liệt dành cho Đấng sáng tạo nhằm chống lại nỗ lực đưa tư tưởng tiến hóa vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội và tâm lý. Giờ đây chúng ta có thể hiểu nguyên nhân của sự phản đối này – chính sự cân bằng trong thuyết tiến hóa và các quan điểm cực đoan về di truyền đã dẫn đến những cuộc thanh sát người thiểu năng trí tuệ tại Mỹ, và khiến Đức Quốc xã tạo ra Thuyết ưu sinh - nguồn gốc của sự thảm sát người Do Thái. Do đó, các nhà khoa học xã hội sau Thế chiến II đã phản đối mọi ý tưởng dùng quan điểm tiến hóa để nghiên cứu hành vi con người, và chỉ tập trung đưa ra những giải thích thiên về văn hóa-xã hội.

Tôi cũng sẽ tranh luận về học thuyết Con người kinh tế, xem con người như những thực thể kinh tế vô cùng duy lý, có tính tư lợi và tự do ý chí luôn sống ích kỷ, chạy theo lợi ích tối đa và biết cách đưa ra lựa chọn hiệu quả. Khi quan điểm tiến hóa và các lý thuyết tâm lý học hiện đại được sử dụng để nghiên cứu hành vi con người trên thị trường, chúng ta sẽ thấy học thuyết Con người kinh tế – hòn đá tảng của kinh tế học truyền thống – thường sai lầm và thiếu thuyết phục một cách đáng tiếc. Hóa ra, con người là những sinh vật cực kỳ bất duy lý, và những cảm xúc sâu thẳm, vô thức được tiến hóa cùng thời gian vĩnh hằng chi phối con người ngang bằng (thậm chí nhiều hơn) so với những logic và lý trí hình thành trong thế giới hiện đại.

Quan điểm thứ ba tôi không đồng tình, vốn được nhà sử học người Anh Thomas Carlyle đưa ra 1849, xem kinh tế học như một “khoa học ảm đạm”. Suốt một thế kỷ rưỡi sau đó, hầu hết mọi người đều nghĩ về kinh tế học như thế, chỉ thấy nó là một lĩnh vực loay hoay trong những mô hình toán học, phân tích tài chính và xem con người về mặt lý thuyết giống như những cỗ máy cực kỳ duy lý và ích kỷ. Thực tế, khi xem xét cả ba quan điểm này, chúng ta sẽ thấy kinh tế học không hề ảm đạm. Trước hết, nó đang trải qua cuộc cách mạng vĩ đại nhất kể từ khi được Adam Smith đặt nền móng vào năm 1776 bằng tác phẩm Sự giàu có của các quốc gia. Sự giao thoa với các lĩnh vực khác đã thổi làn gió mới vào môn khoa học cũ kỹ này, hình thành nên kinh tế học tiến hóa, kinh tế học hỗn hợp, kinh tế học hành vi, kinh tế học thần kinh và một khái niệm tôi gọi là kinh tế học đạo đức. Thứ hai, quan trọng hơn, con người, các doanh nghiệp, các quốc gia luôn có mối quan tâm sâu sắc về tài chính. Về phương diện này, kinh tế học không hề ảm đạm. Hãy thử xếp hai người cấp tiến và hai người bảo thủ vào cùng một phòng, đề nghị họ tranh luận sòng phẳng về các vấn đề kinh tế như chăm sóc sức khỏe toàn cầu, tư nhân cung cấp dịch vụ công cộng, lợi – hại của vốn hỗ trợ nước ngoài, hay những ưu điểm tương đối của việc đánh thuế ngang bằng và đánh thuế lũy tiến, bạn sẽ thấy không khí tranh luận trở nên nóng bỏng chứ không hề ảm đạm.

***

Tôi đã dành ba mươi năm trong cuộc đời nghiên cứu khoa học để tìm hiểu những vẫn đề gây tranh cãi như tiến hóa, sáng thế, sự nóng lên toàn cầu, thảm sát, phân biệt chủng tộc qua chỉ số IQ, phân biệt chủng tộc trong thể thao, phân biệt giới tính qua khả năng nhận thức, những giả thuyết về âm mưu đằng sau các sự kiện Trân Châu Cảng, 11 tháng 9, vụ ám sát JFK, RFK và MLK, các loại dược phẩm thay thế và bổ sung, sự đầu thai chuyển kiếp và cả về Chúa trời, tôn giáo. Tôi nhận thấy khi bị chọc giận, kinh tế học cũng dễ xúc động không thua kém gì các khoa học khác. Nếu cần sự đánh giá khách quan về các sự việc – nhất là khi các sự việc không thể tự phát ngôn – chúng ta có thể đến với kinh tế học. Sự cần thiết nghiên cứu quy luật về hành vi con người trong kinh tế cũng giống như việc các nhà vật lý, hóa học, sinh học phải nghiên cứu các quy luật tự nhiên; và bởi kinh tế học là lĩnh vực được hầu hết mọi người dành tình cảm, khi nghiên cứu nó chúng ta phải cố gắng không chế giễu, than phiền hay khinh bỉ những hành vi của con người mà phải thấu hiểu chúng. Cho phép tôi giải thích lý do tôi bước chân vào lĩnh vực này.

