DTV eBook - Thư Viện Sách Truyện Tiểu Thuyết Văn Học Miễn Phí Tải PRC/PDF/EPUB/AZW

Nhà văn của những hồi ức tàn bạo về một thời đại hủy diệt.

 

Imre Kertész là nhà văn Hungary đầu tiên và duy nhất từ trước đến nay được trao giải Nobel Văn học.

 
 

Ngoài ra, Kertész cũng từng được trao các giải thưởng như giải Văn chương Brandenburg năm 1995, giải Sách cho bạn đọc châu Âu năm 1997, giải Viện Hàn lâm Darmstadt năm 1997, giải Văn chương Thế giới năm 2000, Huy chương Goethe năm 2004... 

Năm 2002, khi trao giải Nobel Văn chương cho Kertész, Ủy ban Giải thưởng Nobel của Thụy Điển đã tôn vinh các tác phẩm của ông là “một sự nghiệp văn học nói lên trải nghiệm mỏng manh của cá nhân, đối lập với sự độc đoán tàn bạo của lịch sử”. Những tác phẩm của ông đều xoay quanh cảm thức về nạn diệt chủng. Trong đó, nổi tiếng nhất chính là tiểu thuyết đầu tay Không số phận, được ông viết trong vòng 13 năm.

Nha van cua nhung hoi uc tan bao ve mot thoi dai huy diet hinh anh 1
mua sach gia tot
Tác phẩm Không số phận.

György Köves, người kể chuyện trong tác phẩm của Imre Kertész, là một cậu bé học sinh 15 tuổi, quá đỗi ngây thơ, bị tống vào trại tập trung Holocaust trong nạn diệt chủng Do Thái do Đức quốc xã gây nên.

Theo lời khuyên của các tù nhân lớn tuổi trong trại giam, Koves tuyên bố mình là một công nhân 16 tuổi. Điều đó khiến anh ta đủ tuổi để làm công việc lao động khổ sai, cứu anh ta khỏi sự hủy diệt.

Kertesz mất 13 năm để hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay Không số phận vào năm 1965, nhưng nó không được xuất bản cho đến một thập kỷ sau đó.

Dù Kertesz khẳng định với độc giả rằng Không số phận không phải là một cuốn tự truyện về bản thân ông, nhưng tác phẩm có những điểm tương đồng mạnh mẽ với trải nghiệm của tác giả. Ở tuổi 14, khi đang đi học, Gyuri Koves, nhân vật chính của Không số phận bị bắt lên một chiếc xe kéo và bị trục xuất cùng với hàng ngàn người Do Thái ở Budapest, trước tiên đến Auschewitz và sau đó là Buchenwald.

Trong một bài phỏng vấn năm 2002 với tờ Newsweek, Kertesz đã nói: “Tôi đã trải qua những khoảnh khắc hạnh phúc tràn trề nhất trong trại tập trung”; “Bạn không thể tưởng tượng được nó như thế nào khi nằm trong bệnh viện của trại, hay có được 10 phút nghỉ ngơi giữa những giờ lao động. Để cảm thấy cái chết đang ở cận kề cũng là một loại hạnh phúc. Khi việc còn được sống sót trở thành sự tự do lớn nhất của tất cả mọi người.”

Khi chia sẻ về việc coi thời gian của mình trong các trại tập trung như một điều hạnh phúc nhất mà ông biết đến, Kertesz đã gây sốc cho những người độc giả đang tìm kiếm một câu chuyện tử vì đạo trong tác phẩm của ông. Những điều ông viết trong sách của mình sâu sắc, bí ẩn hơn nhiều.

Một người trẻ tuổi sống trong môi trường cận kề cái chết, Kertesz và bản thân nhân vật của ông đã chấp nhận cuộc sống và tìm thấy sự tự do trong chính những ngày chờ được sống, và thưởng thức những giây phút bình yên, hiếm hoi trong mỗi cuộc nghỉ ngơi. Đó là cách Kertesz đối thoại với độc giả về thảm họa khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại này.

Nha van cua nhung hoi uc tan bao ve mot thoi dai huy diet hinh anh 2
mua sach gia tot
Tác phẩm Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời.

Trong tác phẩm Kinh cầu cho một đứa trẻ không ra đời, Kertesz tiếp tục những suy tư bán tự truyện về ảnh hưởng của các trại tập trung chết chóc lên cuộc đời mình.

Ở tác phẩm này, Kertesz tiếp tục cuộc truy vấn đầy ám ảnh về số phận của con người sau nạn diệt chủng. Nhân vật chính là một nhà văn - người vừa trải qua địa ngục trần gian Auschwitz - sau những dằn vặt đau đớn, đã  quyết định không sinh con. Ông ý thức được rằng sau những gì đã trải qua sau nạn diệt chủng, mình không có quyền trao số phận Do Thái cho một con người, cho đứa con chưa ra đời của vợ chồng ông, vì những gì đã xảy ra với ông và hàng triệu thân phận Do Thái khác, có thể tái diễn bất cứ lúc nào, với bất cứ ai trong một chế độ toàn trị kiểu phát xít.     

Trại tập trung Auschwitz được ví như địa ngục trần gian thời bây giờ. Theo lời Imre Kertesz, nó tồn tại ở khắp mọi nơi. Đây cũng là một luận cứ chính trong sáng tác của Kertesz.

Với những tác phẩm mang dấu ấn đậm nét về thảm họa Holocaust, Kertesz đã thấm vấn sự điên rồ và bạo lực bất công mà Đức quốc xã đã gây ra cho cộng đồng người Do Thái trên khắp châu Âu với những hậu quả tâm lý nặng nề cho những người còn sống sót. Các tiểu thuyết của ông đều rất tinh tế trong việc khám phá cái bóng tối tồn tại một cách vô cảm trong nhân loại.

Văn chương của Kertesz cũng là loại văn chương được bao phủ bởi cảm giác của sự hủy diệt, với một bầu không khí đặc quánh hơi ngạt, với những tiếng la thét của người chết. Là một bầu không khí mà có lẽ những người không có sự trải nghiệm khủng khiếp ấy thì không bao giờ có được.

Sau trải nghiệm lò thiêu, Kertesz đã sống những ngày đen tối cùng cực. Ông trở về cuộc sống như một kẻ mộng du luôn mang trong mình một giấc mộng đeo đẳng về một lò thiêu với sự giết người điên cuồng. Là người say mê Camus ngay sau khi đọc tác phẩm Người dưng, Imre Kertesz cũng bị ám ảnh bởi những suy tưởng về tự tử, xem tự tử là việc có ý nghĩa nhất trong đời sống phi lý và vô nghĩa này.

Mặc dù bị cám dỗ bởi tự tử, nhưng Kertesz bằng cách nào đó đã kiên trì và cho đến năm 2003, trong cuốn tiểu thuyết Felszamolas, ông đã sáng tạo nên một người hùng tự sát thực sự. Kết thúc cuốn sách đó, có lẽ do bị ảnh hưởng bởi sự trầm cảm kéo dài, ông bị chuẩn đoán mắc bệnh Parkinson.

Nha van cua nhung hoi uc tan bao ve mot thoi dai huy diet hinh anh 3
Nhà văn Imre Kertesz.

Vào năm 2013, Kertesz đang trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến với bệnh Parkinson, đã nhận lời một cuộc phỏng vấn kéo dài với Paris Review tại nhà ông ở Berlin. Nhà văn mô tả chế độ Đức quốc xã “là một cái mày làm việc hiệu quả đến mức phần lớn mọi người thậm chí còn không có cơ hội để hiểu được những sự kiện họ đã trải qua”.

Khi chia sẻ về động lực viết văn của mình, ông cũng nói “Tôi đã cố gắng bày tỏ sự thật bằng một cách nào đó. Để kể một câu chuyện mà tôi không thể nói được”. Việc sống sót qua nạn Holocaust, với Kertesz cũng giống như là người duy nhất có thể nhìn thấy Gorgon, trong những cuộc chời đợi dai dẳng, và tuyệt vọng.

Viết văn, tức là ông đem mình ra để làm một nhân chứng lịch sử. Kertesz sử dụng cuộc đời mình để nghiên cứu cách thức ai đó có thể sống sót được dưới một sức mạnh hủy diệt của chế độ độc tài toàn trị.

Thủy Nguyệt - Zing.vn

  • Tác giả Phong Ngự Cửu Thu

    Tác giả này có khá ít thông tin trên mạng Internet.

     

    Sinh ngày 3/12/1979, người vùng Uy Hải, Sơn Đông. Xuất thân quân ngũ.

    Tác phẩm tiêu biểu :

    - Khí Ngự Thiên Niên

    - Tàn Bào

    - Tử Dương

    - Tham Thiên

    - Thái Huyền Chiến Ký 

  • Tác giả Karen Robards

    Tác giả Karen Robards

    Tac gia Karen Robards
     
    Karen Robards (sinh ngày 24/8/1954 tại Louisville, Kentucky, Hoa Kỳ) là một trong những tác giả viết tiểu thuyết lãng mạn lịch sử hay nhất theo bình chọn của New York Times, USA Today và Publishers Weekly với hơn bốn mươi tiểu thuyết đặc sắc được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Bà cũng là chủ nhân của nhiều giải thưởng có giá trị từ Romantic Times hay Affaire de Coeur.