Giữa những năm 1970, thời điểm mà phe tự do đang thắng thế trên lĩnh vực học thuật, tôi trở thành sinh viên Đại học Pepperdine – một trường đại học Công giáo theo khuynh hướng bảo thủ. Tôi đăng ký vào đây vì bản thân tôi theo đạo Thiên chúa giáo dòng Phúc âm, có nguyện vọng trở thành giảng viên đại học, và thần học có lẽ là lĩnh vực phù hợp nhất vì Đại học Pepperdine có Khoa Thần học rất nổi tiếng (việc ngôi trường đặt trên những ngọn đồi Malibu khổng lồ, nhìn ra Thái Bình Dương cũng không hề gì). Tôi sớm biết để trở thành tiến sỹ thần học, cần phải thành thạo bốn tử ngữ – Hebrew, Hi Lạp, Latin và Xyri. Với tôi, học tiếng Tây Ban Nha đã đủ khó khăn, thế nên sự lựa chọn nghề nghiệp này quả là không ổn. Khi các thầy cảnh báo tôi về tương lai mờ mịt của ngành thần học và cha mẹ bắt đầu lo lắng không biết sau này tôi sẽ kiếm sống bằng nghề gì, tôi quyết định chuyển sang lĩnh vực tâm lý học, nơi tôi khám phá những ngôn ngữ của khoa học và đã thành công. Thần học dựa trên những câu hỏi logic, tranh luận triết học và phản biện văn chương. Khoa học lại dựa vào những dữ liệu kinh nghiệm, phân tích thống kê và xây dựng lý thuyết. Với lối tư duy của tôi, khoa học phù hợp hơn nhiều.

Tôi biết đến kinh tế học lần đầu tiên vào năm cuối đại học, khi thấy nhiều sinh viên trong khoa Tâm lý cùng đọc một cuốn sách dày cộp mang tên Atlas nhún vai, tác phẩm của tiểu thuyết gia-triết gia Ayn Rand. Tôi chưa từng nghe tên cuốn sách cũng như tác giả, vả lại độ dài đáng sợ của nó khiến tôi nhiều tháng liền kiên quyết tránh xa bất chấp bao lời tán dương, cho đến khi sức ép xung quanh khiến tôi miễn cưỡng cầm nó lên. Khó khăn và kiên nhẫn lắm tôi mới vượt qua được mấy trăm trang đầu tiên, cũng là lúc câu chuyện về chàng trai bí ẩn dám làm ngưng động cơ của thế giới thực sự lôi cuốn tôi, khiến tôi say mê lướt qua hàng ngàn trang sách.

Giống như nhiều người, tôi đánh giá rất cao tác phẩm Atlas nhún vai. Năm 1991, Thư viện Quốc hội phối hợp với Câu lạc bộ Cuốn sách của tháng tiến hành khảo sát độc giả về những cuốn sách “tạo nên sự khác biệt” trong cuộc đời họ. Kết quả, Atlas nhún vai xếp thứ hai chỉ sau Kinh Thánh. Triết lý chủ nghĩa khách quan của Rand dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản: (1) Siêu hình luận: Thực tế khách quan; (2) Nhận thức luận: Lý lẽ; (3) Đạo đức luận: Tính tư lợi; (4) Chính trị luận: Tư bản chủ nghĩa. Cho dù giờ đây tôi không còn đồng tình với việc bà coi tính tư lợi là đặc điểm của phạm trù đạo đức (khoa học đã chỉ rõ, ngoài tính ích kỷ, bon chen, tham lam, chúng ta còn có thể di dưỡng đức vị tha, tinh thần hợp tác và nhân ái), cuốn sách của Rand thực sự đã đưa tôi đến chân trời rộng lớn của kinh doanh, thị trường và kinh tế học.