    Các tác phẩm của Karen Robards đã được xuất bản tại Việt Nam:

    Nơi này trời vẫn còn xanh
    noi nay troi van con xanh

    Xinh đẹp và hấp dẫn, nàng Caroline Wetherby thường được cha dùng làm mồi nhử với mục đích lừa bịp những gã trai háo sắc trên khắp các sòng bạc nước Anh. Sau khi cha mất, nàng trốn chạy khỏi lão chủ nhà dâm ô để sang Mỹ tìm kiếm sự giúp đỡ từ chị gái.

    Ephraim Mathieson, một người đàn ông mạnh mẽ quyến rũ, người sở hữu trang trại to nhất vùng Saybrook, đã quyết định sẽ không bao giờ tái hôn sau cuộc hôn nhân mà chàng luôn cố gắng quên đi với chị gái của Caroline, Elizabeth đã mất hai năm trước.

    Sẽ thế nào nếu hai người họ, một người con gái xinh đẹp mang trong mình nỗi khiếp đảm về ái ân và một người đàn ông đầy khát vọng yêu đương nhưng thề không tái hôn gặp gỡ và yêu nhau?

    Họ có thể xóa nhòa ký ức để mở lòng và gây dựng một chân trời mới với tình yêu và hạnh phúc ngập tràn?

    Mùa hè định mệnh
    mua he dinh menh

    Mùa hè định mệnh nằm trong Top 100 tiểu thuyết lãng mạn hay nhất thế kỷ do độc giả The Romances Reader bình chọn.

    Chuyện học trò yêu cô giáo, một chuyện xưa như trái đất, nhưng không phải lúc nào cũng cũ.

    Julia yêu dấu
    julia yeu dau

    Một câu chuyện lãng mạn nhiệm màu, nơi sự chân thành đã sưởi ấm một trái tim cô đơn...

    Cuộc sống của Julia Jewel, một cô gái hành nghề móc túi ở London, bắt đầu xáo trộn khi một thanh niên giàu có trong lúc gần kề cái chết đã đưa cô vào kế hoạch làm rắc rối cho gia đình anh ta bằng một tờ hôn thú.

    Với "Julia Yêu dấu" Karen sẽ đưa bạn bước vào một câu chuyện lãng mạn nhiệm màu, nơi sự chân thành đã sưởi ấm một trái tim cô đơn...

    "Một trong những tay viết cừ khôi và tài năng của thể loại lịch sử lãng mạn trên văn đàn ngày nay... Karen Robards đã viết một thiên truyện trác tuyệt ... mang tới cho người đọc xúc cảm tột đỉnh" - Affaire de Coeur
  • Tác giả Khô Lâu Tinh Linh

    Tác giả Khô Lâu Tinh Linh
    tac gia kho lau tinh linh


    Tên thật : Vương Tiểu Lỗi

    Sinh 13/7/1987 tại Yên Đài, Sơn Đông. Hiện sống ở Thượng Hải, năm 2004 tốt nghiệp trường đại học chính trị và pháp luật Hoa Đông. Chủ yếu sáng tác theo ngôi thứ nhất, nhân vật nữ chính được phác họa sâu sắc, tính cách bất đồng, hoàn cảnh thân phận khác biệt. Từ đó dẫn đến khoảng cách, quan hệ, tình cảm giữa các nhân vật chính sinh ra quan hệ nam nữ phức tạp.

    Tác phẩm tiêu biểu :

    Thánh Đường
    Hùng Bá Thiên Hạ
    - Vũ Trang Phong Bạo
    - Giới Vương
    Cơ Động Phong Bạo
    - Hải Vương Tế
    - Tam Nhãn Diễm Tình Chú
    - Mãnh Long Quá Giang
    - Tinh Chiến Phong Bạo
  • Cuộc đời tác giả ''Hội chợ phù hoa''


    Cuộc đời tác giả ''Hội chợ phù hoa''.


    Cùng với Charles Dicken, William Makepeace Thackeray được xem như người đại diện ưu tú nhất của văn học hiện thực phê phán Anh thế kỷ XIX. Thackerey viết nhiều loại truyện, cả truyện nhi đồng và truyện lịch sử, nhưng hầu hết văn phẩm của ông đều có tính chất châm biếm, nhằm đả kích xã hội tư sản quý tộc Anh đương thời.

    Sinh thời, William Thackeray còn có một số tác phẩm được đánh giá cao về cả giá trị tư tưởng và nghệ thuật, song đến nay, nhắc đến tên tuổi Thackeray, người ta gần như chỉ nói đến "Hội chợ phù hoa". Cuốn sách được xem là một trong 5 tiểu thuyết Anh ngữ hay nhất mọi thời đại.
    William Makepeace Thackeray ebook
    Chân dung Tác giả 
    William Makepeace Thackeray

    Sinh ngày 18/7/1811 tại Calcutta, Ấn Độ, Thackeray là con đầu lòng và cũng là duy nhất của bà Anne Beccher - một hoa khôi bấy giờ và là thư ký cho Công ty Đông Ấn Độ - với ông Richmond Thackeray - lãnh đạo cao cấp của công ty này.
     
    Về gia đình, William Thackeray là người cực kỳ bất hạnh, song ông vẫn rất hài hước. Năm 1837, ông đã cho in trên tạp chí Frasers một chùm truyện hài hước và ít nhiều đã để lại ấn tượng trong bạn đọc. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của Thackeray mang đậm yếu tố trào lộng có tên “Catherine” được xuất bản trên tạp chí Frasers từ tháng 5/1839 tới tháng 2/1840.
     
    Năm 1840, Thackeray cho ấn hành tập sách du ký "Tập ký họa thành Paris" và 3 năm sau là "Tập ký họa xứ Ailen". Cả hai cuốn sách đều ít nhiều thu hút độc giả. Trên đà thắng lợi, năm 1844, Thackeray cho xuất bản tiểu thuyết "May mắn của Barry Lyndon", một cuốn sách biếm họa chân dung một kẻ bình dân cố tìm mọi cách để "đánh đu" được vào tầng lớp quý phái. Cuốn tiểu thuyết đã nhận được những ý kiến trái chiều. Người khen cũng nhiều mà kẻ chê cũng lắm. Tất cả những điều ấy đã khiến Thackeray trở nên một nhân vật khiến giới phê bình lúc bấy giờ không thể không "để mắt" tới.
     
    hoi cho phu hoa phim
    Một cảnh trong bộ phim “Hội chợ phù hoa” được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Thackeray.

    Thackeray tiếp tục đánh động lòng tự ái của giới quý tộc hợm hĩnh bằng cuốn "Truyện về các trưởng giả học làm sang người Anh do một người trong bọn kể lại" vào năm 1846. Tuy nhiên, đây mới chỉ là tập hợp các bài tiểu luận đả kích những thói "rởm đời" phát triển tràn lan trong xã hội Anh thời ấy. Phải đến khi tiểu thuyết "Hội chợ phù hoa" ra đời năm 1847, sự bực bội của giới quý tộc Anh dành cho Thackeray mới chuyển sang đỉnh điểm, trở thành sự ác cảm, thù hận.
     
    Được coi là một trong 5 tiểu thuyết Anh ngữ hay nhất mọi thời đại, "Hội chợ phù hoa" là câu chuyện về thiếu nữ Rebecca Sharp, có cha là một họa sĩ đàng điếm, mẹ là một vũ nữ, song cùng với nhan sắc trời cho và sự lanh lợi khôn ngoan, đã từng bước luồn sâu, leo cao vào đời sống của giới thượng lưu, thậm chí còn được yết kiến cả Hoàng đế Giorge Đệ tứ. Nhưng rồi, chính tham vọng khôn cùng đã làm hại cô ta. Người đàn bà nhiều xảo thuật kết cục đã bị chính giới thượng lưu ruồng rẫy, khiến cô ta ngày càng lún sâu vào vũng bùn trụy lạc… Thông qua chuyện đời của người đàn bà này, Thackeray muốn lên án cái xã hội mà ở đó, nhiều chân giá trị đã bị đảo lộn…
     
    hoi cho phu hoa ebook
    Tác phẩm “Hội chợ phù hoa” là một trong 5 tiểu thuyết Anh ngữ hay nhất mọi thời đại.

    Tuy nhiên, Thackeray không chỉ làm một việc là phê phán, mà ông vẫn ca ngợi những tình cảm cao quý như tình cảm gia đình, bạn bè và lòng chung thủy... Đứng trước những cảnh đời xấu xa, ông vẫn không mất hết lòng tin đối với bản chất tốt đẹp của con người.
     
    "Hội chợ phù hoa" là bộ sách được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt và không ngừng chinh phục các thế hệ độc giả. Bộ sách cũng đã nhiều lần được dựng thành phim và luôn nằm trong danh mục 50 cuốn sách đáng đọc nhất trong văn học thế giới từ trước tới nay. “Hội chợ phù hoa” đã đưa ông lên ngang tầm với những nhà văn hiện thực ưu tú nhất của thế giới như Dickens, Balzac...
     
    Là một nhà văn trung thành với thể loại trào phúng, nhưng bút pháp của tác giả không đơn điệu mà rất uyển chuyển, lời văn có khi mộc mạc, giản dị, có lúc tinh tế cầu kỳ, có khi sôi nổi, nhiệt tình, có lúc lạnh lùng khách quan, có khi đẹp đẽ thanh tao, nhưng cũng có lúc thô bạo, tàn nhẫn... Có thể nói, khi mổ xẻ những ung nhọt của xã hội, ông có cái táo bạo, lạnh lùng của nhà giải phẫu, nhưng trong những đoạn văn trữ tình, ông cũng có cái nâng niu, tinh tế của người tỉa lá trồng hoa.
     
    Sau “Hội chợ phù hoa”, William Thackeray tiếp tục cho ra đời những cuốn tiểu thuyết lớn như Pendennis, Gia đình Newcome, và Henry Esmond… Với một loạt các tác phẩm được xếp vào hàng kinh điển, William Makepeace Thackeray được tôn vinh là người đại diện ưu tú của văn học Anh thế kỷ XIX.
     
    William Thackeray mất ngày 24/12/1863, ở tuổi 52. Để tưởng nhớ ông, người ta đã tạc tượng ông và đặt tại tu viện Westminster.

    Phương Dung - Baotintuc.vn
  • Tác giả Hốt Nhiên Chi Gian

    Tác giả Hốt Nhiên Chi Gian

     
    Thích dùng những từ ngữ đơn giản, mượt mà để biểu đạt nội tâm với những cảm xúc mãnh liệt, ngòi bút và lối viết của cô như bày ra trước mắt chúng ta những câu chuyện tràn ngập ấm áp và hạnh phúc, khiến chúng ta thêm quý trọng những gì mình đang có.
     
    Các tác phẩm tiêu biểu đã được BachvietBooks xuất bản:
     
    - Mờ ám
     (Xuất bản Quý II/2011)
     
    - Chỉ yêu cây kẹo bông nhỏ (Xuất bản Quý I/2012)
     
    - Sự dịu dàng chết tiệt (Xuất bản Quý I/2013), tên bản dịch mạng: Sự dịu dàng đáng ghét
     
    - Xem như anh lợi hại, đồ xấu xa! (Xuất bản Quý I/2014)
  • Phóng vấn Nhà văn đạt giải Nobel Kazuo Ishiguro - Dựa trên những tựa sách yêu thích


    Phỏng vấn Nhà văn đạt giải Nobel Kazuo Ishiguro - Dựa trên những tựa sách yêu thích.

     

    Nhà văn nổi tiếng, với tác phẩm mới nhất là The Buried Giant, luôn bị ám ảnh bởi Sherlock Holmes khi còn nhỏ. “Tôi sẽ đến trường và nói những câu đại loại như ‘Pray, be seated’ (tạm dịch: Mời ngồi) hay ‘That is most singular’ (tạm dịch: Trường hợp này thật cá biệt). Khi ấy, mọi người chỉ dè bìu gốc gác Nhật Bản của tôi.”[1]

     
     


     

    Những cuốn sách nào hiện đang nằm trên kệ sách của ông?

    Tôi vẫn thường xuyên giải thích cho vợ mình, rằng mỗi cuốn sách ở bên cạnh giường tôi là một phần trong các dự án quan trọng, và bà ấy tuyệt đối không nên dọn chúng đi chỗ khác. Chẳng hạn, một trong số đó là dự án Homer, trong đó Stephen Mitchell dịch lại hai sử thi kinh điển Iliad và Odyssey. Tôi đã hoàn thành cuốn Iliad, nhưng nó sẽ phải ở đúng nơi cho đến khi tôi đọc xong cả Odyssey.

    Những phiên bản mới này không có quá nhiều chi tiết, và chất trữ tình cũng kém hơn so với các bản dịch tuyệt vời của Giáo sư Robert Fagles nhưng cảm xúc vẫn ẩn hiện trong lời văn. Dưới hai cuốn sách này, tôi cũng có cuốn The Mighty Dead: Why Homer Matters của Adam Nicolson, mà rốt cuộc thì tôi có thể đọc hoặc là không. Ngoài ra, tôi cũng có dự án cho dòng sách Southern Gothic – gồm The Heart is a Lonely Hunter của Carson McCullers và Wise Bloodcủa Flannery O’Connor, cả hai đều là những sách tôi chưa từng đọc. Trên cùng của kệ sách là Joni Mitchell in Her Own Words: Conversations With Malka Marom. Thật kỳ lạ, khi ngày một già đi, tôi lại thấy mình ngày càng yêu mến Mitchell nhiều hơn (trái ngược với cảm xúc của tôi với hầu hết các ca sĩ kiêm nhạc sĩ của thập niên 70).

    Các album như Hejira và Blue giờ đây không thể phủ nhận là nghệ thuật tuyệt vời, và không phải viện đến nỗi nhớ quá khứ xa xưa để trở nên như vậy. Nhưng Mitchell luôn là một điều bí ẩn đối với tôi, và tôi hy vọng cuốn sách này sẽ đầy những sự mặc khải im lặng.

    Ai là tiểu thuyết gia yêu thích nhất của ông?

    Charlotte Brontë mới đây đã vượt lên trước Fyodor Dostoyevsky. Khi tôi bắt đầu đọc lại sách cũ ở độ tuổi trưởng thành, tôi ít kiên nhẫn hơn với tình cảm của Dostoyevsky, và (theo tôi) những đoạn lan man ngẫu hứng nên được chỉnh sửa cắt bớt. Tuy nhiên, chứng điên rồ của ông trở nên sâu rộng và sâu sắc, khiến người ta bắt đầu nghi ngờ đó là một điều kiện phổ quát. Còn với Brontë, tôi nợ bà sự nghiệp của tôi, và rất nhiều thứ khác nhờ có Jane Eyre và Villette.

    Những cuốn sách nào có thể khiến tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy trên kệ sách của ông?


    mua sach gia tot

    Tôi có một phần trên kệ dành riêng cho sách phương Tây. Tập trung vào huyền thoại về biên giới trong ký ức chung của nước Mỹ, từ lâu tôi đã rất bối rối vì sự miễn cưỡng của cộng đồng văn học Mỹ để thực lòng tôn vinh thể loại này. Tôi cảm nhận sự căng thẳng, trốn tránh và tự ý thức bất cứ khi nào chủ đề này trong các cuộc nói chuyện. Có phải vì thế mà người phương Tây dường như sở hữu rất nhiều rạp chiếu phim? Hay là còn có một mối lo lắng sâu xa hơn về lãnh thổ mà họ sẽ chiếm đóng mà không tránh khỏi? Trên kệ sách của tôi, bạn có thể thấy True Grit; The Ox-Bow Incident; Blood Meridian (kiệt tác); Lonesome Dove (có lẽ cũng là kiệt tác); Deadwood; Butcher’s Crossing; St. Agnes’ Stand; Riders of the Purple Sage; và nhiều cuốn sách khác. Tất cả đều là những các tiểu thuyết thực sự hay. Nhưng đừng nói với tôi về The Virginian. Hai chương đầu tiên thì tuyệt thật, nhưng từ đó trở đi lại khá nghèo nàn.

    Ngoài tiểu thuyết, ông còn sáng tác nhạc jazz. Ông sẽ so sánh việc viết văn với viết nhạc jazz như thế nào? Và ông có tiểu thuyết yêu thích nào về nhạc jazz không?

    Dạo này tôi chỉ viết lời bài hát. Nghệ sĩ nhạc jazz Jim Tomlinson mới là người biên soạn và phối khí, và chúng tôi cùng nhau sáng tác bài hát cho ca sĩ nhạc jazz tuyệt vời Stacey Kent. Nhưng tôi đã viết bài hát từ năm 15 tuổi, và đối với tôi, luôn luôn có sự chồng chéo rất lớn giữa tiểu thuyết và bài hát. Phong cách viết tiểu thuyết của tôi xuất phát từ những gì tôi đã học được khi sáng tác bài hát. Chẳng hạn như tính chất “thân mật” của một ca sĩ biểu diễn khi trước một khán giả đã được tôi đưa vào tiểu thuyết. Cũng như nhu cầu được tiếp cận ý nghĩa cách tinh tế, đôi khi bằng cách chạm vào nó giữa các dòng chữ. Đó là điều bạn luôn phải làm trong suốt thời gian viết lời cho ai đó hát.

    sach phia nam bien gioi phia tay mat troi haruki murakami

    mua sach phia nam bien gioi phia tay mat troi haruki murakami gia re

     

    Tôi chưa bao giờ đọc một tiểu thuyết nào thực sự hay về nhạc jazz. Thử nghiệm của Kerouac theo định hướng này không ổn lắm. Nhưng những tiểu thuyết như South of the Border, West of the Sun (tựa Việt: Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời) của Murakami dường như thể hiện tinh thần nhạc jazz; đọc cuốn sách ấy cũng tựa như lắng nghe một bản jazz ballad buồn lúc đêm. Theo tôi, có ba bộ phim xuất sắc về nhạc jazz: Round Midnight của Tavernier, Bird của Eastwood và tác phẩm bị đánh giá thấp của Cassavetes – Too Late Blues, về những nhạc sĩ thất bại thảm hại vào cuối những năm 1950 ở California.