Tôi không dám chắc liệu những giá trị của kinh tế học nghiên cứu thị trường tự do và sự khắt khe về tài chính đã thuyết phục tôi tin vào tính chân xác của chúng hay do tôi có thiên hướng tương hợp với thế giới quan này. Có lẽ là cả hai, dù bạn nghĩ thế nào. Cha mẹ tôi chính là những người vô cùng khắt khe về tài chính song lại hết sức tự do về mặt xã hội. Là sản phẩm của cuộc Đại suy thoái, luôn mang trong mình nỗi ám ảnh “tái nghèo”, hai người đã bỏ dở đại học và làm việc cần mẫn cho đến cuối đời. Suốt thời thơ ấu, tâm trí tôi in hằn những nguyên tắc kinh tế khắt khe: làm việc chăm chỉ, đề cao trách nhiệm cá nhân, tính tự quyết, tự chủ về tài chính, chính quyền nhỏ gọn và thị trường tự do. Mặc dù cha mẹ tôi không hề sùng đạo (như nhiều người bảo thủ ngày nay), họ vẫn hết sức hào hiệp giúp đỡ những người kém may mắn hơn – tham lam là tốt, nhưng nhân ái còn tốt hơn.

Sau khi tốt nghiệp trường Pepperdine, tôi bắt đầu nghiên cứu sau đại học về tâm lý học thực nghiệm tại Đại học bang California, Fullerton. Lúc này, tôi đã từ bỏ niềm tin tôn giáo, trở nên say mê vẻ đẹp thế tục của thời đại Khai sáng, đắm mình trong những phương pháp nghiên cứu chặt chẽ và những chân lý nhất thời của khoa học. Nhưng hai năm huấn luyện những chú chuột để chúng nhấn vào các thanh theo đúng tần suất và cường độ của tác động, sự nhiệt tình tôi dành cho loại khoa học này ngày một hao mòn, và khao khát nghiên cứu thế giới thực càng lúc càng lớn dần. Tôi đến văn phòng tư vấn việc làm của trường và hỏi xem liệu tôi có thể làm được việc gì với tấm bằng thạc sỹ. Họ hỏi tôi: “Anh được đào tạo để làm gì?” Tôi trả lời chua chát: “Để huấn luyện chuột.” “Ngoài ra anh còn làm được gì nữa?” - họ căn vặn. “À”, tôi lục tìm trong trí nhớ, “tôi có thể nghiên cứu và viết lách.” Trong sổ giới thiệu việc làm có một công việc liên quan đến nghiên cứu và viết lách tại một tạp chí thương mại dành cho ngành công nghiệp xe đạp, thứ tôi hoàn toàn mù tịt. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là tham dự buổi họp báo do hãng Cycles Peugeout và Michelin Tires tổ chức nhằm vinh danh John Marino, tay đua chuyên nghiệp vừa phá kỷ lục đạp xe xuyên lục địa từ Los Angeles tới New York. Tình yêu thể thao lập tức bùng lên trong tôi, ngay cuối tuần đó tôi tham gia cuộc đua đầu tiên, và suốt hai năm tiếp theo tôi học hỏi về ngành xuất bản, các kiến thức kinh tế liên quan đến bán hàng, marketing và môn thể thao xe đạp. Tôi viết báo, bán quảng cáo và đạp xe tới những nơi xa nhất có thể. Cuối năm 1981, tôi rời tòa soạn, trở thành một tay đua chuyên nghiệp được nhận tài trợ của các công ty, đồng thời hưởng lương trợ giảng môn tâm lý học tại Đại học Glendale.

Một ngày vào năm 1981, sau buổi tập luyện dài, Marino kể với tôi về Andrew Galambos, một nhà vật lý đã nghỉ hưu, đang tổ chức các khóa học riêng tại Viện Doanh nghiệp Tự do, dưới vỏ bọc mang tên “khoa học lý trí”. Khóa học nhập môn có mã số V-50. Buổi học Econ 101 bàn về thị trường tự do, về thế giới mạnh mẽ, đầy sức sống, phân rõ trắng đen, trong đó Adam Smith tốt, Karl Marx xấu; sở hữu tư nhân tích cực, sở hữu tập thể tiêu cực; nền kinh tế tự do hiệu quả, nền kinh tế hỗn hợp phi hiệu quả. Khóa học này rất nổi tiếng ở quận Cam, bang California (hàng xóm của tôi ở Los Angeles thường gọi đây là “Bức màn Cam”), đây cũng là thời điểm Ronald Reagan đắc cử tổng thống và đường lối bảo thủ đang thắng thế. Trong khi Rand ủng hộ sự can thiệp có giới hạn của nhà nước, Galambos lại chủ thuyết tư nhân hóa tất cả tài sản xã hội nhằm khiến nhà nước trở nên không cần thiết và tự tiêu biến. Tài sản được Galambos phân chia thành ba loại: nguyên thủy (bản thân cuộc sống con người), sơ cấp (suy nghĩ, ý tưởng) và thứ cấp (phát sinh từ tài sản nguyên thủy và sơ cấp, ví dụ quyền sử dụng đất và hàng hóa hữu hình). Do đó, Galambos định nghĩa chủ nghĩa tư bản như “một cấu trúc xã hội có khả năng bảo vệ tất cả các loại tài sản cá nhân một cách triệt để.” Vậy là, để nhận diện một xã hội tự do thực sự, chúng ta đơn giản chỉ cần “tìm ra phương thức thích hợp để hình thành chủ nghĩa tư bản.” Trong xã hội tự do này, chúng ta đều là các nhà tư bản.

Ý tưởng của Galambos không có gì lạ lùng trong lịch sử vận động, phát triển của chủ nghĩa tự do. Bản ngã lớn giúp ông thành công trong sự nghiệp giảng dạy nhưng cũng khiến ông có những phát ngôn thổi phồng cái tôi cá nhân, như khi ông chia tất cả các ngành khoa học thành ba loại: vật lý, sinh học và “khoa học lý trí”. Trí tuệ tuyệt với có thể khiến ông đạt đến đỉnh cao sáng tạo ở nhiều lĩnh vực học thuật, nhưng cũng thường khiến ông và học viên rối tung trong mâu thuẫn, như việc chúng tôi vừa phải cam kết không tiết lộ ý tưởng của ông ra ngoài, đồng thời lại được khuyến khích mời mọc thêm học viên. (“Bạn đăng kí đi, khóa học tuyệt lắm!” “Nó nói về cái gì thế?” “Cái này thì tôi không tiết lộ được!”) Ông còn có khả năng giảng bài say sưa hàng giờ liền mà không cần nhìn tài liệu, nhưng khi hai giờ kéo dài thành ba, rồi ba lại kéo thành bốn, người nghe cũng bắt đầu phát ngấy! Nghiêm trọng nhất, lý thuyết của ông không đảm bảo yêu cầu tiên quyết của một nguyên lý kinh tế: nó quá xa rời thực tế. Những định nghĩa ông nêu ra thật hay, thật tốt, nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không thống nhất về hành vi xâm phạm quyền sở hữu? Hiển nhiên câu trả lời sẽ là: “Trong một xã hội thực sự tự do, tất cả những tranh chấp như thế sẽ được giải quyết êm thấm bằng trọng tài.” Điều có vẻ chỉ lý tưởng về mặt lý thuyết, không hơn không kém, nhưng cái tôi cần là những số liệu thu được từ các thực nghiệm xã hội được tiến hành ở thế giới thực tại.

Galambos có bảo trợ cho một nhà khoa học trẻ mang tên Jay Stuart Snelson, và tôi đã có cơ hội gặp anh ngay khi kết thúc khóa học V-50. Snelson từng giảng dạy tại Viện Doanh nghiệp Tự do, nhưng sau một trận cãi cọ với Galambos (trong hành xử xã hội, Galambos thường gây ra những sự cố như vậy, khiến Ayn Rand và các nhà tự do chủ nghĩa hàng đầu khác rất phiền lòng) Snelson tự mình lập ra Học viện vì sự tiến bộ của con người. Nhằm tránh xa Galambos và hướng đến gần kinh tế học chính thống hơn, Snelson đã dựa vào danh tiếng của Trường Kinh tế Áo, nhất là các trước tác của nhà kinh tế học người Áo nổi tiếng Ludwig von Mises. Thông qua hàng loạt các nguyên lý kinh tế và ví dụ lịch sử, Snelson đã chứng minh thị trường tự do tư bản chủ nghĩa chắc chắn là phương tiện hiệu quả nhất để thúc đẩy hòa bình, thịnh vượng, tự do và việc tư nhân hóa giáo dục, giao thông, liên lạc, y tế, an ninh và vô số lĩnh vực khác sẽ đem lại lợi ích lớn nhất cho đại đa số người dân.