    Cuốn sách gần nhất đã khiến ông bật cười khi đọc?

    Love in a Cold Climate của Nancy Mitford. Quả rất buồn cười, nhưng cũng đầy tăm tối.

    Vậy còn cuốn sách gần nhất đã làm ông phải khóc?

    Các vở kịch của Terence Rattigan, cụ thể là The Browning Version, After the Dance, Flare Path và The Winslow Boy. Mỗi vở đều có ít nhất một khoảnh khắc cực kỳ cảm động, và cảm xúc luôn luôn được nhận thấy cách trọn vẹn. Chúng không bao giờ thất bại trong khiến tôi ngấn lệ, dù là đọc sách hay xem trình diễn trên sân khấu.

    Ông là kiểu độc giả nào khi còn nhỏ? Cuốn sách và nhân vật yêu thích nhất của ông là gì?

    Giống như nhiều cậu nhóc trẻ tuổi khác, tôi hầu như không đọc bất cứ cuốn sách nào – mãi cho đến khi tôi khám phá ra những câu chuyện về Sherlock Holmes trong thư viện. Lúc đó tôi khoảng 9 hoặc 10 tuổi, và tôi không chỉ đọc về Holmes và Watson cách ám ảnh, tôi bắt đầu cư xử giống như họ. Tôi sẽ đến trường và nói những câu đại loại như ‘Pray, be seated’ hay ‘That is most singular’. Khi ấy, mọi người chỉ dè bìu gốc gác Nhật Bản của tôi.”

    Hound of the Baskervilles, đã từng, và vẫn sẽ là câu chuyện về Holmes yêu thích của tôi. Nó đáng sợ và đã khiến tôi có những đêm không ngủ, nhưng tôi ngờ rằng mình bị cuốn vào thế giới của Conan Doyle, khá nghịch lý, là bởi vì nó rất ấm cúng.

    Ông cảm thấy thế nào khi chứng kiến sách của mình được chuyển thể thành phim? Nếu được chọn một trong những cuốn sách khác để chuyển thể, đó sẽ là gì?

    mua sach gia tot

    Thật quá đỗi hài lòng khi tận mắt chứng kiến một đội ngũ tài năng và tận tâm để chuyển thể những ý tưởng lộn xộn trong trí tưởng tượng của bạn thành một bộ phim hoàn thiện. Tác phẩm chuyển thể của The Remains of the Day và Never Let Me Go (tựa Việt: Mãi đừng xa tôi)đều là những trải nghiệm hoàn toàn tích cực, và tôi đã học được tất cả những điều tôi không biết về các nhân vật – đặc biệt là từ các hdiễn giải của diễn viên. Đôi khi, tôi có những phản đối không được hợp lý cho lắm khi một hình ảnh cụ thể không khớp với suy nghĩ trong đầu tôi: “Thôi nào, anh đã dựng căn phòng hoàn toàn sai rồi! Làm thế nào anh có thể cho rằng cánh cửa là nằm ở phía đó cơ chứ?” Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng những bộ phim này là bản dịch của tác phẩm của tôi, theo cách như bản dịch tiếng Pháp. Tôi có thể thấy đội ngũ chuyển thể đã làm việc độc lập với tác phẩm của tôi; dù là “anh em họ hàng”, nhưng vẫn riêng biệt.


    mua sach gia tot

    Trong những cuốn sách chưa được chuyển thể của mình, tôi thực sự muốn xem tiểu thuyết mới nhất, The Buried Giant (tựa Việt: Người khổng lồ ngủ quên), trên màn hình. Nó có thể là một bộ phim về samurai kiêm chuyện tình, theo kiểu người Anh. Nhà sản xuất phim Scott Rudin giờ đây đã có quyền, vì vậy tôi có lý do để lạc quan.

    “Đáng thất vọng, bị đánh giá quá cao, đơn giản là không tốt”: Ông có cuốn sách đáng lẽ phải yêu thích nhưng rốt cuộc thì không? Ông còn nhớ lần cuối cùng mình đặt sách xuống mà không buồn kết thúc nó?

    Tôi không muốn nói ra bất kỳ nhan đề nào cả. Nhưng có quá nhiều cuốn sách đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ bạn bè, đồng nghiệp hoặc giáo sư cũ của tác giả. Chúng ta cần phải kêu gọi chấm dứt những trích dẫn cá nhân. Đó là tham nhũng và chủ nghĩa thân hữu. Nó đánh lừa người đọc, và ngăn chặn sự chú ý khỏi những cuốn sách thực sự hay.

    Nếu ông có thể yêu cầu Thủ tướng Anh đọc một cuốn sách, nó sẽ cuốn nào?


    mua sach gia tot

    Tôi muốn gợi ý cho Thủ tướng Anh cuốn Red or Dead, tiểu thuyết điên rồ của David Peace về một huấn luyện viên bóng đá trong đời thực, Bill Shankly. (Màu Đỏ/The Red ở đây không đề cập đến Chủ nghĩa Cộng sản, nhưng là màu sắc của Câu lạc bộ bóng đá Liverpool). Cuốn tiểu thuyết này khá điên rồ, nhưng cũng rất rực rỡ, và là một tượng đài cho sự quyến rũ tuyệt vời đã từng là cốt lõi của cuộc sống ở Anh, nhưng giờ đây đang nhanh chóng lui dần.

    Có cuốn sách nào chưa được viết mà ông muốn đọc?

    Cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Jane Austen, viết về sự trưởng thành, khám phá điều gì xảy ra với tình yêu vượt ra ngoài những lời tán tỉnh và lễ cưới.

    Những cuốn sách nào mà ông đã đọc đi đọc lại nhiều lần?

    mua sach gia tot

    Tôi thường không đọc lại toàn bộ cuốn sách, thậm chí cả với những cuốn tôi yêu thích. Nhưng tôi vẫn tiếp tục quay lại với một số truyện ngắn, theo cái cách mà tôi quay lại với những bản nhạc yêu thích. Rock Springs của Richard Ford (câu chuyện thực); Ionych của Chekhov, Tell Me Who to Kill của V. S Naipaul; tuyển tập Fires của Raymond Carver; The Clicking of Cuthbert của P. G. Wodehouse; Silver Blaze của Conan Doyle và vở In the Shadow of the Glencủa John Millington Synge.

    Ông thấy xấu hổ khi chưa đọc những cuốn sách nào?

    Danh sách này quá dài. Một ứng cử viên mới cho Cuốn Sách Không Đọc Khiến Tôi Đáng Xấu Hổ xuất hiện vài ngày một lần, tùy thuộc vào những gì đang được nói trước mặt tôi. Tuần này: Catch-22.

    Ông có kế hoạch gì đọc cuốn sách nào tiếp theo?


    mua sach gia tot

    Vợ tôi đã không ngừng nói với tôi về việc đọc tiểu thuyết đầu tay – The Girl in the Red Coatcủa Kate Hamer. (Đừng nhầm lẫn nó với một vài tựa sách cũng bắt đầu bằng “The Girl … gần đây). Khi vợ tôi đọc nó, tôi đã nhận thấy bà ấy không hoàn toàn là chính mình. Bà ấy nói rằng nó thật phiền não đến mức bà ấy muốn dừng lại, nhưng sau đó lại chẳng thể ngừng đọc. Giờ thì tôi phải tìm hiểu xem vợ mình có bị bệnh hay không.

    Kim Phụng (bookaholic.vn -Theo NYTimes)

    ——————————

    [1] ‘Pray, be seated’ và ‘ This is most singular’ là những câu nói trong Sherlock Holmes, sau này trở thành đặc trưng của người Anh.

  • Vũ Bằng và mối ưu tâm đặc biệt với văn hóa tâm linh

     

    Vũ Bằng và mối ưu tâm đặc biệt với văn hóa tâm linh.

     

    Là nhà văn, nhà báo hiện diện trên văn đàn Việt Nam từ những năm ba mươi của thế kỉ XX, Vũ Bằng quan tâm đặc biệt đến văn hoá dân tộc. Sự ảnh hưởng của văn hoá dân tộc truyền thống – trong đó có văn hoá tâm linh – đến đời sống tinh thần của nhà văn thể hiện ở cách nghĩ, cách nhìn và cách phản ánh của ông về vấn đề văn hoá truyền thống và về cuộc đời, số phận con người.

     
     

    Văn hoá tâm linh trong sáng tác của Vũ Bằng vừa khẳng định những truyền thống quý báu về ý thức, niềm tin, lối sống và lòng nhân ái của dân tộc, vừa nhắc nhở người đọc sống tốt, sống có đạo lí và sống có ý nghĩa.