Thời gian này tôi, Marino và một người bạn cùng đội đua tên là Lon Haldeman đã kinh doanh niềm đam mê đạp xe bằng cách lập ra Cuộc đua xuyên châu Mỹ – một cuộc đua xe đạp xuyên lục địa dài gần năm ngàn ki-lô-mét không nghỉ. Chúng tôi nhận được sự tài trợ từ nhiều công ty và ký hợp đồng với hãng ABC Sports. Vài lần xuất hiện trên chương trình Thế giới thể thao giúp tôi đủ nổi tiếng và tự tin mở một cửa hàng xe đạp tại Arcadia, bang California mang tên Shermer Cycles. Tôi cũng trau dồi sự nghiệp dạy học bằng cách mở các khóa học mới về Thuyết tiến hóa và Lịch sử các tư tưởng kinh tế tại Đại học Glendale.

Tôi cũng lập ra một nhóm đọc sách và thảo luận hàng tháng mang tên “Hội Mặt trăng” – đặt theo nhóm nghiên cứu nổi tiếng hồi thế kỷ XVIII Hội Mặt trăng Birmingham. Nhóm này tập trung thảo luận những cuốn sách như Hành vi con người, chính nó đã truyền cảm hứng cho tôi hướng đến mục tiêu cao cả mà tác giả Ludwig von Mises đặt ra: “Chúng ta phải tìm hiểu quy luật về hành vi con người và sự tương tác trong xã hội giống như các nhà vật lý tìm hiểu quy luật của tự nhiên”. Tôi gọi đây là Châm ngôn của Mises, đó chính là một trong hai nguyên tắc định hướng cho tư duy của tôi khi viết cuốn sách này.

Năm 1987, tôi quyết định từ bỏ những cuộc đua xe đạp để hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh, với mong muốn đem những ý tưởng của mình đóng góp cho đời. Tôi chuyển lĩnh vực nghiên cứu từ tâm lý học sang lịch sử, và năm 1991 tôi lấy được tấm bằng tiến sỹ lịch sử khoa học tại Đại học Claremont. Tôi bắt đầu giảng dạy tại Đại học Ocidental, một trường chuyên về nghệ thuật tự do, niên khóa bốn năm, tại Los Angeles. Từ đó, tôi quan tâm đến những vấn đề khoa học lớn lao hơn, đặc biệt là nguy cơ của sự phản khoa học và bất duy lý trong xã hội ngày nay. Năm 1992, cùng với Kim – vợ tôi – và họa sỹ Pat Linse, tôi thành lập Hội Hoài nghi, xuất bản tạp chí Hoài nghi, và cùng nhau tham gia giảng dạy nhiều chuyên đề tại Học viện Công nghệ California.

Phương châm của Hội Hoài nghi là kim chỉ nam thứ hai cho cuốn sách này, bắt nguồn từ bài luận của Baruch Spinoza, triết gia người Hà Lan, viết năm 1667 trước khi qua đời, Tractatus Politicus, trong đó ông giải thích phương pháp nghiên cứu những môn khoa học mang nhiều yếu tố cảm xúc như chính trị và kinh tế.

Tôi nghiên cứu đối tượng của những môn khoa học này với tinh thần tự do giống như trong toán học, tôi cần mẫn làm việc không phải để chê bai, than vãn hay lên án những hành vi của con người mà để thấu hiểu chúng; và vì thế tôi nghiên cứu những cảm xúc hỷ, nộ, ái, ố, ghen ghét, tham vọng, tiếc nuốc không phải để chứng tỏ sự đồi bại của bản chất con người mà xem chúng như những thuộc tính cố hữu của con người, giống như nóng, lạnh, sấm, chớp là bản chất của tự nhiên vậy.

Diễn đạt súc tích hơn, điều cốt lõi tác giả muốn nói là: “Tôi miệt mài nghiên cứu không phải để nhạo báng, kêu ca hay khinh bỉ những hành vi của con người, mà để hiểu được chúng.” Tôi nâng câu nói này lên thành Cách ngôn của Spinoza, coi đó là chuẩn mực cần hướng đến khi nghiên cứu các vấn đề nặng về cảm tính trong khoa học, tôn giáo và đạo đức. Điều này thể hiện rất rõ trong bộ ba tác phẩm của tôi: Vì sao con người tin những chuyện hoang đường, Cách thức của đức tin và Khoa học về Thiện và Ác. Khi nghiên cứu kinh tế học tiến hóa, tôi cũng luôn tâm niệm điều này. Vì thế, kinh tế học dành cho tất cả chúng ta.
...
Mời các bạn đón đọc Sự Tuyệt Chủng của Con Người Kinh Tế của tác giả Michael Shermer.
Đang tải bình luận...
hỗ trợ trực tuyến
Mr. Nam
0966.554.875
daotieuvu@gmail.com
Mr. Nam
dtv-ebook