    1. Sự ảnh hưởng của văn hoá tâm linh trong tình yêu văn hoá truyền thống của Vũ Bằng

    Tình yêu văn hoá dân tộc nồng nhiệt, sâu đậm của Vũ Bằng thể hiện ở nhãn quan văn hoá đa dạng, ở những kỉ niệm về văn hoá được lưu giữ trong kí ức. Với ông, văn hoá được biểu hiện ở những lĩnh vực cụ thể và sống động. Đó là cảnh sắc thiên nhiên của đất nước, những lễ hội thường niên,những phong tục tập quán lâu đời,nền ẩm thực đa dạng và những thú chơi tao nhã của người đam mê cái đẹp… Đặc biệt, khi viết về đền chùa, lễ hội và phong tục, nhà văn cho thấy ông chịu ảnh hưởng khá sâu sắc văn hoá tâm linh của dân tộc.

    Đền chùa và những lễ hội thường niên

    Trân trọng cội nguồn sâu thẳm của văn hoá với những giá trị nhân văn sâu sắc, Vũ Bằng quan tâm đến những di tích đền đài, chùa chiền. Đó là những công trình nghệ thuật kiến trúc mà nghệ nhân thời xưa đã lưu lại ở các địa phương bằng trí tuệ, tâm hồn, tài năng của họ; cũng là những vật thể nuôi giữ giá trị thẩm mỹ và tâm linh, mang tính huyền thoại. Trong Thương nhớ mười hai, Mơ về một cuộc chọi trâu, Hội Lim, Hội Lim đã mất, Vũ Bằng viết về những đền chùa cổ kính ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc được khách thập phương đặt niềm tin như đền Ngọc Sơn, Quán Thánh, Hàng Trống, Quan Phước, chùa Quán Sứ, Dâu, Kim Cổ, Trấn Quốc, Bà Đá, Liên, Trầm, Hương, Vua, đình Thiên Hương, Ủng… Đó là những nơi thờ Phật hay thờ thần thánh gắn với những hội lễ mang tính thiêng liêng và gắn với ước mơ hoà bình, an lạc của dân tộc.

    bong ma nha me hoat

    mua sach bong ma nha me hoat gia re

    Sự phong phú của các lễ hội ở miền Bắc từ đầu năm cho đến cuối năm, từ lễ chùa, lễ Phật đến lễ tiên tổ ông bà được Vũ Bằng mô tả tường tận trong Thương nhớ Mười hai. Riêng về lễ tết hàng năm, có Tết Nguyên đán, tết Hàn Thực, tết Đoan Ngọ, tết Trung Thu, tết Trùng cửu… tuần tự diễn ra theo thời gian. Sau lễ là hội, từ hội tế thần, tế thánh, rước thần đến hội rước vía và những cuộc thi, trò vui, trò diễn dân gian như hát ví, đánh cờ người, cờ bỏi, đấu vật, chọi gà, chọi cá… diễn ra khắp các địa phương. Kể ra các lễ hội với các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian, tôn giáo và các sinh hoạt tập thể, Vũ Bằng đề cao nếp sống cộng đồng, ý thức về tổ tiên, nguồn cội cao cả của người Việt Nam, đồng thời khẳng định sự quan trọng của đời sống tâm linh người Việt với mong muốn được giao cảm với thế giới siêu nhiên và đặt niềm tin vào thần thánh do họ tưởng tượng ra.

    Chịu ảnh hưởng tín ngưỡng tâm linh của dân tộc, Vũ Bằng cho rằng các lễ hội còn có ý nghĩa “thanh lọc tâm hồn”, khiến “lòng nhẹ thênh thênh quên hẳn tục luỵ”. Văn hoálễ hội là một nét riêng của Vũ Bằng so với các nhà văn viết về đề tài văn hoákhác.

    Những phong tục dân tộc

    Phong tục làng quê cổ truyền thể hiện sức sống và bản sắc dân tộc của làng xã Việt Nam. Theo Vũ Ngọc Khánh, “tâm lý hướng về cội nguồn, tự hào về dòng giống của mình là tâm lý chung của tất cả các dân tộc trên trái đất này” (1). Lớn lên ở vùng đất của những đền chùa, tín ngưỡng, lại sống trong môi trường gia đình với những người phụ nữ giàu đức tin, Vũ Bằng thấm nhuần ý thức cội nguồn qua những tập tục đã thành nề nếp, thể thức của dân tộc.

    Từ tập tục thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Việt, nhà văn cho thấy ý thức về cội nguồn của dân tộc ta không chỉ là “tự hào về dòng giống của mình” mà đó còn là lòng biết ơn tổ tiên, ông bà – một đạo lý làm người. Thể hiện đạo lý làm người, những người đi trước, những người trong mối quan hệ gắn bó lại nhắc nhở nhau giữ gìn, vun bồi cho những hành động hợp lẽ với đạo đức truyền thống của ông cha. Họ “lấy tâm tư mà nói chuyện với nhau, lấy đạo lý mà khuyên bảo, dạy dỗ nhau cách nào cho vẹn đạo làm người, chớ có thấy giàu mà ham, chớ vì sang mà bỏ nghĩa, chớ vì cầu an mà làm tôi mọi cho người ngoài” (2).

    Có nhiều sinh hoạt cụ thể gắn bó với phong tục như chuyện kiêng kỵ trong tín ngưỡng, cưới xin, ăn uống… Nhớ về quê hương, về văn hoá dân tộc, nhà văn Vũ Bằng đặc biệt nhớ đến những phong tục, tập quán gắn liền với tín ngưỡng của dân tộc. Tín ngưỡng cũng là một dấu ấn về văn hoá trong tâm thức làng quê của người Việt từ bao đời. “Đó là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo” (3). Đó là một niềm tin có phần huyền bí mà rất cụ thể, có phần thiết thực mà rất thiêng liêng. Những vấn đề của phong tục dân gian như nếp sống, sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tâm linh… là những điều bình thường trong cuộc sống người Việt.

    Mơ về những cái Tết xa xưa với những anh em văn nghệ tiền chiến, Chén trà đầu xuân, Ngoảnh lại trông xuân, Tranh gà tranh lợn với ngày Tết Việt Nam…là những hồi ức về tết dân tộc của Vũ Bằng. Viết về tết dân tộc, nhà văn đồng thời cũng kể đến những phong tục gắn với niềm tin và ước muốn tốt đẹp đã trở thành thói quen của nhân dân ngày tếtnhư tục viết câu đối dán ở cột trước cửa và ngoài sân, mua trầm để đốt trên bàn thờ, treo tranh gà lợn trên tường, thăm mộ gia tiên nội ngoại, trồng nêu, vẽ vôi bột, gói bánh chưng, dọn cửa lau nhà, chúc tụng nhau ngày tết…

    Nêu ý nghĩa của một số phong tục, nhà văn thể hiện quan niệm rất mới và có giá trị về mối quan hệ giữa phong tục với dân tộc, gia đình. Về tục thờ cúng ông Táo và tiễn đưa ông Táo về trời, theo ông, nó“chứng tỏ rằng người mình lúc ấy đã tổ chức thành gia đình nhỏ, mà cái bếp của ông Táo là tượng trưng cho gia đình, cái bếp là đơn vị nhỏ nhất của xã hội. Cái gia đình ấy, cái đơn vị ấy đồng nhất từ Bắc vào Nam cho nên không có kẻ nào chia rẽ được Nam với Bắc” (4). ÔngTáo ở Bắclên chầu trời “cưỡi một con cá chép”, ông Táo ở Trung “cưỡi một con ngựa yên cương chĩnh chạc”, còn ông Táo trong Nam thì được đồng bào “cúng một cặp giò – cặp hia để cho ông đi lên Thiên Đình cho lẹ”. Dù Bắc hay Nam, dù tiễn ông Táo về trời bằng hình thức nào, người Việt Nam vẫn hiểu rõ giá trị của mái ấm gia đình. Trong cuộc sống hiện đại, khi bữa cơm gia đình ngày càng thiếu vắng, chúng ta càng trân trọng những suy nghĩ có ý nghĩa về tổ ấm của nhà văn.

    Các tập tục mà nhà văn kể ra thể hiện những phần sâu kín trong tâm hồn con người, gắn với tâm linh nhưng lại thiết thực, cụ thể. Người miền Nam có tục xin xăm, “xin một quẻ thẻ đầu năm để biết kiết hung”. Người Việt Nam có tục cầu trời khấn Phật, “xin các sức huyền bí viện trợ cho mình”. Mọi nhà làm lễ cúng bái,tháng bảy đại lễ Vu Lan bồn, xá tội vong nhânở nơi âm phủ cho những người quá cố…“Trông vào một Đấng Tối Cao trong cõi vô hình”, theo Vũ Bằng, niềm tin của ông cha phát xuất từ nhu cầu thực tế về sự tồn tại, bình yên: “Từ bao nhiêu đời nay tổ tiên mình, rồi đến ông cha mình tin tưởng, rồi đến mình đây tin tưởng…” (5).

    Về những phong tục gắn với những kiêng kỵ, nhất là những kiêng kỵ ngày tết, nhà văn nói đến việc kiêng cữ chửi mèo mắng chó, “không được quét nhà vì sợ đuổi thần tài ra cửa, không được đánh vỡ chén bát để tránh đổ vỡ suốt năm, không được khâu vá vì kim chỉ tượng trưng cho công việc làm ăn vất vả” (6). Kiêng gọi tên con khỉ, con chó, con lợnvì sợnói đến tên chúng thì không may mắn; kiêng nói đến tên “cầy” trước khi cúng bái cày, kiêng viết lách trước khi làm lễ khai bút; kiêng buôn bán hàng trước khi làm lễ tiên sư ở quầy hàng,…Tất cả những tục kiêng cữ ấy đều xuất phát từ nguyện vọng có được cuộc sống tốt đẹp, như ý. Với ông, những phong tục, kiêng cữ ấy có ý nghĩa “chứng tỏ tính chất đồng nhất của xã hội”.

    Am hiểu tường tận những biểu hiện của văn hoá trong đời sống dân tộc, với nhà văn, những thói quen đã thành nếp, đã ăn sâu vào đời sống xã hội của mọi người không phải là sự cả tin mù quáng đáng phê phán mà là những mong muốn, ước ao đáng trân trọng: “Cứ tin như thế, người ta thấy đời đẹp hơn, đáng yêu hơn”(7). Tất cả cho thấy mối quan hệmật thiết giữa con người với cuộc sống vật chất và với đời sống tinh thần.

    tac gia vu bang

    2. Sự ảnh hưởng của văn hoá tâm linh trong quan niệm về số phận con người của Vũ Bằng

    Vấn đề số phận con người đã được văn học phương Tây quan tâm từ thuở xa xưa,khi con người còn trong bộ áo nửa thần nửa người. Số phận con người trong thần thoại chịu sự chi phối của định mệnh.

    Trong văn học Việt Nam, vấn đề số phận con người đã từng được đặt ra… Vũ Bằng viết tiếp về số phận con người gắn với suy nghĩ về nghề nghiệp, linh hồn, thế giới bên kia, luật nhânquả, trả vay… Theo ông, sống chết, bệnh tật, tai nạn, thành công hay thất bại… “tất cả đều quay trong một cái vòng tròn mà “số mệnh” là trung điểm” (8). Trong mạch suy tư về con người của Vũ Bằng thì những suy tư về con người trong sự đặt định của số phận xuất phát từ một nhân tâm hướng thiện và thể hiện những chiêm nghiệm của ông về đời người mà nguồn gốc sâu xa là từ sự ảnh hưởng đời sống tâm linh của dân tộc.

    Quan niệm nghề là nghiệp dĩ

    Vũ Bằng là nhà văn và cũng là nhà báo. Ông đến với nghiệp văn, nghiệp báo bắt đầu từ sự yêu thích, say mê từ thuở nhỏ… Vũ Bằng trải lòng: “Nếu quả viết văn là dại, tôi cứ muốn dại cho tới khi nhắm mắt và sang đến kiếp sau vẫn cứ dại luôn!” (9). Đây là một quan niệm, một thái độ quyết liệt sống chết với nghề, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù thế nào chăng nữa cũng chẳng đổi thay.

    Đối với nghề văn hay nghề báo, Vũ Bằng đều xem đó là nghiệp nhưng không phải trong ý nghĩa làmột cái nghề làm ăn, sinh sống. Đúng là trong nhiều năm của cuộc đời, bằng việc viết văn, làm báo, ông đã nuôi sống được vợ con. Nhưng ông đã không xem điều đó là trọng. Hơn nữa, nhìn cả cuộc đời say mê và cống hiến cho báo chí, văn chương của ông, không thể nói nhà văn chỉ xem đó là nghề kiếm sống. Vũ Bằng nói đến nghề văn nghề báo với ý nghĩa nghiệp dĩ – vốn đã như thế rồi, có nghĩa là phần hoạ phúc, sướng khổ của nghề dành riêng cho cuộc đời mỗi người đã được định đoạt từ trước. Đây cũng là quan niệm của nhiều nhà văn cùng thời với ông. Tam Ích, trong bức thư cuối cùng gửi cho Vũ Bằng trước khi chết, khẳng định: “Đối với tôi, văn chương là cái nghiệp. Đã là cái nghiệp thì phải trả” (10).

    Vũ Bằng cũng từng nhắc đến những nhà văn như Trần Huyền Trân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Khổng Dương, Cuồng Sỹ… dù nghèo khổ nhưng vẫn không bỏ nghề văn bút để đi làm nghề khác. Với họ, đã mang lấy nghiệp vào thân thì dù vui buồn, sướng khổ thế nào cũng phải đón lấy hoặc gánh chịu. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng quan niệm nghiệp dĩ của các nhà văn lại xuất phát từ lòng yêu nghềcủa họ. Nói rõ hơn, từ lòng yêu nghề, gắn bó lâu dài với nghề mà các nhà văn, nhà báo đã xem đó là nghiệp dĩ.

    Một cách nghĩ khác của Vũ Bằng và nhiều bạn văn của ông là gắn bó với nghề văn, nghề báo còn vì họ là “những người bị tiền oan nghiệp chướng,… nên bị đày đoạ xuống trần để trả cho xong nợ”(11). Dù quan niệm thế nào thì ta vẫn thấy rõ họ đã cột chặt đời mình vào văn chương, chấp nhận vướng víu với văn chương, xem như mắc nợ và phải trả món nợ văn chương.

    Sự lý giải về nghề nghiệp theo quan niệm đạo Phật, mang tính duy tâm của Vũ Bằng cho thấy với ông, nghề văn và nghề báo là cái nghiệp đeo đẳng ông từ kiếp này đến kiếp khác, là sự an bài của số mệnh. Quan niệm của nhà văn có tính chất duy tâm khi nhắc đến nghiệp dĩ, nghiệp chướng nhưng hoàn toàn xuất phát từ thực tế. Nói cách khác, trong quan niệm của Vũ Bằng, yếu tố hiện thực làm nền cho tư duy mang tính chất tâm linh. Điều đó cho thấy nhà văn chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng, tinh thần của ông cha trong văn hoá truyền thống. Tất nhiên, cuộc đời hoạt động báo chí, văn chương và sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng do chính ông định đoạt. Nhưng cũng từ quan niệm của nhà văn, ta nhận ra ông yêu nghề tha thiết, gắn bó sâu sắc với nghề, sống chết với nghề và xem nó như là một phần của đời người (ở kiếp này và cả kiếp sau). Chính vì vậy mà chúng ta trân trọng biết bao sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng nói riêng và của các nhà văn nói chung.

    Quan niệm linh hồn và kiếp sau

    Đời sống tâm linh là phần sâu lắng trong tâm hồn con người, khó mà giải đáp theo khoa học. Đó là sự tiếp cận với một thế giới thiêng liêng, huyền ảo, có phần mơ hồ nhưng lại cụ thể, thậm chí trở nên gần gũi, tạo cho con người có một niềm tin huyền bí nhưng thiết thực trong cảm nghiệm – đi tìm chỗ dựa ở những giá trị đã ổn định trong quá khứ. Con người tìm đến một thế lực linh thiêng để cầu mong được an ủi và phò trợ. Trong đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam, trời, chúa, phật, thần linh, thành hoàng và tổ tiên là những đấng tối cao mà người dân có thể tìm đến.

    Ngoài tín ngưỡng thành hoàng và tổ tiên, Vũ Bằng và gia đình chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Theo Vũ Ngọc Khánh, “trước khi Nho giáo trở thành quốc giáo, nước ta đã đi theo Phật giáo, tiếp thu đạo Phật cùng với những tín ngưỡng bản địa, để có riêng một cách sống, một cách ứng xử trong gia đình cũng như trong xã hội” (12). Trong đời sống của người Việt Nam, nhiều biểu hiện tinh thần, tâm hồn, sinh hoạt… có gốc từ Phật giáo. Vũ Bằng tin có những đấng tối cao trong cõi sống vô hình nên khi viếng chùa thì khấn vái, “cúi đầu trước khói nhang thắp lung linh khắp các bàn thờ, trong khắp các động và lầm thầm khấn vái đức Phật từ bi cứu vớt chúng sinh chìm đắm trong ta bà thế giới” (13). Ông mang niềm tin về đấng tối cao đầy quyền năng huyền bí, có thể giúp con người thoát khỏi tình trạng nguy khốn hay tuyệt vọng.

    Vũ Bằng đã từng khẳng định ông vẫn đeo mang nghiệp làm văn, làm báo ở kiếp sau, kiếp có khả năng “trở lại làm người”. Quan niệm con người có linh hồn, có kiếp sau của nhà văn chịu ảnh hưởng từ đạo Phật. Theo thuyết luân hồi của nhà Phật, chết ở kiếp này sẽ lại sinh ra ở kiếp khác, trong một thể xác khác; kiếp trước và kiếp sau có quan hệ nhân quả với nhau, cứ quay vòng mãi mãi như vậy. Vũ Bằng tin ở những điều thuộc về tâm linh. Ông cho rằng vạn vật có tâm hồn. Quan niệm vạn vật đều có linh hồn của người xưa có nguồn gốc từ sự sợ hãi vì không hiểu, không giải thích được và không khống chế được tự nhiên. Quan niệm vạn vật có tâm hồn của Vũ Bằng xuất phát từ tấm lòng nhân ái và từ niềm tin về sự hướng thiện.

    Vũ Bằng tin người chết có linh hồn, tin người cô ở nơi suối vàng dõi theo và phù hộ cho ông, tin các linh hồn lang thang trong cõi hư vô, đến ngày lễ Vu Lan cùng tìm lại mà phối hưởng những phẩm vật của người trần gian. Người cha trong truyện ngắn Đợi con đã nghĩ đếnlinh hồntrong niềm mong mỏi che chở cho con: “Nếu quả người ta chết mà linh hồn vẫn sống, con ơi, ba sẽ luôn luôn ở bên con để phù hộ cho con” (14).

    Tiểu thuyết thứ bảy số 11-1949 ra mục Tân truyền kỳ mạn lục với mục đích “đánh bạo theo cổ nhân tìm cách thoát ra khỏi cuộc đời trong chốc lát và cũng thử ghi lại một ít sự kiện tâm lý và khả năng đạo đức trong đời này”.Báo cũng nêu rõ: “Những chuyện chúng tôi đăng trong mục này sẽ sưu tập những linh kỳ, truyền thuyết từ ải Nam Quan đến vụng Cà Mau vào chính cái hội mà chúng ta đương sống hiện nay – kể từ lúc dân ta bị khủng bố về những thảm trạng máu sông, xương núi”(15). Cây hoa hiên bên bờ sông Na của Vũ Bằng là truyện đầu tiên được in trong mục này. Và từ đó, những truyện kỳ lạ viết theo phong cách tân truyền kỳ mạn lục như Đám cưới hai u hồn ở chùa DâuBát cơmNgười làm mả vợ , tập truyện ký Cái đèn lồngBảy đêm huyền thoại, Những kẻ gieo gió, truyện dài Bóng ma nhà mệ Hoát là những sáng tác mà trong đó, Vũ Bằng thể hiện rõ quan niệm về linh hồn, về con người ở cõi âm. Đó là những truyện được viết theo lối huyền thoại, vừa có yếu tố tâm linh, vừa mang yếu tố hiện thực, mang tính chất bí ẩn khoa học dường như chưa lí giải được và có khi còn được xem là truyện ma quái. Nó là tiếng nói riêng của Vũ Bằng về những điều kỳ bí của thế giới tâm linh.

    Người thiếu phụ trong Bát cơm mặc dù được đối đãi cực tốt ở thiên đình sau khi chết nhưng lại luôn đau buồn, khóc lócvì thương chồng con còn khổ ở trần gian. Được “trời chiều lòng”, linh hồn nàng đã “về hạ giới để gặp chồng con, hằng đêm vỗ về an ủi chồng con”. Rồi chồng và con bị bom ném chết, ba cái vong lại được sứ giả dắt về trời… Và dù đã được ở trên thiên đình, họ vẫn quan tâm đến sự đói no của các chiến sĩ ở trần gian.

    Trong Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu, linh hồn của cô gái tên Chi sau khi bị máy bay giặc bắn chết, đã đi tìm người yêu tên Thạch. Biết Thạch bị thương và chết ở chiến khu D, Sư Phổ Giác, người trụ trì chùa Dâu, đã lập một đàn tràng để chiêu hồn Thạch, giúp Thạch và Chi tái ngộ và làm đám cưới cho hai u hồn.

    Bảy đêm huyền thoại là bảy câu chuyện huyền thoại được liên kết bằng một câu chuyện bên ngoài miêu tả cuộc sống thời kỳ kháng chiến chống Pháp của những người kể chuyện. Nhà văn hướng vào những chuyện kỳ bí của thế giới linh hồn người chết và quan tâm đến những cái ám ảnh vô thường của đời sống nhân sinh. Đó là hồn của một ông lão tiều phu đêm đêm hiện về với “tiếng khóc não nề” vì hối hận đã làm điều có tội (Cây tỳ bà với gió tương tư). Đó là “cái hồn không tiêu tan được của Đông Du”,người đã hy sinh trong một trận đánh ác liệt, hoá ra một loài chim biết kêu tiếng người (Quý Ly, đền tội đi!). Đó là hồn những nho sĩ hiện lên “vịnh thơ, làm phú, ca ngâm” mỗi khi có tết nhất, hội hè (Nước vối Cầu Tiên)… Kể lại những câu chuyện liên quan đến sự ẩn hiện của các linh hồn, nhà văn bộc lộ suy nghĩ rằng các linh hồn tồn tại là các linh hồn không được siêu thoát, hoặc còn căm tức điều gì, hoặc còn tiếc nuối điều gì, hoặc còn quyến luyến điều gì…

    Tuy viết về những điều vẫn đang còn là một sự thách đố đối với khoa học nhưng rõ ràng Vũ Bằng đã xây dựng nhiều huyền thoại trên một cái nền hiện thực là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

    Qua những câu chuyện thể hiện đời sống tâm linh của con người, nhà văn Vũ Bằng còn cho thấy tình cảm yêu thương gắn bó giữa những người sống và người chết. Giữa hai thế giới còn có sợi dây tình cảm ràng buộc lấy nhau. Nói đến linh hồn, kiếp sau cũng là một cách ông nhắc nhở con người biết tu dưỡng, sống tốt đẹp. Vũ Bằng không nói cao siêu về đức bác ái, từ bi của đạo Phật, mà nói giản dị, gần gũi về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống hàng ngày.

    Quan niệm gieo hành động gặt số phận

    Theo quan niệm của đạo Phật và theo quan niệm của người Việt Nam nói chung, nguyên nhân có từ kiếp trước tạo ra kết quả ở kiếp sau và ngược lại, kết quả ở kiếp sau là do nguyên nhân từ kiếp trước. Đó cũng là một lẽ báo ứng, một cách định đoạt những phúc, tội của con người. Trong rất nhiều truyện, Vũ Bằng đã thể hiện niềm tin có quả báo, trừng phạt, tiền oan nghiệp chướng, âm phù dương trợ, luân hồi.

    Bóng ma nhà mệ Hoát, Cái đèn lồng, Cái cóng thuốc của Hàn lang, Đường mòn Tôn Điền Tùng cương, tập truyện Những kẻ gieo gió… là những truyện báo oán được nhà văn viết lại từ những câu chuyện được nghe kể, được phóng tác, được đăng tải trên báo chí… Đó là những truyện hầu như khoa học chưa lí giải được nhưng nhằm chứng minh cho thuyết quả báo của nhà Phật. Cái chết không toàn thây của sĩ quan người Nhật Tô Ku Bê (trong Bóng ma nhà mệ Hoát) là cái chết bị hồn linh báo oán. Tô Ku Bê đã hại đời cháu gái mệ Hoát, đã cho xe chở cổ ngoạn mệ Hoát đi và phá nát bao nhiêu cổ vật không chở hết được. Thế nên, ông ta phải gánh chịu cái chết đầy oán thù. Cái chết của ba người bạn chí thân – giai nhân Giáng Tiên, cùng nàng nữ tì và vợ của chàng Đại Thông Thái Lang (trong Cái đèn lồng) – đều là những cái chết đau thương, tức tưởi do bị báo oán bởi những hồn ma của những người ngày xưa đã bị họ hại chết. Cái chết của Hàn Lang (trong Cái cóng thuốc của Hàn Lang) là do sáu người bạn bị chết oan bởi lời tố cáo của chàng (tố cáo họ làm cách mạng để lãnh thưởng) báo oán. Trong tập truyện Những kẻ gieo gió, hai mươi hai truyện tập trung vào đề tài báo oán – làm ác thì nhận quả ác báo, gieo gió thì gặt bão.

    Những truyện về đề tài luật nhân quả của Vũ Bằng còn có ý nghĩa lên án cái xấu, cái ác. Trong đó có những truyện bộc lộ rất rõ dụng ý luân lý “dĩ oán báo oán, oán ấy chất chồng” nhằm nhắc nhở, cảnh tỉnh con người đừng sa chân vào tội ác (theo ngoại bang hãm hại đồng bào, tham tiền mất hết lương tri…), kẻo nhận lấy những hậu quả đau đớn khôn lường, bị trừng phạt bởi luật nhân quả.

    Trong nhiều truyện, tác giả cũng thể hiện luân lý“dĩ đức báo oán, oán ấy tiêu tan”nhằm nhắn nhủ con người hướng theo cái tốt, làm điều thiện. Khi con người biết tu nhân tích đức thì mọi oán cừu sẽ được xoá bỏ. Hồn ma người vợ của Hàn Lang (Cái cóng thuốc của Hàn Lang) tin rằng “nếu cứ theo dõi được Hàn Lang mà che chở và khuyên chàng làm được điều âm đức thì rồi cũng hưởng lấy cái phúc của chồng”(16). Sự hối hận (đi tu và làm việc nhân đức, cứu người, giúp đời suốt hai mươi năm trời) của vị lão tăng về một quá khứ đầy tội lỗi (thông dâm với vợ của chủ nhân rồi giết chủ nhân) đã giúp lão tăng ấy xoá hết được nợ với đời (Đường mòn Tôn Điền Tùng Cương).

    Truyện Vũ Bằng nhắc nhở người của thế hệ trước tu dưỡng, làm việc, ăn ở tốt đẹp để lưu lại kết quả cho thế hệ sau. Đây là một quan niệm, một ý thức văn hoá của phương Đông, của Việt Nam. Người Việt không chỉ sống cho mình, cho hiện tại, mà còn sống cho con cháu, cho tương lai.

    Từ những chiêm nghiệm về cuộc đời con người, về cuộc sống xô bồ mênh mang những buồn vui, thua được, Vũ Bằng đã nghĩ về kiếp làm người bằng tấm lòng nhân hậu của một nhà văn có trách nhiệm, có lương tâm.

    Tuy nhiên, ngoài Bóng ma nhà mệ Hoát, những truyện kỳ ảo của Vũ Bằng vẫn còn thiếu sự dụng công về mặt ngôn từ, dựng truyện và xây dựng tính cách nhân vật.

    Mặc dù vậy, sáng tác của Vũ Bằng cũng góp một phần có giá trị vào mảng truyện kỳ ảo, truyện truyền kỳ như là một dòng mạch liên tục trong lịch sử văn học Việt Nam. Bởi lẽ, từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, các nhà văn Thế Lữ, Tchya, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân… đã được xem là những nhà văn liêu trai khi viết loại truyện kỳ dị, “xây dựng nên một nhánh riêng của văn xuôi thời cận hiện đại”. Sau một thời gian dài, loại truyện mang màu sắc kỳ ảo vắng bóng trên văn đàn, đến cuối những năm tám mươi, Nguyễn Huy Thiệp, Ngô Văn Phú, Lưu Minh Sơn… đã đạt được thành công với những truyện có “sự trở về của yếu tố kì ảo”.

    _________________

    1,12. Vũ Ngọc Khánh, Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.352, 319.
    2, 13. Vũ Bằng, Tuyển tập Vũ Bằng, Tập 2, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000, tr.27, 50.
    3. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb.Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004, tr.234.
    10. Vũ Bằng, Mười chín chân dung nhà văn cùng thời, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.6.
    4,5,6,7,8,9,11. Vũ Bằng, Tuyển tập Vũ Bằng, Tập3, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000, tr.286, 273, 307, 311, 451, 758, 754.
    14.Vũ Bằng, Truyện ngắn, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.294.
    15.Tiểu thuyết thứ bảy, số 11-1949, tr.5.
    16. Vũ Bằng, Những kẻ gieo gió, Tập 1, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2003, tr.196.

    BÓNG MA NHÀ MỆ HOÁT
    Tác giả: Vũ Bằng
    Nhà xuất bản: Hội nhà văn
    Số trang: 247
    Kích thước: 14 x 20,5
    Ngày phát hành: 10-12-2016
    Giá bìa: 60.000đ

  • Erle Stanley Gardner - Một trụ cột trong nền trinh thám cổ điển Anh-Mỹ

     

    Erle Stanley Gardner - Một trụ cột trong nền trinh thám cổ điển Anh-Mỹ.

     

    Erle Stanley Gardner sinh năm 1889 tại Malden, Massachusetts. Vì cha ông là một chuyên viên đào vàng nên ông phải đi theo đến các vùng khắc nghiệt suốt từ Klondike đến California.

     
     

    Là một gã con trai khỏe mạnh và hay gây gổ, ông đã tự tham dự một số cuộc đấu quyền anh nhà nghề được nhiều giải thưởng cho đến khi ông bị kẹt trong một vụ đấu bất hợp pháp và bị đưa ra trước pháp lý. Kinh nghiệm liên quan đến luật pháp này đã thúc đẩy ông trở thành một luật sư, và trong một thời gian ngắn làm việc ngày đêm, ông đã được chấp nhận là thành viên của Tòa án California khi ông vừa đúng 21 tuổi.
    erle stanley gardner sach ebook
    Nhưng những ước vọng phiêu lưu của Gardner đã không thích hợp với đời sống bận rộn của một luật sư Tòa án, “Quá nhiều vụ án đến với tôi và tôi thấy mình chôn chân một chỗ” ông nói - “Vì vậy bên cạnh đó, tôi viết văn”.

    Năm đầu tiên ông kiếm được 974 đô-la, năm thứ năm là 6.627 đô-la.

    Trước khi ý thức được rằng ông đã tiến tới vị trí phải lựa chọn giữa viết văn và Luật pháp, ông đã bỏ ngành Luật pháp.

    Trong năm 1932 Gardner kiếm được 20.525 đô-la. Rồi sau chuyến đi Trung Quốc về, ông bắt đầu chăm chú viết nhiêu hơn, và kết quả là hai quyển sách đã được xuất bản vào năm đầu: Vụ án cô gái hay hờn dỗi (The Case of the Sulky Girl) và Vụ án móng vuốt bọc nhung (The Case of the Velvet Claws).

    Ngày nay các tác phẩm của Gardner rất được ưa chuộng tại Hoa Kỳ. Tất cả các ấn bản tổng cộng lại trên một triệu cuốn hàng năm. Sách của ông được in ra mười thứ tiếng và hầu như đều được dịch ra chữ Braille dùng cho người mù.

    Ông mất năm 1970.

    Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại.
    - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại.

    - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake.

    - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe ChistieHarold RobbinsBarbara Cartland và Louis L’amour
    ***
    Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám, được ghi nhận, được dịch ra 37 thứ tiếng và có gần 350 triệu bản. Ông đã tạo nên nhân vật truyền kỳ là luật sư Perry Mason, cô thư ký Della Street và viên thám tử tài ba Paul Drake. Ở Mỹ sách của ông rất được ưa chuộng, hàng năm có trên 1 triệu bản được bán ra.

    Với bút pháp tuyệt vời, nhuần nhuyễn, các tác phẩm của ông được kết cấu chặt chẽ, có lô-gic và sự kiện diễn ra dồn dập nhưng không rối rắm, luôn hấp dẫn người đọc và dẫn dắt người đọc đi từ trang đầu đến trang cuối.

    Truyện trinh thám của ông là loại truyện không bạo lực và tình cảm ướt át. Những cuốn truyện của ông là sự sắp xếp các sự kiện sao cho hợp lô-gíc, và tất cả hành động suy đoán của ông là sự sắp xếp các sự kiện đó theo trình tự sự việc và trình tự thời gian. Từ sự không hợp lí của các hiện tượng, sự kiện mà ông tìm ra được sự lí giải và dẫn đến tìm ra thủ phạm, như hiện tượng cây nến nghiêng (trong The Case of the Crooked Candle); con cá vàng (trong The Case of the Screaming Woman); cái ô đẫm nước (trong The Case of the Velvet Claws)...

    Bên cạnh đó còn có sự đấu trí của luật sư Perry Mason, có sự giúp đỡ của cô thư kí Della Street với một bên là cảnh sát, biện lý để tìm ra tội phạm đích thực.
     
    sach ebook trinh tham hay nhat
    ***
    Các tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam.Theo dữ liệu trong thư viện quốc gia và ảnh chụp đếm được 28 tiểu thuyết của Erle Stanley Gardner in ở VN (trong tổng số 82 quyển):
    1. Bí ẩn vụ song sinh, Nxb Tổng hợp Bình Định, 1990
    2. Món đồ chơi chết người, Nxb. Hà Nội, 1991
    3. Lá thư buộc tội, Nxb Tổng hợp Bình Định, 1990 (có tái bản)
    4. Cô gái có vết bầm trên mắt, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1989 (có tái bản)
    5. Kẻ hùn vốn, Nxb Khoa học xã hội, 1990.
    6. Vụ án hoa hậu áo tắm, Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1990
    7. Người tình lười, Nxb. Đồng Nai, 1989
    8. Tiếng chó tru trong đêm, Nxb Công an nhân dân, 2001. (Bản khác: Ván bài liều của luật sư Perry Mason)
    9. Người được minh oan (Người đàn bà ngái ngủ), Nxb Công an nhân dân, 1995
    10. Người đàn bà đáng sợ, Nxb Công an nhân dân, 2004
    11. Nụ hôn thần chết, Nxb Công an nhân dân, 2000
    12. Kẻ mạo danh, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1991. 
    13. Mười tám năm sau (hay Con vịt chết chìm), Nxb Văn nghệ TP HCM, 1988 (Nxb. Hội Nhà văn, 2001)
    14. Viên đạn thứ hai, Nxb Thanh Hóa, 1993 
    15. Cháu gái người mộng du, Nxb Đồng Nai, 1988
    16. Trước lễ tân hôn, Nxb Đồng Nai, 1988
    17. Nàng thuỷ quái vô tâm, Nxb Quân đội nhân dân, 1991
    18. Con búp bê im lặng (Con búp bê luân lạc), Nxb Công an nhân dân, 1991
    19. Con mồi táo bạo, Nxb Sông Bé, 1991.
    20. Cây nến nghiêng, Nxb Công an nhân dân, 1995
    21. Nhân chứng một mắt, Nxb Pháp Lý, 1987
    22. Người đàn bà đáng ngờ, Nxb Pháp Lý
    23. Bóng người trong đêm, Nxb Đồng Nai, 1990
    24. Vị giám mục nói lắp, Nxb Đà Nẵng, 1991
    25. Kẻ giết người đội lốt, NXB Công an nhân dân, 2002
    26. Bàn tay băng giá, Nxb Mũi Cà Mau, 1991
    27. Đôi tất nhung, NXB Văn học
    28. Cô gái bụi đời, Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2001
Đang tải bình luận...